Tư Liệu về Thầy Nguyễn Khắc Dương
Tiểu sử thân phụ của Nguyễn Khắc Dương
Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1888-1954) là một đại thần triều Nguyễn, nguyên Thượng thư Bộ Lễ, Phủ doăn Thừa Thiên, Tổng đốc Thanh Hóa.
* Nguyễn Khắc Niêm sinh năm 1888 tại làng Gôi Vị, nay là xă Sơn Ḥa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ nhỏ Nguyễn Khắc Niêm đă thông minh tuấn tú hơn người.
* Năm 1906, ông thi đậu cử nhân, trường thi Nghệ An.
* Năm 1907, ông thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp)[1], khoa thi đ́nh Đinh Mùi, tại Huế.
* Khi thi đỗ đại khoa, được cùng các vị tiến sĩ đồng khoa triều kiến vua Thành Thái, nhà vua đề nghị mỗi vị hăy góp kế sách để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đă đọc 4 câu.
Tôn tộc đại quy
Tôn lộc đại nguy
Tôn tài đại thịnh
Tôn nịnh đại suy.
* (Trần Đại Vinh đă tạm dịch:
Tôn trọng ṇi giống ắt đại ḥa hợp
Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan
Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh
Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong.)
* Ông được bổ nhiệm làm giám khảo khoa thi Hội năm 1910 ở Huế, thi Hương năm 1912 ở B́nh Định. Năm 1920, ông được bổ nhiệm đốc học Nghệ An, đảm trách việc tổ chức các trường học Pháp Việt ở Nghệ An.
* Sau đó ông được điều về kinh đô giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, hai lần giữ chức tham tri, hai lần giữ chức Phủ Doăn phủ Thừa Thiên và Thượng thư Bộ Lễ- triều đ́nh Huế.
* Tháng 8/1941 là quyền Tổng đốc Thanh Hóa.
* Tháng 2/1942, ông từ quan về quê dạy học.
* Sau năm 1945,ông tích cực tham gia công tác tại địa phương từ Hội đồng nhân dân xă, ủy ban pḥng vệ huyện Hương Sơn, Ban văn hóa tỉnh Hà Tĩnh, ủy viên chấp hành Mặt trận Liên Việt, kiêm trưởng ban cứu trợ thương binh Liên khu 4.
* Năm 1952, ông được chính phủ mời ra Việt Bắc họp hội nghị Liên Việt Trung ương, nhưng v́ sức khỏe yếu không đi được.
* Trong cuộc cải cách ruộng đất, ông bị đấu tố, bắt giam và mất tại quê nhà năm 1954.
Gia đ́nh
Các con của cụ đều là những người thành đạt, có công lớn với dân tộc Việt Nam .
* Nguyễn Khắc Viện: Bác sĩ y khoa, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam .
* Nguyễn Khắc Dương: Giáo sư, Tiến sĩ thần học, từng là trưởng khoa Triết học Viện Đại học Đà Lạt [1], [2].
* Nguyễn Khắc Phê: Nhà văn, Chủ tịch Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên-Huế, phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên-Huế [3].
* Nguyễn Khắc Phi: Giáo sư văn học, giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Vinh [4].
* Nguyễn Thị Phương Thảo: Dược sĩ, từng là Trưởng ban nghiên cứu và Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa V & khóa VI.
Nguồn: wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Kh%E1%BA%AFc_D%C6%B0%C6%A1ng
VÀI NÉT TIỂU SỬ THẦY STÊPHANÔ THẾ TÂM NGUYỄN KHẮC DƯƠNG
- Sinh ngày: 24/9/1925 (Ất Sửu) tại Bệnh viện thành phố Vinh, Nghệ An.
- Nguyên quán: Làng Thịnh Xá, xă An Ấp, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Thân phụ: Nguyễn Khắc Niêm – Nhà nho, đỗ Hoàng giáp lúc 19 tuổi, làm quan đến hàm Thượng thư.
- Thân mẫu: Đoàn Thị Viên (Kế thất), quê làng Đức Nhuận, tổng Cát Ngạn, Thanh Chương, Nghệ An.
-1938: Tốt nghiệp tiểu học. Vào học trung học tại trường Thiên Hựu Huế. Đây là trường tư thục Công Giáo do các linh mục hội Thừa sai Paris điều khiển. Biến cố này có thể được xem như mở đầu cho cuộc trở lại đạo Công Giáo sau này. Có cảm t́nh hơn với Đức Giêsu qua các linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris và đặc biệt qua các tác phẩm của Pascal.
- 6/1944: Đỗ Tú tài I (chương tŕnh Pháp)
- 9/1944: Học triết tại trường Khải Định, Huế.
- 3/1945: Đảo chính Nhật (chính phủ Trần Trọng Kim), chưa thể thi tú tài II. Về quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh giúp việc cứu đói (Ất Dậu) tại làng Thịnh Xá.
- 8/1945: Cách mạng Việt Minh. Tham gia Thanh niên Cứu Quốc, thư kư Uỷ ban Hành Chánh xă Mỹ Hoà (Hương Sơn). Gia nhập Đội tuyên truyền xung phong tĩnh Hà Tĩnh.
- 1946: Đau dạ dày nặng, xin nghỉ hoạt động về quê chữa bệnh.
- 6/1946: Vào Huế để dọn thi Tú tài II. Trọ học tại Chùa Linh Quang, thụ giáo hai vị cao tăng là sư trụ tŕ Thủ và sư Mật Thể.
- 9/1946: Đỗ tú tài II. Định ở lại Huế dạy Việt văn cho lớp Trung cấp chuẩn tu sinh Phật Giáo (tương tự như tiểu chủng viện) tại Chùa Bảo Quốc với ư định sẽ đầu Phật xuất gia.
- 10/1946: Gia đ́nh gọi về quê v́ anh ruột bị bệnh lao phổi khó qua khỏi. Đành ở lại quê nhà, không trở lại Huế như nguyện ước.
- 1946 – 1948: Làm giáo viên dạy môn Việt Văn tại trường Trung học tư thục Công Giáo Đậu Quang Lĩnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Sống và tiếp xúc thân mật với bà con giáo dân giáo xứ Nghĩa Yên và Thọ Ninh.
- 1947: Anh ruột từ trần.
- 1948: Về quê (Hương Sơn). Dạy Việt văn tại trường trung học Hương Sơn (toạ lạc tại làng Tứ Mỹ, gần giáo xứ Đông Tràng). Càng ngày càng hoà đồng vào môi trường sinh hoạt của một cộng đồng Công Giáo, kể cả việc tham dự vào các giờ Phụng vụ. Do gia đ́nh thúc bách hỏi vợ (để có cháu nối dơi tông đường) – Dạm hỏi vợ - Ốm nặng và tư tưởng xuất thế một ngày một thôi thúc khẩn thiết nên cuối cùng lại từ hôn.
- 09/01/1949: Lănh nhận bí tích Thánh Tẩy tại thánh đường giáo xứ Nghĩa Yên, giáo phận Vinh. Linh mục rửa tội: Cha xứ Nghĩa Yên, Nguyễn Trọng Bang. Linh mục dâng lễ: Cha Phúc, cha xứ Yên Nhiên. Cha đỡ đầu: linh mục Vương Đ́nh Ái.
- Mùa thu 1949: Nghỉ dạy học ở Hương Sơn. Gia nhập ḍng thánh Phanxicô tại Vinh.
- 1950: Vào nhà tập.
- 1951: Khấn tạm, vào học tại học viện của ḍng ở Nha Trang.
- 4/1954: Bị động viên vào quân đội Việt Nam Cộng Ḥa, học tại trường sỹ quan trù bị Thủ Đức.
- 10/1954: Được điều động lên Buôn Mê Thuột với cấp bậc thiếu úy.
- 7/1956: Hết quân dịch, giải ngũ. Trở lại ḍng ở Nha Trang tiếp tục học thần học tại học viện của ḍng.
- 9/1956: Được nhà ḍng gửi đi học Thần học tại học viện của ḍng ở Orsay (ven thủ đô Paris).
- 1957: V́ lư do sức khoẻ phải rời ḍng Phanxicô. Theo lời khuyên của các linh mục ḍng Phanxicô, ở lại Pháp ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne.
- 1960: Tốt nghiệp cử nhân triết học Đại học Sorbonne.
- 1960 – 1963: Dạy triết học tại một số trường trung học tư thục Công Giáo vùng ven thủ đô Paris. Ghi danh làm tiến sỹ Đệ tam cấp Văn khoa, đồng thời t́m hiểu ḍng tu Cát Minh và ḍng Thánh Thể.
- Cuối 1963: Xin gia nhập ḍng Cát Minh nhưng không được chấp nhận v́ lư do sức khoẻ. Xin gia nhập và được chấp nhận làm thỉnh sinh tại tu viện Biển Đức St Dodon tại Miền Bắc nước Pháp. Được gửi sang lớp chuẩn tập sinh tại Le Bouveret là Ḍng Mẹ ở Thuỵ Sỹ.
- 1964: Chứng đau dạ dày tái phát, rời ḍng Bouveret trở về nước Pháp, dạy học triết như các năm trước.
- 1965: Trở về Việt Nam (chưa hoàn thành luận án tiến sỹ triết).
Dạy học tại lớp triết (chương tŕnh Pháp) tại trường nữ Trung học tư thục Công Giáo do các nữ tu ḍng St Phaolô phụ trách. Hoạt động trong hội Pax Romana (Tri thức Công Giáo) tại Sài G̣n.
- 1966 - 1975: Làm giáo sư dạy triết học tại Đại học Văn Khoa Đà Lạt. Thỉnh giảng tại Đại học Văn khoa Sài G̣n và Huế. Làm trưởng Ban triết học và quyền trưởng Khoa Văn Đại học Đà Lạt.
- 1975: Miền Nam giải phóng, Viện đại học tư thục Công Giáo Việt Nam bị giải thể.
- 24/4/1975: Học tập bắt buộc tại trại cải tạo sỹ quan chế độ cũ Sông Mao thuộc Quân khu 5.
- 25/8/1976: Hết hạn học tập.
- 1976 – 11/1978: Sống tại Đà Lạt bằng nghề trồng trọt.
- Cuối 1977: Được ra Hà Nội thăm gia đ́nh.
- 01/11/1978 – 01/11/1980: Làm cán bộ trí vận Mặt trận tổ quốc tỉnh Lâm Đồng.
- 1981 -1985: Làm cán bộ ở Ủy ban khoa học kỹ thuật Đà Lạt. Làm giáo sư thỉnh giảng một số tiết học tại đại học Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Huế và Hà Nội về đề tài: Triết học Tây Phương và giới thiệu về Kitô giáo.
- 1985 - 1996: Nghỉ hưu ở Đà Lạt. Viết hồi kư. Dạy học và thuyết tŕnh tại nhiều nơi.
- 03/5/1986: Hoàn tất hồi kư.
- 1996 – 2002: Tạm trú dài hạn tại Tu hội Bác Ái B́nh Triệu. Dạy triết học cho một số nhóm đại chủng sinh và tu sinh học viện các ḍng tạm thời bị giải tán.
- 11/2002 đến nay (2010): Về Huế cư ngụ tại nhà người em ruột. Làm giáo sư thỉnh giảng môn Triết học và Tâm lư học tại các Đại chủng viện ở Huế (Xuân Bích), Vinh (Vinh Thanh) và các học viện thuộc các ḍng tu. ...
Nguồn http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3546
NGUYỄN KHẮC DƯƠNG - NGƯỜI T̀M M̀NH QUA NHỮNG XUNG ĐỘT VĂN HÓA
1.
Tôi biết Nguyễn Khắc Dương vào năm 1982, nhân một chuyến đi công tác với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện vào Quảng Nam . Nghỉ một đêm ở Huế, sáng hôm sau lên đường th́ thấy trên xe có thêm một người khách lạ. Bác Viện giới thiệu: chú Dương nhà tôi, đi nhờ xe đến Đà Nẵng. Rồi ông quay xuống chỗ chúng tôi, hạ giọng: tôi đă gàn, nhưng chú Dương c̣n gàn gấp mấy! Tôi chưa hiểu chữ "gàn" ông dùng ở đây theo nghĩa nào. Khi xe qua đèo Hải Vân, bác Viện bảo dừng cho mọi người ngắm cảnh. Trong khi ai nấy c̣n đang tíu tít tṛ chuyện, tôi chợt thấy Nguyễn Khắc Dương đứng một ḿnh trước biển. Với mái tóc dài bù xù, ông giống tượng đài một triết gia.
Đầu năm 1990, một hôm bác Viện bảo tôi: ngày mai chú Dương nói chuyện về Kitô giáo ở Đại học Văn hóa, Thúy nên đi nghe, nhớ mang theo cả máy ghi âm. Chú Dương hiện nay có lẽ là người am hiểu Kitô giáo hơn cả. Chiều hôm ấy, khi đi làm về, tôi thấy một ông già ngồi ngoài cửa, chơi với thằng Hải Anh, con trai tôi, ở trong cửa. Nh́n kỹ hóa ra Nguyễn Khắc Dương. Tôi vội vàng mở khóa, mời ông vào nhà. Ông nói, nghe anh Viện bảo ông Huỳnh Khái Vinh, hiệu trưởng nhà trường, muốn tôi nói chuyện nội bộ. Sợ Thuư đi mất công, tôi hỏi chỗ ở, đến để báo lại. Trong lúc chờ, bác cháu tôi vừa ăn bỏng cốm vừa chơi với nhau rất vui. Tôi thực sự ngạc nhiên, chỉ v́ chuyện nhỏ ấy, ông cất công đi bộ đến nhà tôi, lại c̣n ngồi chơi với cháu qua cửa sắt, để chờ. Đấy là người gàn, hoặc một triết nhân. Lúc ấy, quả thực, tôi c̣n chưa biết Nguyễn Khắc Dương là một Kitô hữu.
Từ đó, con người Nguyễn Khắc Dương cứ ám ảnh tôi hoài. Sinh ra trong một gia đ́nh Nho giáo chính thống vậy mà ông lại muốn theo Kitô giáo làm tu sĩ. Rồi khi tâm nguyện đă thành, ông lại cứ chuyển đổi ḍng tu, để, cuối cùng, xuất tu làm cư sĩ. Làm một ông thầy tài tử ở Văn khoa Đại học Đà Lạt. Những năm sau này, mỗi khi có dịp vào Sài G̣n, tôi đều đến thăm ông ở một ngôi nhà nữ tu nhỏ, gần cầu B́nh Triệu, quận Thủ Đức. Căn pḥng ông ở nằm cuối sân tu viện, cạnh một chiếc ao con.
Cuộc đời Nguyễn Khắc Dương là một hành tŕnh t́m kiếm bản thân. Ông là người đa văn hóa. Trong ông, các văn hóa khác nhau xung đột nhau. Và cứ mỗi lần một xung đột được hóa giải, th́ một xung đột mới lại nổi lên như mây mưa tụ ở chân trời. Cứ như thế, sau mỗi lần một xung đột được hóa giải, phác thảo chân dung con người ông dần dần hiện rơ hơn. Nhưng, h́nh như, không bao giờ có bức tranh cuối cùng.
2.
Với mọi trí thức Việt Nam , kể từ khi người phương Tây đầu tiên đặt chân lên xứ này, đều thấy có một xung đột văn hóa. Trước đây, người ta không trải nghiệm cảm giác này, bởi ta với Tàu, dẫu sao, cũng là những nước đồng chủng đồng văn. C̣n Tây th́ khác, khác cả ṇi giống lẫn văn hóa. Sự xung đột văn hóa Đông Tây là không tránh khỏi. Với nhiều nhà trí thức Nho học và Tây học, sự xung đột này có thể quy vào xung đột giữa Nho giáo và Kitô giáo. Với Nguyễn Khắc Dương, do hoàn cảnh gia đ́nh và cá nhân, lại càng như vậy.
Tôi đă đọc cuốn Tây dương Gia Tô bí lục được viết vào thế kỷ XVIII. Hai tác giả của nó, mặc dù là cha cố, lại được tu nghiệp tại La Mă, mà vẫn nh́n Kitô giáo bằng con mắt kỳ thị của nhà nho. Các ông Nguyễn Trường Tộ và Trương Vĩnh Kư, hẳn theo đạo từ nhỏ, lại chỉ là những nhà nho tự học, không hấp thụ nền giáo dục khoa cử chính thống, nên tránh được những mâu thuẫn ấy chăng? Nguyễn Khắc Dương, tuy theo Tây học, nhưng được sinh ra trong một gia đ́nh Nho học đại quan chính thống, nên từ nhỏ đă nhiễm cái tinh thần Nho giáo. Bởi, văn hóa Nho giáo đào luyện con người không chỉ có học, mà c̣n phải có đức, không chỉ có đức mà c̣n phải có lễ, nghĩa được thể hiện trong nếp sống hàng ngày. Hơn nữa, ngoài cái nho quyển ấy, cậu bé Dương c̣n cảm nghiệm Nho giáo qua h́nh ảnh người cha.
Cụ Nguyễn Khắc Niêm là một thần đồng Nho học, 18 tuổi đỗ tú tài, 19 tuổi đỗ Hoàng giáp, làm quan đến hàm nhất phẩm. Nhưng cụ sinh bất phùng thời: nước mất, Nho giáo suy tàn. Yêu nước, nhưng v́ sinh kế gia đ́nh buộc phải ra làm quan, không theo được "đại sự", tức tham gia vào các hoạt động chống Pháp bấy giờ; muốn làm học cũng không được, phải làm quan cai trị; về già theo đạo Phật, và cũng chủ yếu ở cạnh khía đạo đức. Đó là h́nh ảnh một người cha có nhiều nét khả ái, đáng kính, nhưng cũng gợi lên một cái ǵ đó bất túc, không hoàn hảo. Có lẽ, chính cái nh́n (hay đúng hơn, sự cảm nhận?) lưỡng giá này về người cha đă khiến Nguyễn Khắc Dương, khi lớn lên, có hướng t́m một cái ǵ khác và hơn cái lư tưởng Nho giáo thời mạt vận.
Và, một sự t́nh cờ đă đưa Nguyễn Khắc Dương đến với thế giới Kitô giáo. Năm 1938, do hỏng thi vào Quốc học Huế v́ môn dictée, ông được mẹ gửi vào học ở Providence (Thiên Hựu) để rèn luyện tiếng Pháp. Qua những giáo sư - linh mục giảng dạy ở trường, qua nền học vấn nhân văn Tây phương trong tinh thần Công giáo, đặc biệt qua nhà tư tưởng, nhà triết học tự nhiên, nhà văn, nhà thần hiệp Kitô giáo Pascal, ông thấy được ở Kitô giáo nhiều điều khác với Nho giáo. Nếu Nho giáo là thế giới của nghi thức, nghiêm trang và có phần lạnh lùng, tức thiên về tính, th́ thế giới Công giáo ân cần, thân mật và nghiêng về t́nh. Bởi, Kitôgiáo đề cao t́nh yêu. Thiên Chúa là t́nh yêu.
Mỗi Kitô hữu đều cảm nhận được t́nh yêu của Chúa, thậm chí được yêu một cách khủng khiếp, si mê, một thái độ như đối với người t́nh duy nhất, và được mời gọi đáp lại bằng một t́nh yêu tương tự. Sống một t́nh yêu như vậy, người được yêu thấy ḿnh là một giá trị độc nhất vô nhị đối với người yêu ḿnh, tức ḿnh là một ngă vị, một phẩm giá người. Điều này thật khác với đức thương người của Nho giáo, một t́nh thương có phần trừu tượng, nghiêng về lư trí, như "kỷ sở bất dục vật thi ư nhân", hoặc "thương người như thể thương thân". Nguyễn Khắc Dương t́m thấy ở Jésus những ǵ c̣n thiếu ở Khổng Tử. H́nh ảnh người cha trong ông lúc này có thêm những nét của người mẹ, một hiền mẫu chứ không phải một mẫu nghi. Và, hẳn cũng v́ thế, cái nh́n của Nguyễn Khắc Dương về những "người cha khác" cũng thay đổi, hoặc trở nên sâu sắc hơn nhờ sự đối lập.
Nguyễn Khắc Dương rất quen thân với một tu sĩ Phật giáo là Thượng tọa Thích Mật Thể. Ông là một bậc chân tu, đạo cao đức trọng. Về phương diện này hẳn ít tu sĩ Công giáo sánh kịp. Vậy mà mỗi lần tiếp xúc Thượng tọa, Nguyễn Khắc Dương vẫn cảm thấy ở thái độ của ông có một cái ǵ đó lạnh nhạt. Có lẽ, t́nh thương của người tu sĩ Phật giáo với một con người cụ thể nào đó là thương trong cái đại từ bi vô ngă đối với một chúng sinh cũng vô ngă như bất cứ chúng sinh nào! Thậm chí, có thể nói, đó là sự xót thương cho cái chấp ngă hiện hữu của người đó, thay v́ vui mừng v́ hiện hữu của anh ta như một ngă vị. Và khi chiêm ngưỡng tượng Đức Thích Ca điềm nhiên ngồi trên ṭa sen, ông cũng có cảm tưởng như vậy. Thật khác với Thánh Âu Cơ Tinh, khi ngài nói" "T́nh yêu là niềm vui của tôi v́ sự hiện hữu của anh".
Con người cá nhân muốn h́nh thành và, quan trọng hơn, tồn tại phải có môi trường của nó. Trường Thiên Hựu và sau này là Trường Công giáo Hương Sơn quê nhà đă cho Nguyễn Khắc Dương một không khí gia đ́nh. Nhưng khác với gia đ́nh gia trưởng Nho giáo coi trọng tính cộng đồng, duy tŕ tôn ty trật tự, mỗi thành viên tồn tại bằng cái phận vị của ḿnh, môi trường Công giáo là một cộng đồng liên ngă vị. Ở đây cái thân phận không quan trọng bằng cái con người, con người như một cá nhân, như một ngă vị. Điều này được biểu trưng bằng h́nh ảnh Ba Ngôi. Mỗi Ngôi là một tồn tại độc lập, tự thân. Sống - cùng, sống - với người khác chứ không phải sống - như người khác, là người khác. Như vậy, người Kitô hữu giải phóng ḿnh khỏi con người chức năng, ứng xử với nhau như là những ngă vị, con người này. Trong bối cảnh văn hóa tiểu nông Khổng giáo bấy giờ, đây không chỉ là một cái nh́n mới về con người, mà c̣n đưa ra một phẩm chất mới của cộng đồng.
Quyết định trở thành một tu sĩ Kitô giáo là một "lựa chọn khó khăn nhưng tất yếu" của Nguyễn Khắc Dương. Nhưng điều làm cho ông băn khoăn hơn cả là quyết định ấy đánh một đ̣n nặng vào gia đ́nh. Nhất là trong hoàn cảnh Nguyễn Khắc Viện, người anh cả đang ốm đau ở Pháp, người anh thứ hai th́ mới mất, lại sinh toàn con gái, nên trách nhiệm nối dơi tông đường, gánh vác gia đ́nh, phụng dưỡng bố mẹ già đặt cả vào vai Nguyễn Khắc Dương. Đấy là chưa kể trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp bấy giờ, hành động ấy không thể không gây hiểu lầm, ngộ nhận về chính trị. Nếu không thoát khỏi con người bổn phận Nho giáo, không phát triển đến một mức độ nào đó ư thức cá nhân, con người cá nhân, hẳn Nguyễn Khắc Dương đă không thể dứt áo ra đi. Mặc dù ông theo Công giáo là để đi tu. Và đi tu với ông là đi t́m một lư tưởng sống phù hợp với bản thân ḿnh, hướng về một cuộc sống xa hẳn việc đời, hiến thân cho Chúa trong một đời tu nghiêng về ẩn dật và khổ hạnh.
3.
Như vậy, với việc trở thành một tu sĩ Công giáo ở Nguyễn Khắc Dương, Kitô giáo đă chiến thắng Khổng giáo. Nhưng dần dà ông cảm thấy ḍng Phanxicô có một cái ǵ đó không phù hợp với bản chất người sâu xa của ông. Vốn là một người bề ngoài th́ rất kỷ luật, biết vâng lời, đúng giờ giấc, nhưng bên trong th́ cháy bỏng một khát vọng sống ngoài ṿng bất kỳ sự cương tỏa hay rập khuôn nào. Vậy mà, ḍng tu Phanxicô lại có rất nhiều những khuôn khổ, quy chế, luật lệ hết sức g̣ bó. Hơn nữa, lối tu cộng đoàn này lại c̣n có xu hướng bộc phát ra bên ngoài. Điều này trái với quan niệm tu hành của ông. Ông chỉ thích lối tu đơn độc của các tu sĩ Công giáo trước thời có lối tu cộng đoàn, thích h́nh ảnh các thiền sư, đạo sĩ chỉ một ḿnh ḿnh, nếu có đệ tử th́ cũng chỉ là đệ tử tâm truyền. Họ theo thầy một thời gian, rồi lại ra đi theo con đường riêng của ḿnh. Tu như vậy là theo kiểu tung gieo hạt giống, chứ không thành luống thành hàng, thành ḍng thành dơi. Đọc sách, ông thấy ḍng tu Cát Minh của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng, có lẽ, hợp với ông hơn.
Vào đầu những năm 60, sau khi tốt nghiệp Cử nhân triết học ở Sorbonne, Nguyễn Khắc Dương ghi danh làm tiến sĩ cho có chuyện, ông chủ yếu dành thời gian t́m một nếp tu. Ông kiếm t́m một h́nh thức tu nhỏ gọn và âm thầm. Được giới thiệu đến một ngôi làng nhỏ ở miền Bắc nước Pháp, ông tu trong một nhóm nhỏ thuộc đan viện cổ truyền Bouveret ḍng Biển Đức. Nửa năm ở đấy khác nào như cá trong nước. Nhưng khi được đưa sang Thuỵ Sĩ, nơi có đan viện chính, để chuẩn bị vào nhà tập, ông lại thấy nặng nề, g̣ bó, sức khoẻ lại giảm sút nghiêm trọng. Hơn nữa, đan viện này lại không thuộc về một liên-đan-viện phụ trách các ḍng tu ở Việt Nam , nên mộng ước sau này về nước thiết lập và phổ biến lối đan tu nhỏ gọn không thể thực hiện được. Thế là, một lần nữa, Nguyễn Khắc Dương lại ra khỏi ḍng tu. Ông quyết định rời Pháp về Việt Nam làm một cư sĩ, một tu hụt.
Sự "vụng đường tu" của Nguyễn Khắc Dương ảnh xạ một xung đột trong nội bộ văn hóa Kitô giáo. Nói rơ hơn là giữa tinh thần Kitô và cái gọi là Kitô-chế. Hay nói khác giữa tính tôn giáo và tổ chức tôn giáo như là một thiết chế văn hóa - xă hội. Ông gần với tinh thần Kitô và xa lạ với Kitô-chế, thậm chí dị ứng với nó. Ông thấy Kitô giáo thời kỳ c̣n khốn khó giàu tinh thần Kitô hơn thời kỳ đă nắm quyền, đặc biệt là thế quyền. Các tu sĩ Kitô giáo thanh bần bao giờ cũng nhiều tinh thần Kitô hơn các tu sĩ đầy quyền bính. Bởi lẽ, quyền bính nào, nhất là những quyền bính nhờ quyền bính, cũng là sự sa đoạ. Nếu chỉ chứng kiến cảnh những tu sĩ béo tốt đi xe vào dinh quan Sứ như trước Cách mạng tháng Tám, nếu không thấy các tu sĩ đi bộ cùng các Kitô hữu trong nhiều nẻo đường kháng chiến, hẳn Nguyễn Khắc Dương đă không thể đi tu. Tinh thần Kitô khuyến khích con người tự ḿnh trực tiếp đối diện trước Chúa: một ḿnh ḿnh biết, một ḿnh ḿnh hay. Ở cạnh khía này, ông có vẻ gần với người anh em Tin Lành hơn.
Có lẽ, cũng do ảnh hưởng của tinh thần Kitô, Nguyễn Khắc Dương có một cái nh́n "không giống ai" về văn minh phương Tây. Ông rất coi trọng nền văn hóa trung đại mang tinh thần Công giáo, thời kỳ mà chúng ta, những đầu óc duy lư và duy tiến bộ, vẫn coi là "đêm trường trung cổ". Bởi thế, ông phê phán nền văn hóa Phục Hưng v́ đă khôi phục lại tinh thần duy lư Hy Lạp, duy luật La Mă và mở đầu cho thời đại duy khoa học và kỹ thuật. Từ đó, Nguyễn Khắc Dương dị ứng với mọi thứ triết học duy hệ thống. Platon, Aristote, Kant, Hegel với những Tinh thần, Lịch sử, Nhân loại viết hoa làm ông nghẹt thở. Ông chỉ tiếp tu được những tư tưởng triết học đề cao con người, con người cá nhân cá thể, con người như là một ngă vị. Ông yêu thích các triết gia hiện sinh hữu thần như Kierkegaard, Jaspers, Marcel...
4.
Cuối năm 1965, Nguyễn Khắc Dương về nước. Sau một năm dạy học ở Sài G̣n, ông được mời lên dạy triết học ở Đại học Công giáo Đà Lạt. Lúc này, linh mục, nhà ngôn ngữ học Lê Văn Lư làm trưởng khoa Văn, c̣n linh mục Lê Tôn Nghiêm làm trưởng ban Triết. Cuộc sống của một cư sĩ, một ông thầy tài tử có vẻ thích hợp hơn với ông. Đặc biệt làm một ông thầy Triết.
Nhớ lại những năm học Triết ở Sorbonne. Bấy giờ Nguyễn Khắc Dương chủ yếu đi t́m một lối sống, một nếp tu, chứ không phải một triết lư, nên ông trở nên hững hờ với Triết, thật khác xa với anh chàng tú tài háo triết thuở nào. Bởi vậy, những điều ông tiếp tu được ở trường không phải là những tri thức cao siêu, mà chính là thái độ trí thức của những giáo sư Sorbonne. Họ rất khiêm tốn, liêm khiết trí tuệ, thận trọng và trung thực trong phán đoán, không a dua theo phong trào. Bài giảng của họ chỉ là sự tŕnh bày một cách từ tốn, giản dị những ǵ họ t́m kiếm được. Đó là thái độ của người đang đi t́m chân lư chứ không phải đă sở hữu chân lư trong tay. Mà, nói cho cùng, chân lư là đạo, là con đường, măi măi là cái đang - là, chứ không phải cái đă - là; lại càng không phải một đồ vật để người ta tranh giành và hễ chiếm được th́ độc quyền ban bố, phân phát.
Làm ông thầy tài tử ở Đà Lạt, Nguyễn Khắc Dương không coi ḿnh như một giáo sư, mà chỉ như người phụ giảng, anh trưởng tràng giúp đỡ sinh viên. Bởi thế, ông không viết giáo tŕnh hay cho in sách vở ǵ cả. Bài ông giảng cho sinh viên, có ai ghi chép lại mà muốn nhân lên để anh em khác cùng lớp dùng, ông chỉ sửa chữa vài chỗ rồi cho họ tự ư muốn làm ǵ th́ làm. Ngoài giờ học, thầy tṛ quây quần quanh quán phở, tiệm cà phê cũng là thường. Ông muốn là người đồng hành với thế hệ trẻ. Bởi, ông quan niệm, không có ai dạy triết cho ai, không có ai học triết với ai được cả. Chỉ là kẻ trước người sau đi t́m chân lư cho ḿnh và do ḿnh; gặp nhau th́ giúp đỡ nhau, trao đổi kinh nghiệm với nhau.
Trở về làm một cư sĩ, sống tận cùng với cá nhân ḿnh, Nguyễn Khắc Dương, nhất là những năm sau 1975, như trở lại giai đoạn anh nhi của cuộc đời. Nhưng đứa trẻ thông thái ấy tưởng như đă "biết tuốt", đă "tri thiên mệnh", vậy mà vẫn có điều băn khoăn. Có lần, ông nói với tôi, mà như nói với chính ḿnh, là cả đời ông chưa một lần được gặp Chúa, dĩ nhiên là gặp theo lối thần hiệp. Ông là người dành trọn t́nh yêu cho Chúa, hoàn toàn phó thác đời ḿnh cho Chúa, tin tưởng vào mọi sự xếp đặt huyền bí của Chúa, kể cả những năm 1955 - 56 đi làm quân dịch và 16 tháng gối hai năm 1975-76 trong trại học tập. Vậy mà chưa một lần được nhận Thiên Ân. Hẳn là lỗi ở cái óc duy lư đă bị ông tống ra cửa chính mà nó vẫn vào bằng cửa sổ. Đây có lẽ là xung đột sau cùng ở một con người: niềm tin và trí óc, tôn giáo và khoa học.
5.
Trước khi mất không lâu, một hôm, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bảo tôi: chú Dương là người suốt đời t́m đường mà không thấy. C̣n ông, tôi nghĩ, hẳn ngay từ đầu đă thấy đường rồi. Đó là con đường của người sĩ phu hiện đại. Nhưng, cũng như bao sĩ phu truyền thống, sau một đời hoạt động bận rộn, ông cũng phải t́m về với chữ Tâm. Như vậy, giống như sự "lại giống", một đại trí thức Tây học như Nguyễn Khắc Viện mà vẫn đi lại con đường "vào Nho ra Phật", "trẻ Nho già Lăo" của người trí thức Nho học ngày xưa. Và, cho đến nay, trên con đường đó, hẳn ông không độc hành.
Nguyễn Khắc Dương, cũng vậy, sớm khao khát một cuộc sống có lư tưởng, cái lư tưởng hành đạo giúp đời theo kiểu Nho giáo mà người cha, người anh đă vạch sẵn. Nhưng rồi sự tiếp xúc và, sau đó, trở thành người Kitô hữu, cái lư tưởng đẳng cấp ấy ở Nguyễn Khắc Dương trở thành một lư tưởng cá nhân của riêng ông. Đó là nguyện vọng thực hiện một đời sống tu hành. Và, oái oăm thay, lư tưởng cá nhân này trong con mắt số đông người ở thời kỳ đó lại như là sự "phản bội" lại lư tưởng của gia đ́nh, vùng đất, thậm chí dân tộc. Nếu không có một ư thức cá nhân phát triển cao, không tự coi ḿnh như một ngă vị có giá trị tự thân th́ không thể bứt được khỏi truyền thống người cha, khỏi vô thức tập thể. Trợ lực cho điều đó, ngoài nền học vấn nhân văn thế kỷ XVII của Pháp, ngoài văn chương lăng mạn Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước, hẳn Kitô giáo giữ một vai tṛ quyết định.
Con người cá nhân Nguyễn Khắc Dương, dù phát triển cao như vậy, mà vẫn không phải là con người thuần nhất. Đằng sau người trí thức Tây học là một tu/cư sĩ Công giáo; đằng sau con người tu/cư sĩ Công giáo là một anh "đồ Nho", mà lại là "đồ Nghệ", gàn đến ba đời. Những con người trong con người này khập khiễng nhau, tranh chấp nhau, ảnh xạ những khác biệt, những xung đột về văn hóa, triết học, tôn giáo và kiểu tư duy. Những khác-xung-biệt-đột này ở Nguyễn Khắc Dương thúc đẩy một loạt các lưỡng phân giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, giữa văn hóa phương Tây duy kỹ thuật và văn hóa phương Tây tâm linh, giữa lối tu cộng đoàn có tổ chức chặt chẽ và lối tu đơn độc, tự do và, cuối cùng, khi chỉ là một cư sĩ, th́ giữa ḷng tin và đầu óc, giữa sự phó ḿnh để bước ra ngoài ngọn sào và sự phân tích, lư giải, so sánh, b́nh luận đời ḿnh như một nhà phê b́nh văn học mổ xẻ một văn bản. Sự lưỡng phân, có lẽ, không có tận cùng. Và h́nh như càng lưỡng phân bao nhiêu th́ nguyện vọng hợp nhất trong ông càng tha thiết bấy nhiêu. Hợp nhất Đông và Tây, hợp nhất Nho giáo và Kitô giáo, hợp nhất đoàn thể và cá nhân, trái tim và đầu óc, hợp nhất những ǵ tưởng như không thể hợp nhất nổi, để có được một Kitô giáo Việt Nam, và những Kitô - Việt - hữu. Bởi thế, Nguyễn Khắc Dương là một trường lữ đi trên con đường không có đường.
Chùa Thầy, Xuân Mậu Tư
Nguồn: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội, số 2/2008. Talawas
Tác giả Đỗ Lai Thúy
Nguồn http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=197&ict=1409
Những Nẻo Đường Việt Nam
CHƯƠNG 30: GS. NGUYỄN KHẮC DƯƠNG
Trong quyển sách “Từ Ánh Sáng Mặt Trời T́nh Yêu”, Tập II, anh Nguyễn Chính Kết – một môn sinh của giáo sư Nguyễn Khắc Dương – đă viết về thầy ḿnh dưới nhan đề “Ẩn Tu Giữa Đời”, dựa trên cuốn tự thuật của chính giáo sư, dày 247 trang, viết xong năm 1986 tại Đàlat, với tựa đề “Quia respexit humilitatem meam” (“V́ Ngài đă đoái thương đến chút phận hèn của tôi”). Đó là câu trích từ bài “Magnificat” của Đức Mẹ ca ngợi Thiên Chúa.
Cách đây mấy năm, ông Bửu Sao – một bạn đồng tu và đồng nghiệp của giáo sư Nguyễn Khắc Dương – đă chia sẻ cho các thân hữu cuốn tự thuật đó, bằng cách trích dẫn những đoạn cốt yếu được nối kết cùng tŕnh bày theo tŕnh tự diễn biến có tính cách thời gian.
Tôi đă dựa theo tài liệu của ông Bửu Sao để tŕnh bày về cuộc đời chứng nhân của giáo sư Nguyễn Khắc Dương. Tôi có cảm t́nh với giáo sư Dương v́ trước đây giáo sư đă từng học ở Thiên Hựu Học Đường là nơi tôi cũng đă trải qua mấy năm trung học nội trú ở đó. Ngoài ra những diễn biến nội tâm đă đưa giáo sư Dương trở thành một “ẩn sĩ giữa đời”, cũng rất gần gũi với tôi. Nói đúng hơn, như giáo sư Dương đă viết: “Tôi không phải là ‘moine défroqué’, tu vất áo, mà là ‘moine manqué’, tu hụt, như hụt tàu, thậm chí không có tàu mà đi.”
Con đường “tu đức” mà giáo sư Nguyễn Khắc Dương đă trải nghiệm và chân thành chia sẻ là cơ hội quí báu để Cộng Đồng Dân Chúa – gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – tự kiểm điểm lại chính con đường tu đức của ḿnh ngơ hầu vươn lên.
Giáo sư Nguyễn Khắc Dương đă dùng lối văn truyền cảm để diễn đạt những tâm tư mang nặng tính chất triết lư của ḿnh, nhờ đó cuốn hồi kư tự thuật của giáo sư tránh được nhược điểm khô khan khó đọc như những văn bản tương tự. Xin lưu ư: những gịng chữ thẳng đứng là của ông Bửu Sao, c̣n những gịng chữ nghiêng và ở trong ngoặc kép là của tác giả Nguyễn Khắc Dương.
Dẫn nhập
“Ba mươi năm ch́m nổi, để cuối cùng rơi vào bàn tay Từ Ái của Thiên Chúa.” Câu này mở đầu cuốn sách mang tên “Quia respexit humilitatem meam” (“V́ Chúa đă đoái nh́n đến thân phận nghèo hèn của tôi”, một cuốn sách hồi kư của tác giả Nguyễn Khắc Dương, nguyên giáo sư viện Đại Học Đà Lạt vào các năm 1965-1976. Đó là ‘chuyện một tâm hồn Việt Nam ’ đă cùng quê hương ḿnh trải qua ba mươi năm phiêu bạt trên gịng đời lịch sử.
Giữa bao nhiêu loại sách hồi kư, tùy bút hay tự thuật, cuốn sách này làm tôi (Bửu Sao) vừa ngạc nhiên, vừa khó chịu. Ngạc nhiên: thay v́ dùng ng̣i bút để tự đánh bóng với dụng ư nêu gương sáng cho hậu thế th́, trái lại, tác giả dùng 247 trang giấy để tự công khai kiểm điểm, xét ḿnh và ăn năn sám hối. Cũng khó chịu nữa v́, không một chút e dè, tác giả lột trần cái TÔI của ḿnh ra, dù rằng cái tôi đáng ghét. Nhưng xét cho kỹ th́, thật ra, đấy quả là một cái TÔI đáng quư, đáng nể, bề ngoài làm ra vẽ thô kệch, nhưng kỳ thực nó ấp ủ một kho tàng quư báu.
Nhưng đối với những kẻ nh́n thẳng vào thực trạng của cuộc đời th́ đây quả là một hạt giống tốt được gieo vào ḷng đất Việt Nam . Tác giả lần lượt tự xem ḿnh như là một mảnh đất đầy cỏ dại gai gốc, rồi có lúc lại như người gieo hạt giống tốt vào giải đất quê hương, tuy đầy gai gốc, sỏi đá, nhưng được kén chọn để hạt giống gieo vào có ngày đơm hoa kết trái, theo như bài ngụ ngôn trong Phúc Âm Thánh Mathêu (13, 4-9).
Sau đây tác giả Nguyễn Khắc Dương sẽ hướng dẫn độc giả đi viếng giải đất Việt Nam 30 năm qua, từ Bắc chí Nam: từ nơi chôn nhau cắt rốn, đất Nghệ An (1), đến chỗ tiếp thụ ơn lành, Kinh thành Huế (2-3), tiếp theo giai đoạn thử thách, Khu Tư (4,5,6), đến nơi thực hiện được ơn Chúa gọi, Vinh, Nha Trang (7-8,9), qua thời kỳ tu luyện: Pháp (10,11), để t́m lấy một nếp tu, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Sài G̣n (12-13), một mẫu người thợ gieo những hạt giống Chúa dành cho đồng ruộng Giáo Hội Việt Nam chúng ta (14-15).
TIẾT MỘT
ĐẤT NGHỆ AN
1.- Mảnh đất phù sa
Là bào đệ của Nguyễn Khắc Viện, một đảng viên ṇng cốt thuộc đảng Cộng Sản Việt Nam , Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24/09/1925 tại Vinh trong một gia đ́nh quư phái. Thân phụ – cụ Nguyễn Khắc Niêm – nguyên Án Sát tỉnh Nghệ An vào các năm 30, về hưu năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng Thư. Từ tấm bé, tác giả được truyền thụ nền đạo đức Khổng Giáo, văn hóa cổ truyền, tôn thờ Đức Phật. Kể người thân thuộc trong gia đ́nh th́ có các cụ Phan Bội Châu, Vơ Bá Hạp, Huỳnh Thúc Kháng. Tuy là nhà quan, cụ thân sinh vốn giành một thái độ trân trọng đối với Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn thị Minh Khai.
Nói về thân phụ, tác giả viết:"H́nh ảnh thân phụ tôi có nhiều nét khả ái, nhưng cũng gợi lên một cái ǵ bất túc, không hoàn hảo. Có lẽ chính cái giới hạn đó đă khiến tôi có hướng t́m một cái ǵ khác hơn cái lư tưởng Nho giáo thời mạt vận, mang ít nét phong kiến với nếp sống quan lại, địa chủ trước cách mạng 1945". Đến năm cải cách điền địa, 1953, thân phụ bị đưa vào trại học tập cải tạo dành cho giới địa chủ, để phải chết trong tù ngục ngay năm sau.
Lên 11 tuổi, tác giả chịu ảnh hưởng sâu đậm của cảnh chùa, xem mẫu người lư tưởng là người tu hành, đạo sĩ, chứ không phải là quân tử, anh hùng hay vĩ nhân theo cái nh́n thế tục: “... h́nh ảnh nhà sư điềm đạm, an nhiên tụng kinh niệm Phật như đă in sâu vào hồn tôi...rồi nỗi nhục mất nước, sự thất bại của các phong trào cách mạng, cuộc đời khốn khổ của lớp dân bị thua kém về mặt xă hội...tất cả như đúc kết lại trong bốn chữ "đời là bể khổ".
Vào thời trung niên, tác giả chịu ảnh hưởng các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận "về mặt công bằng xă hội", nhưng không bao giờ tin vào bất cứ một thuyết nào, một chủ nghĩa chính trị nào cả. “Không bao giờ tôi tin rằng cái vương đạo có thể thực hiện được trong lĩnh vực chính trị trần thế." (trg 14). Ngoài ra, tác giả yêu văn chương, nhớ thuộc ḷng nhiều đoạn của Kiều, Cung Oán, Chinh Phụ Ngâm, nhiều bài thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tản Đà. Ảnh hưởng sâu đậm nhất là Kiều, do đó sớm chịu ảnh hưởng những tư tưởng yếm thế về nhân sinh, cứ nghiền ngẫm luôn luôn đoạn "gẫm nhân sự cớ chi ra thế" trong Cung Oán, và mấy chữ bạc mệnh, đoạn trường như in sâu vào tận đáy tâm hồn!
Chung quy, tác giả phân tích ba tầng địa chất tâm lư của ḿnh: "tầng thứ nhất là nho giáo thời suy tàn, tầng thứ hai là một thứ tâm thức cảm tính nhuốm màu Phật giáo có tính cách văn chương, có lẽ phảng phất ít nhiều Lăo giáo theo kiểu Đào Tiềm, kiểu Từ Thức lạc động Phi Lai, tầng thứ ba là t́nh tự dân tộc. Là một con người vốn mong ước một xă hội công bằng, nhưng phần nào tôi nghĩ rằng đặt nặng vấn đề giai cấp ra sẽ gây chia rẽ, có thể không lợi cho việc đoàn kết đấu tranh giành độc lập... Nhưng dù sao th́ ba tầng tâm lư chỉ là các lớp phù sa đọng lại trong tâm thức, rồi nằm yên trong chiều sâu của vô thức, chứ không có tác động ǵ". (trg 24-26).
TIẾT HAI
TIẾP THỤ ƠN LÀNH: KINH THÀNH HUẾ
2 - Hạt giống Tin Mừng
“Năm 1938 tôi đỗ tiểu học, được cha mẹ gởi vào Huế, thi hạch vào trường Quốc học, bị loại, mẹ tôi quyết định cho tôi theo học chương tŕnh Pháp tại trường Thiên Hựu (Providence), một trường tư thục có giá trị nhất ở Huế thời ấy. Cái quyết định của mẹ tôi quả là do "Thiên Hựu", sự an bài xếp đặt của Thiên Chúa. V́ có vậy ngày nay mới có tập hồi kư này, có vậy tôi mới biết Chúa Giêsu, mới trở thành tín hữu của Ngài.
Ngoài ra, hạt nhân kiến thức của tôi là văn học thế kỷ 17, một nền nhân bản từ văn minh Hylạp - Lamă, đă được nhuần nhuyễn với một nền Thiện căn của Công giáo... Vị thầy chính yếu của tôi là Pascal, về triết học tự nhiên cũng như về tư tưởng và cảm thức tôn giáo. Tôi nói rằng có hỏng thi hạch vào Quốc học Huế, tôi mới vào học Thiên Hựu, và nhờ đó mới được hồng phúc trở nên tín hữu Công giáo, đấy là chuyện không ngờ: Thật ra, trong bản chất, việc tôi theo Chúa Giêsu là mầu nhiệm T́nh yêu lựa chọn của Ngài, làm sao hiểu nổi! Chính tôi lắm lúc vẫn thưa với Chúa: Trong ṿng gia đ́nh con, bạn bè con, dân tộc con, bao nhiêu người xứng đáng hơn con, nếu được Chúa chọn như con th́ chắc là họ sẽ làm đẹp ḷng Chúa hơn con, phụng sự Chúa đắc lực hơn con nhiều. Nhưng Ngài dạy: "Ta chọn lựa không phải kẻ xứng đáng, nhưng là kẻ ta xót thương!" (trg 31).
Vào học trường Công giáo, tác giả dần dần khám phá ra những giá trị của Tin Mừng, biểu hiện qua sự tận tâm chức nghiệp của các vị giáo sĩ Hội Truyền Giáo Balê, đức yêu người nơi các vị giáo sĩ được bộc lộ qua cách đối xử, mà tác giả phân biệt với thương người. “Theo đạo Khổng, Thương người như thể thương thân; đạo Phật c̣n đi xa hơn: thương luôn cả vạn vật chúng sinh. T́nh thương trong cái đại từ bi vô ngă đối với chúng sinh vô ngă như bất cứ chúng sinh nào, tôn giáo nào cũng dạy như thế cả. Nhưng yêu người theo đạo Công Giáo là thái độ tương tự như thái độ với người t́nh duy nhất: có cái ǵ tŕu mến, yêu thương, đằm thắm, thiết tha, làm cho người ta có cảm tưởng rằng ḿnh được xem là một giá trị duy nhất, không thể thay thế, một ngă vị, một chủ thể duy nhất, như là được lên ngôi vậy.” Măi về sau tác giả mới biết nguồn gốc của t́nh yêu ấy được ghi chép trong các chương từ 13 đến 17 trong Tin Mừng theo thánh Gioan. C̣n đức thương người có thể nói như là kết quả dày công tu tập về luân lư đạo đức và cái nh́n về loài người nói chung. (trg 33-35)
Thế rồi, đến lớp đệ nhị (1943), tác giả đă gặp Pascal. “Pascal đă gieo vào tâm trí tôi một quan niệm về con người một cách gần như thấu suốt tâm can. Pascal đă cảm nghiệm được rằng Giêsu đă yêu Pascal đến chết, Giêsu đă nhỏ những giọt máu cho Pascal. Đọc bài của Pascal về giờ hấp hối của Giêsu trong vườn Giếtsêmani h́nh như tôi được cùng Pascal thấy rơ là giọt máu nào Giêsu để cho tôi vậy. Và câu ‘Giêsu hấp hối đến ngày tận thế’ làm cho tôi tan nát ḷng! Câu này là câu ‘đời là bể khổ’, nhưng cụ thể hơn, và có cái ǵ gần gũi thiết tha, gắn bó, ràng buộc, mời gọi thông dự hơn là thúc dục t́m lối thoát.”
Nhưng, vào năm ấy tác giả chưa tin Giêsu là Thiên Chúa. “Cuối năm 1944 tôi sang học triết học tại trường Khải Định, tôi thấy vô cùng lạc lơng, trường Khải Định có cái ǵ lạnh nhạt, máy móc... các giáo sư cho đến bạn bè đều thiếu không khí ấm cúng của trường Thiên Hựu. H́nh như ra ngoài xă hội tôi đă quá thấm nhập môi trường thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, tinh thần căn bản xây trên t́nh yêu người như một ngă vị, một chủ thể độc nhất vô nhị như tôi nói trên kia. H́nh như từ năm 1943 tôi đă bị hấp dẫn bởi một bầu không khí sinh hoạt nhuần Kitô giáo, và hẳn có những biểu lộ nào đó nên tôi mới được các linh mục Lefas (ME), Cotté (CSSR) để ư.
Đồng thời tôi cũng rất quen thân với một số bạn học Công giáo, các chủng sinh Đa Minh, đặc biệt các anh Vương Đ́nh Lương, em ruột L.M. Vương Đ́nh Ái: đó là những tâm hồn đă thả neo vào một lư tưởng rất cao quư, không phải là một lư thuyết trừu tượng hay một sự nghiệp nào đó, nhưng là t́nh yêu đối với một người có vẻ rất cụ thể, rất gần gũi, rất người: Giêsu. Họ yêu Giêsu ra sao? Tôi thoáng thấy một sụ tổng hợp kỳ lạ: cái t́nh cảm mănh liệt nhất là t́nh yêu lại đồng thời là cái bổn phận cao thượng nhất, đ̣i hỏi phải hy sinh, tiết dục, khiết tịnh nhất! Một thứ t́nh yêu mang nhiều nét giống t́nh yêu nhân thế mà lại thúc đẩy người thanh niên đầy nhựa sống chấp nhận đời sống tu hành, song tu mà lại rất vui, rất nhộn, rất đời! Họ nói họ hiến thân v́ t́nh yêu, một t́nh yêu kỳ quặc!
Sau này đọc tác phẩm Bergson, tôi mới hiểu cái thần hiệp của Kitô giáo (Bergson. Mystique chrétienne). Chứ lúc ấy tôi vừa thấy thích thú, vừa bị thu hút, vừa thấy sợ như sợ đụng vào phải giây điện cao thế! Khi nh́n lên tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh, tôi thấy có sự thu hút mănh liệt, nhưng đồng thời có cái ǵ rờn rợn, khiến ḿnh phải ở vào thế đề pḥng bị điện giật. Trái lại với không khí êm ả, thanh thản, điềm nhiên lắng đọng của tượng Phật trong một ngôi chùa.
Sau hết là Đức Mẹ Maria...Cứ mỗi buổi tối bài Salve Regina mà các lưu học sinh trường Thiên Hựu hát trước khi đi ngủ vang lên như một làn hương, một luồng hơi ấm xoa dịu tâm hồn. So với lời niệm Đức Quan Thế Âm và 108 tiếng chuông thu không của nhà Chùa nó cũng có phần nào tương tự, nhưng ở đây có cái ǵ ấp áp hơn, dịu dàng hơn, t́nh người hơn, vui vẻ hơn.” (trg 48)
3 - Hoà nhập văn hoá
Thế nhưng trong chương tŕnh trường Thiên Hựu không dạy văn Hoá Đông Phương cũng như văn chương, lịch sử và địa lư Việt Nam . Tác giả đă tự t́m nghiên cứu qua các bộ sách và các tài liệu văn học Việt Nam . Sau này, khi đă thành người Công giáo, ước mơ của tác giả là sao có được một gịng văn học Việt Nam thấm nhuần Kitô giáo và một gịng văn hóa Kitô giáo thuần túy Việt Nam và nhất là một truyền thống thiêng liêng (spiritualité) phù hợp với tinh thần Á Đông mà vẫn chính thống Kitô giáo. “Bản thân tôi không khỏi tự trách ḿnh đă chần chừ chưa chịu bắt tay vào việc ấy một cách tích cực hơn. Đến nay tôi vẫn chưa rơ các bậc đàn anh như các linh mục Nguyễn Văn Thích, Bửu Dưởng đă có những công tŕnh ǵ về mặt này rồi... C̣n ǵ thích hợp cho bằng một tổng hợp giữa Kitô giáo với nền cổ học Đông Phương.” (trg 44)
Hoà nhập trên b́nh diện văn học là một chuyện, hoà nhập trên b́nh diện văn hoá thực dụng lại là một chuyện khác. Tác giả nhấn mạnh nhiều về khía cạnh này. “Một hôm vào Viện Bài Lao Huế thăm người anh rể bị ho lao, tác giả nh́n một d́ phước người Pháp trẻ đẹp từ cơi trời Tây văn minh giàu mạnh đến phục vụ tại xứ nghèo kém...vượt mọi biên cương, mọi tầng lớp, mọi phân cách đối kháng, tranh chấp. Rồi một sự việc xẩy ra: Một người điên lạc vào bệnh viện, chạy lại gần d́ phước nắm lấy tay và nói:’Sơ trẻ đẹp như vậy mà đi tu th́ uổng quá!’ Nếu các chủng sinh bạn học hé mở cho tôi thấy khía cạnh ‘yêu Chúa’, th́ d́ phước ấy và câu nói của người điên này cho tôi thấy khía cạnh yêu người của những tâm hồn Công giáo ưu tú. Không thiếu ǵ những Nicô cũng có một cuộc đời cao quư như vậy, nhưng vị Nicô tuy đầy từ bi dịu hiền, lại có cái ǵ như điềm đạm tĩnh mặc; c̣n nơi d́ phước lại có cái ǵ tươi đẹp, ấm áp, gần như tŕu mến âu yếm. Vị Nicô có thể cao xa hơn; c̣n d́ phước gần gũi hơn....
Xin nhắc lại, tôi chỉ đối chiếu để vạch rơ khác nhau chứ không so sánh hơn thua. Nếu so sánh hơn thua th́ cũng có thể chê Giêsu Nazarét là xuề x̣a, thiếu ‘lễ’, có thể không được mô phạm lắm! Cái cảnh để cho Maria Bêthania ngồi dưới chân nói chuyện, rồi cảnh để cho ả giang hồ xơa tóc lau chân, ôm hôn cũng thật thiếu lễ! Đọc Tin Mừng thường thấy Giêsu bị chê trách như vậy chứ không phải được suy tôn như một vị thầy khả kính đâu... Thật ra Giêsu không có dáng dấp tiên phong đạo cốt chân tu tí nào cả! V́ ngài nói, ngài làm nhiều cái chướng tai gai mắt người lớn lắm, chỉ có trẻ con là khoái chí thôi kể cả đứa trẻ con về mặt tâm hồn (như tác giả?); chỉ có bọn hành khất đui què mẻ sứt phong cùi, trộm cướp giang hồ ở ngoài lề xă hội. Có lẽ v́ thế mà về sau một nhà trí thức vô thần cỡ lớn đă nói với tôi rằng là ‘Nếu giả sử tôi theo một tôn giáo th́ tôi sẽ chọn Phật Giáo, v́ cao siêu hơn, c̣n Kitô Giáo sao mà có vẽ b́nh dân quá’!” (trg. 50)
TIẾT BA
GIAI ĐOẠN THỬ THÁCH: KHU TƯ
4 - Bức Tường Hội Thánh
Tác giả thú nhận rằng trước khi trở thành người Công giáo cũng có một thái độ tự tôn như vậy. Từ ngữ ‘con chiên bổn đạo’ tạo ấn tượng một bầy cừu của Panurge. “Rồi lối xưng hô ‘lạy cha’ quá khúm núm, khép nép, như luồn cúi, chịu lụy, chịu khó bằng ḷng, ít nhiều như nô lệ. Hầu như giữa Giêsu Nazarét và Giáo Hội Công Giáo có một sự lệch lạc nào đó. Tin Mừng hầu như biến thành một thứ bùa mê để thao túng, cầm buộc con người trong một xiềng xích tinh thần để dễ bảo, dễ trị. Một dạng ngu dân nào đó.”
Tác giả h́nh như mang máng có ư nghĩ là Giáo Quyền đă phản ngược lại lư tưởng của Giêsu Nazarét, một sự đồng loă nào đó giữa đám thực dân và Giáo Quyền thời đó chăng? Từ 1942 đến 1945, thái độ của tác giả là yêu mến Giêsu và đề pḥng cảnh giác với GHCG. “H́nh như hiện nay, đối với không ít anh em ngoại giáo, tâm trạng phân biệt giữa Giêsu Nazarét mà họ mến phục với giáo quyền vẫn c̣n là tâm trạng khá phổ biến. Sau tà áo đen của các vị giáo quyền như thấy có lập ḷe ngọn lửa của các giàn hỏa thiêu của các ṭa ‘trừng giáo’ (Inquisition) thời Trung cổ.
Xin thú thật rằng, đă gần 40 năm là tín đồ Công giáo, nhưng trong tiềm thức, những thành kiến, những h́nh ảnh, những cảm xúc ấy vẫn c̣n tiềm tàng trong tôi... khiến tôi phải phấn đấu cầu nguyện nhiều mới lướt thắng nổi cái cám dỗ rơi vào bước đi của các anh em Tin Lành...” (trg 53). “2000 năm lịch sử Hội Thánh đă chứng minh rằng đẹp đẽ nhất là những thời đại mà Hội Thánh được hưởng mối phúc thứ nhất và mối phúc thứ tám: Phúc cho người nghèo khó và phúc cho các con khi các con bị bách hại v́ danh thầy!
Bởi vậy, năm 1945 là năm đại hồng phúc đối với riêng tôi. Đây là một câu hỏi luôn luôn trở lại: nếu không có năm 45 th́ tương quan của tôi với Hội Thánh sẽ như thế nào? Một người bạn ṭng giáo năm 1963 cũng đă đặt câu hỏi: nếu không có năm 63 th́ không biết tương quan giữa anh và Hội thánh sẽ ra sao? C̣n đối với một số anh chị em khác th́ năm 1975 cũng đem lại một cái ǵ tương tự như năm 1945 đối với tôi.” (trg 55)
5 - Thiên Chúa tước đoạt
“Suy t́m những nét kỳ diệu mà Thiên Chúa đă làm nơi tôi, điều chính yếu của một cuộc sống: đấy là những nét kỳ diệu nơi mỗi tâm hồn mà Chúa Cha đă tạo dựng. V́ tất cả mọi sự đều là những nét kỳ diệu do Thiên Chúa làm nên cả: sáng tạo từ hư không, và tái tạo từ tội lỗi.”
Năm 1943, vào tuổi đôi mươi của tác giả, “một cuộc t́nh vô cùng ngang trái, tuy không thảm khốc nhưng khá nhiều bi kịch tính v́ là một mối t́nh bất khả (impossible)... Đó là một việc tô đậm thêm cho ư thức của tôi về trần gian này là nơi đầy khổ lụy, khiến tôi không c̣n đợi ǵ ở một mối t́nh nào trên trần gian này nữa, khi mà tôi được biết là Chúa yêu tôi...T́nh yêu nhân thế hầu như không c̣n có tác dụng ǵ đối với tôi nữa. Suốt cuộc đời độc thân, nhiều lúc nỗi cô đơn tràn ngập tâm hồn, nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng một mối t́nh dương thế nào có thể lắp đầy chỗ trống của ḷng ḿnh, ngoại trừ T́nh Yêu của Đấng đă chịu chết trên thập giá v́ tôi... Càng lớn tuổi, tôi càng thể nghiệm lời của thánh Âu Tinh:’Chúa đă tạo nên con cho Chúa, nên ḷng con luôn luôn khắc khoải măi cho tới lúc nào con được gặp Chúa mới thôi!’ T́nh yêu Chúa chẳng khác nào rượu quư, muốn đổ vào b́nh phải trút hết những thứ khác đi.
Chính những sự cố xảy ra năm 1945 đă làm cho cái b́nh đời của tôi được đổ vơi đi những thứ nó đang đầy ắp: trước hết là sự sụp đổ về vị trí xă hội trước cách mạng mùa thu, nó đến như một cơn tỉnh mộng, ngoài sự sụp đổ địa vị của gia đ́nh nó c̣n bắt tôi phải đặt lại vấn đề nấc thang giá trị về nhân sinh, sự sụp đổ của một nhân sinh quan: nửa phong kiến nho giáo, nửa Tây học theo chủ nghĩa tự do tư sản. Cũng nên biết rằng trong nhân sinh quan của Kitô giáo cũng rất nhiều điều trái với chủ nghĩa tự do tư sản như: chống cá nhân chủ nghĩa, chống tự do quá trớn, chống lạm quyền tư hữu, chống tinh thần tài phiệt...
Lúc ấy tôi đang ở tại làng là v́ sau đảo chính Nhật, thân phụ tôi gởi tôi về quê là nơi người hưu trí từ năm 1942. Tôi sinh hoạt trong hàng ngũ Thanh Niên Cứu Quốc tại làng tôi là làng Gội Mỹ, với chức vụ thư kư Ủy Ban Hành Chánh xă Mỹ Ḥa, sau đó tôi và em gái kề được cấp Ủy Việt Minh điều động lên Tỉnh xung vào đội Tuyên Truyền Xung Phong. Xét về mặt đời mà nói th́ tôi đă phụ ḷng Cách Mạng, v́ tôi đă tự ḿnh đi vào con đường khác. Tại sao? Là do ơn Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất và căn bản, đă dùng những nguyên nhân đệ nhị theo quy luật tự nhiên để tôi có thể đi đến với Ngài.” (trg 70)
Chưa có bằng tú tài phần II, tác giả được phép vào Huế cuối niên học 1945-46 để dư thi. “Do sự giới thiệu của một người bạn thân là tín đồ Phật giáo, tôi được Thượng Tọa Thích Trí Thủ cho tá túc tại chùa Linh Quang để học thi. Trong thời gian trọ ở chùa, trong tâm trạng bơ vơ buồn nản, đôi khi tôi đă vào chiêm bái tượng Phật, lần lần t́m được sự an ủi. Nơi đạo Phật tôi chỉ tiếp thu phần tiêu cực, đánh giá cuộc đời thế tục dưới cái nh́n bi quan yếm thế, muốn sống đời tu hành lánh xa bụi hồng kiểu Thúy Kiều, hay Lan trong Hồn Bướm Mơ Tiên, chứ không thâu nhận mặt tích cực của giáo lư nhà Phật, mà đối với tôi chỉ là cái áo tri thức khoác vào một cuộc đời ‘tị thế’ mà thôi.”
Sau tú tài II, tác giả từ giă Huế về quê với tâm niệm ḿnh là một phật tử với ư nguyện sẽ xuất gia khi gặp dịp thuận tiện. Trên đường về quê tác giả ghé thăm anh Vương Đ́nh Lương, lúc ấy làm hiệu trưởng trường trung học tư thục Đậu Quang Lĩnh. “Anh Vương Đ́nh Lương mời tôi cộng tác. Thế là tôi lại trở về với môi trường tư thục Công giáo. Được trở về sống trong cái khí quyển mà tôi đă hấp thụ sáu năm tại trường Thiên Hựu Huế, tôi như một ngọn cây đang héo rũ, bỗng được tưới mát hồi sinh. Ngoài các sinh hoạt chức nghiệp, tôi chỉ đi lại với các linh mục, các đại chủng sinh giúp nhà xứ Nghĩa Yên. Dần dần tôi mới khám phá ra rằng chỉ có môi trường Công giáo mới hợp với con người tôi.” (trg 75)
“Sau cách mạng 45, nền văn hóa gia đ́nh, xă hội bị quét sạch, sinh hoạt đoàn thể lấn áp các mối tương giao liên-ngă-vị, có t́nh đồng chí, không c̣n t́nh bạn. Sau những buổi sinh hoạt có tính cách cao trào, về gia đ́nh như thể có một cái ǵ nhuốm vẻ ủ dột thê lương. Trái lại, trong các xóm đạo, các gia đ́nh Công giáo, tương quan vẫn có cái ǵ đằm thắm sâu xa, mật thiết. Nhất là những giờ kinh sáng tối. Mỗi giáo xứ, mỗi Cộng đoàn Công giáo quả là một gia đ́nh! Sau này tôi mới biết rằng là nhờ phạm trù nhiệm thể và chi thể Đức Kitô mà vấn đề được giải quyết mỹ măn đến mức tối đa. Người Công giáo cá nhân cũng như tập thể đều là "bí tích của Đức Kitô", là sự hiện diện và tác động của Ngài trong hiện tại và nơi này (hic et nunc).
Do đó, tiếp cận với giới Công giáo vừa có cái ǵ làm ḿnh bị hấp dẫn, vừa có cái ǵ làm ḿnh ngài ngại, đôi khi thấy rờn rợn như thể đến gần cầu giao điện cao thế! Thế giới Phật giáo có hiền ḥa mát dịu, thế giới Công giáo có cái ǵ gay gắt, cường bạo. Xét cho cùng, tôi không t́m sự thoải mái hơn là được tiếp cận với một Người đang hiện diện và tác động ‘hic et nunc’. Xét qua suốt 2000 năm lịch sử, tôi nghiệm rằng Hội Thánh với những sai lầm không phải là một cộng đoàn lư tưởng, mà chỉ là một số người đủ loại, y như số người hành khất tật nguyền bên lề vệ đường, bỗng được gọi vào dự tiệc cưới, như trong bài ngụ ngôn mô tả Nước Trời vậy.”
6 – Ai muốn theo Ta
Vào năm 1948 tác giả có quyết định gia nhập Đại Gia Đ́nh Công Giáo. “Trong tâm tư th́ vậy, nhưng đi đến việc thực hiện quả là c̣n cách núi ngăn sông! Trước hết là những khó khăn trong tâm tư của chính ḿnh, nhất là cảm tưởng phải xa ĺa tất cả: xa ĺa với gia đ́nh, bạn bè, hàng xóm, và cả mấy mươi năm truyền thống văn hóa.
Rồi tính đến việc xưng tội là phát nản: lột trần ḿnh ra trước một người không chắc ǵ thấu hiểu được ḿnh, tài đức chưa chắc đă hơn ḿnh. Rồi đổ nước lên đầu, lè lưỡi ăn bánh thánh phải chăng là phù thủy, ma thuật? Ngay cả một số từ ngữ xa lạ: Thân lạy Đức Cha! Trọn tốt trọn lành, sáng danh Chúa Cả, đức cậy, lễ săng ti, lễ di-xúp, chầu lượt, cấm pḥng... gần như ngoại ngữ, có cảm tưởng như tiếng thượng! Rồi đến phẩm trật Hội Thánh, các điều răn, như cả một hệ thống gông cùm trói buộc. Các tượng ảnh th́ toàn là mũi cao, mắt xanh, áo quần xa lạ... nghĩ đến phải ẵm nhận lấy tất cả cái ấy, thật là ớn lạnh, toát mồ hôi.
Cả việc tế tự cũng thế: tai măi quen với ‘khởi chính cổ’, bát âm nhă nhạc, giọng văn tế, cung chầu văn; nay phải vào thế giới nhạc Grégorien, đàn Orgue, hay đấy nhưng thật xa lạ. Khi thờ phụng th́ thay v́ đỉnh trầm nghi ngút, chỉ c̣n b́nh hương lủng lẳng 'đưa xít' vào mặt người ta, như xông vào kẻ bị ốm! Rồi các nữ tu kiểu áo, kiểu mũ, trông sao quá nặng h́nh thức lăng nhăng lố nhố!
Nhân dịp này, tôi nghĩ chúng ta cần phải thẳng thắn và can đảm nh́n nhận rằng điều mà Các Mác gọi là ‘tha hóa’ tôn giáo không phải là không nói lên một khía cạnh nào đó của một người đi từ thế giới vô tín ngưỡng, bước vào thế giới tín ngưỡng: bỏ cả quê hương, cha mẹ, anh em, bỏ cả chính ḿnh để vác thập giá: không tha hóa là ǵ? Chính việc ‘nhảy tùm’ xuống vực thẳm không lường ấy làm cho việc theo đạo trở nên khủng khiếp, v́ đây cuối cùng là phó thác cho Thiên Chúa, chứ không phải là chấp nhận một học thuyết, một định luật khoa học.
Tôi nghĩ, thật không có ơn Chúa th́ khó mà vượt qua được. Một chàng trai 13 tuổi, trước khi nhập trường Thiên Hựu, đă khẳng định với gia đ́nh ḿnh: con mà theo đạo? Không bao giờ! Vậy mà bây giờ chịu cúi đầu để một cha xứ nhà quê dội nước lên đầu th́ quả là một phép lạ! Sau gần 40 năm chịu phép rửa mà nhiều lúc chính bản thân tôi cũng c̣n lấy làm kinh ngạc!
Lại c̣n những trở ngại khách quan: Đối với một nhà nho cỡ lớn ở đất Nghệ, Tĩnh, có đứa con theo đạo là cả một sĩ nhục...khi có vị nào nhắc đến thằng con trai bỏ truyền thống của cha ông để đi theo ‘Tây Dương Tả Đạo’, nhất là tôi, vốn là một người con, người cháu được khen là hiếu thuận. Năm 1948 ở Bùi Chu, Phát Diệm, phong trào ‘Liên Tôn Chống Cộng’ đă bắt đầu tổ chức. Sự ṭng giáo của tôi có thể gây ra ngộ nhận. Đă có kẻ nói:’đạo nghĩa ǵ! Bố nó bảo nó giả vờ theo đạo để có cớ liên lạc với tụi cha cố chống cộng đấy’, một tác hại lớn cho thân phụ tôi vốn thuộc thành phần quan lại, địa chủ.
Một người yếu đuối như tôi tưởng như khó ḷng vượt qua được bao nhiêu là cửa ải gian nan, cho nên tôi cứ chần chừ lần lữa, tuy rằng ư muốn ṭng giáo là do tự tôi hoàn toàn, chứ không ai rủ rê, lôi cuốn. Mà tôi cũng không thổ lộ với ai cả, ngay cả với anh Vương Đ́nh Lương, v́ nói ra với ảnh th́ gần như là hứa quyết, sợ sau lại nuốt lời, xấu hổ! Thật là ‘nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?’ Tôi như bị bỏ rơi, không cảm nghiệm được sự an ủi nào cả, ngoại trừ bóng dáng dịu hiền của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong nhà thờ Nghĩa Yên mà thỉnh thoảng tôi đến xin ơn phù trợ.
Lúc ấy anh Viện tôi ở Pháp không hy vọng có thể trở về Việt Nam, lại cũng như người anh hai tôi, cả hai đều bị chứng lao trầm trọng, lại không có con trai nối dơi tông đường. Trước sự hối thúc van nài của cha mẹ, họ hàng, và nhất là người anh sắp chết, tôi đành nhận lời đính hôn với một thiếu nữ mà tôi chỉ đi ‘coi mắt’ có một lần, không yêu, không ghét, rồi chưa đầy một tháng, gia đ́nh tôi xin cưới gần như để chạy tang anh tôi. Đối với tôi như là một sự đầu hàng. T́nh trạng căng thẳng khiến sức khoẻ dần dần kém sút, bệnh đau dạ dày tái phát trầm trọng. V́ đă bỏ ư định ṭng giáo nên tôi hướng về nơi cửa Phật để t́m nguồn an ủi xoa dịu. Đức Phật chỉ an ủi tôi khi tôi vào chùa, chứ ngài không đồng hành với tôi trên đường đời cụ thể đầy eo sèo thực tế. Ngài h́nh như chỉ có diện thoát tục chứ không nhập thể dấn thân, mà tôi th́ phải lặn ngụp vào cái biển đời đầy sóng gió.
Thế rồi vào đầu năm 1948 người anh thứ hai tôi mất. Tôi gần như trở thành trưởng nam trong gia đ́nh, nên việc lấy vợ sinh con là bổn phận thiêng liêng hầu như tuyệt đối: ‘Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại’. Thân phụ tôi muốn tôi phải trở về dạy học tại trường Hương Sơn gần nhà. Suốt mấy tháng hè 1948-1949 ở nhà trong bầu không khí vô cùng ảm đạm, Bệnh mất ngủ và đau dạ dày làm tôi kiệt sức, thần kinh chứng vùng lên gào thét như điên...phần nào oán hận ai đă sinh thành, lại oán hận luôn cả Thượng Đế! Có lúc tôi gầm lên: ‘Créateur, si tu existes, je te hais!’ (‘Hỡi Đấng Tạo Hóa, nếu Ngài hiện hữu, tôi oán ghét Ngài!’) Và rồi cái ư định không lập gia đ́nh trở thành một quyết định không ǵ cưỡng nổi.
Lúc ấy sư Mật Thể v́ được bầu vào Quốc Hội nên từ Huế tản ra Nghệ Tĩnh, ngụ tại một ngôi chùa ở Đức Thọ. Tôi đến xin ư kiến. Sau khi toan tính những hơn thiệt ngài kết luận: anh hăy can đảm tŕnh bày với cụ, là bậc túc nho, tôi chắc cụ sẽ tùy ư anh muốn. Được sự khích lệ của sư Mật Thể, tôi tỏ bày mọi chuyện với thầy tôi. Thật vô cùng ngạc nhiên, rốt cuộc thầy tôi bảo: Ta cũng đoán trước mọi chuyện. Thôi, ta cũng tùy con vậy! Sau đó, mẹ tôi cũng chỉ thở dài khi tôi xin được tháo gỡ mối ràng buộc, người im lặng đứng dậy nhẹ nhẹ nói: Ừ, th́ tùy con. Chiều hôm sau mẹ tôi đến nhà vị hôn thê của tôi xin cho tôi được từ hôn v́ lư do sức khoẻ.
Tháng 9 năm 1948, trường trung học Hương Sơn khai giảng, sức khoẻ đă tạm phục hồi, tôi tiếp tục nghề dạy học tại huyện nhà. Lại một sự trùng hợp đầy ư nghĩa: ngôi trường này tiếp cận giáo xứ Đông Tràng, cách nhà tôi quăng chừng 5 cây số. Tôi được trọ đêm tại nhà anh Trần Đức Đào, một giáo viên người Công giáo xứ Đông Tràng. Thế là tôi được đặt vào môi trường Kitô giáo, dưới mái nhà của một bạn đồng nghiệp rất tốt.”
TIẾT BỐN
THỰC HIỆN ƠN GỌI: VINH – NHA TRANG
7 - Con xin theo Thầy
Đến giữa năm 1949 mọi trở ngại gia đ́nh đă được tháo gỡ. Những ngày ở trọ nhà anh Trần Đức Đào, chiều tối đọc kinh, sáng sớm đi lễ, tác giả như cá được thả vào nước. “Nhất là những lúc quỳ gối trước Mẹ Maria, Chúa Giêsu thực sự đă trở nên người bạn đồng hành trong cuộc sống hiện tại đem lại ư nghĩa cho cuộc sống mà cách đó một năm tôi thấy như chỉ là những oan khiên nghiệp chướng mà Đức Phật chỉ đem lại cho một vài phút an ủi, rồi lại để tôi thui thủi một ḿnh giữa đường đời cô quạnh. Mỗi lần chuông Truyền Tin gióng lên, đọc đến câu: ‘Và ở cùng chúng tôi’, tôi lại thấy như Đức Mẹ dẫn tôi đến với Ngài mà âu yếm bảo:’từ nay con không c̣n cô đơn nữa, Con của Mẹ đến với con đây’: tôi t́m được Chúa Giêsu là bạn. Tôi phát nguyện thầm dâng trọn cuộc đời cho Ngài, yêu mến tất cả mọi người trong Ngài, như Ngài, và nhờ Ngài.
Và từ trung tâm ḷ lửa yêu mến ấy, mối tương quan liên - ngă - vị khác bỗng như cũng được phần nào dự vào tuyệt đối tính và vĩnh cửu tính. Hiện thực là Đức Giêsu sinh hoạt trong mỗi linh hồn và trong Hội Thánh, nhất là trong các Bí Tích. Do đó, bước đầu là phải nhận bí tích Thánh Tẩy. Bí Tích Thánh Tẩy là bước phải đi tới. Chỉ c̣n vấn đề là thời điểm thuận lợi. Cái quyết định sẽ rửa tội, tôi chỉ mới nói với ḿnh như thế vào những ngày đầu niên học 1948-1949, nhất là những lúc cầu nguyện tại nhà thờ Đông Tràng hay khi dự các buổi kinh chiều tại nhà anh Đào, nhưng chưa tŕnh bày với ai cả.
Thế rồi lễ Giáng Sinh năm 1948 gần đến. Nhân dịp này tôi xuống Đức Thọ thăm gia đ́nh anh Vương Đ́nh Lương. Đêm Noel tôi dự lễ tại nhà thờ Nghĩa Yên. Ngày hôm sau được Linh Mục Vương Đ́nh Ái mời dự bữa cơm mừng lễ với các giáo viên Đậu Quang Lĩnh. Sau bữa cơm tôi thưa với cha Ái về ư muốn lănh nhận Bí tích rửa tội. Linh mục tỏ vẻ vui mừng và ngơ ngác bán tín bán nghi: - Thầy nói thật à? - Thưa cha thật đấy ạ! Cha Vương Đ́nh Ái nói: - Giáo lư th́ thầy đă học trong sáu năm tại trường Thiên Hựu, chỉ có việc rửa tội mà thôi. Thầy muốn khi nào? - Thưa cha, càng sớm càng tốt.
Về gia đ́nh tŕnh với thầy mẹ tôi ư định ṭng giáo th́ thầy tôi bảo: Con đă cho thầy biết tự sự, thầy đă thấy rơ rằng Phật giáo đối với con chỉ là một cách t́m an ủi thoa dịu ưu phiền mà thôi. Nhưng nếu con t́m được hạnh phúc trong niềm tin Chúa th́ thầy cũng mừng cho con. Thầy chỉ ngại là việc con theo đạo sẽ bị hiểu lầm và xuyên tạc. Con cố tránh xa những chuyện dính líu vào chính trị rắc rối, cứ chuyên tâm vào đời sống tôn giáo thuần túy, khỏi liên lụy đến gia đ́nh là được. Và sau đó, tôi đă cất bước... Ngày 9 tháng 1, năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, linh mục rửa tội là cha xứ nghĩa Yên: L.M. Nguyễn Ngọc Bang, LM. dâng lể, cha xứ Yên Nhiên, L.M. Phúc. Cha đỡ đầu: Vương Đ́nh Ái.”
8 & 9- Cuộc đời hiến sĩ
“Sự lo ngại của thân phụ tôi h́nh như có cơ sở: tôi trở nên đối tượng của một sự nghi vấn nào đó về chính trị. Sự hiện diện của tôi trở nên một thắc mắc, một đe doạ cho gia đ́nh, có thể phiền đến thân phụ tôi. Do đó một tuần tôi chỉ về nhà vài buổi. Tôi cảm tưởng rằng sự thay đổi ấy có một lư do sâu xa hơn nữa: h́nh như trong mối tương quan liên ngă vị ở gia đ́nh tôi đang đem đến một yếu tố mới. Ngoài cái phong thái một người con hiếu thảo, một anh trai hiền, một cậu tú b́nh dân, từ nay, nơi tôi bắt đầu có cái phong thái của một người chỉ là người, thân hữu với bất cứ ai trong t́nh người thuần túy b́nh đẳng. Con người không nhăn hiệu, không danh vị nào khác ngoài cái ngă vị chủ thể của ḿnh. Cái hương vị t́nh người thuần túy, đặc điểm của Kitô giáo mà tôi nếm lần đầu tiên năm 1938, khi được vị linh mục giáo sư bắt tay mời ngồi vào chiếc ghế ‘phôtơi’ đối diện như trao đổi với một người bạn thân hữu. Nếu vô phúc mà các mối liên hệ t́nh đời bị sứt mẻ, đứt đoạn, th́ t́nh anh chị em trong Đức Kitô muôn đời vẫn c̣n nguyên vẹn.
Tôi cảm nghiệm rằng nếu Thiên Chúa là t́nh yêu và con người được tạo dựng theo h́nh ảnh người, th́ tự con người rốt cuộc cũng chỉ là t́nh yêu. Không yêu riêng một ḿnh ai ngoài Chúa, v́ chỉ trong Chúa mới thực hiện được cao vọng yêu mọi người. Yêu riêng mỗi người như chỉ có một ḿnh người ấy, chứ không phải thương chung tất cả mọi người, nhất là không yêu chung Nhân Loại viết hoa. Chữ hoa ấy chỉ là hoa ḥe, hoa cành lá, khác với chữ hoa viết riêng: Cô Xoài, cậu Ớt, ông Bưởi bà Chanh... đấy mới thực sự là đối tượng t́nh yêu chân thành. Con người chỉ tự thể hiện được chính yếu tính của ḿnh trong t́nh yêu mà thôi. Và đó là ư nghĩa và cứu cánh của nhân sinh.
V́ thế, tôi nghĩ rằng người Kitô hữu sống độc thân dâng ḿnh cho Thiên Chúa và trao ban cho mọi người, đem t́nh yêu đến cho mọi người, không nên gọi là ‘đi tu’, mà nên gọi là hiến dâng, hiến sĩ. Bởi v́ chữ ‘tu’ dầu sao cũng mang theo một âm hưởng thoát trần, lánh thế, trong lúc người hiến dâng đời ḿnh cho t́nh mến Chúa yêu người, đem t́nh yêu đến cho mọi người, mời gọi mọi người sống t́nh yêu từng ngày, mọi nơi, mọi lúc như gieo mầm sống trong ḷng Đất Mẹ để được triển nở trong ḷng Cha trên Trời, chứ không phải ‘thoát trần một gót tiên thiên’, làm ‘cái thân ngoại vật’ để phiêu diêu lăng đăng: thế mới đúng là con người chân đi bén đất, vác thánh giá t́nh yêu nhỏ máu, mồ hôi, nước mắt sâu vào ḷng đất cho đất nẩy mầm sinh hoa kết quả.” (trg 102).
“Tôi nghĩ, nếu năm 1949 tôi không được ǵn giữ bao bọc bởi Hội Thánh Việt Nam trong Đức Kitô th́ ngày nay tôi sẽ trôi dạt ở phương trời nào? Bên trong tâm hồn là như vậy, nhưng trong hoàn cảnh năm 1949 tại Khu Tư, với những biến cố gây nên do sự căng thẳng giữa chế độ mới và Hội Thánh thời ấy, những xích mích giữa chính quyền địa phương và Liên Đoàn Công Giáo th́ sự có mặt của tôi tại gia đ́nh và địa phương trở thành một chướng ngại...
Ư định dâng ḿnh vào nhà Chúa càng trở nên kiên định trong ḷng tôi. Các linh mục phụ trách Đại Chủng Viện Xă Đoài có ư khuyên tôi vào Đại Chủng Viện địa phận chuẩn bị làm linh mục triều. Nhưng tôi đă chọn cuộc đời tu sĩ. Mà lúc ấy ở Nghệ Tĩnh chỉ có một ḍng tu duy nhất là ḍng Phanxicô nên không có vấn đề chọn ḍng này hay ḍng khác. Thế là niên học 1949-1950 tôi xin thôi dạy học tại Hương Sơn, xin phép thầy mẹ tôi xuất gia. Gia đ́nh không cản trở, và v́ t́nh trạng căng thẳng nói trên, nên tôi thấy đó cũng là một giải pháp ổn định. Tôi rời gia đ́nh vào một chiều mùa thu năm 1949, sau buổi cơm tối. Tôi lặng lẽ rút lui bằng ngơ cửa sau bếp, gạt nước mắt quay đầu chạy, bên tai vang lên tiếng khóc thét của đứa em lên ba: ‘nỏ mô! nỏ mô!’ bày tỏ sự phản đối.”
Nguyễn Khắc Dương vào ḍng Phanxicô sống đời dự tu đầu niên khoá 1949-1950. Tác giả nhập lớp măn khóa (Finissant) với 12 khóa sinh (gồm có người viết này là Bửu Sao) đă học xong chương tŕnh tú tài II, ban A (Cổ điển La-Hy), nay thêm tác giả là 13 người. Đầu niên học 1950 -1951, các chủng sinh đồng khóa vào Tập viện dip lễ Cha Thánh Phanxicô, ngày 04/10/1950. Từ nay tác giả mang tên ḍng là Gabriel.
Măn năm Tập viện, sau ngày được khấn tạm 3 năm, bề trên quyết định đưa chúng tôi vào Nha Trang là nơi có Viện triết và thần học của ḍng Phanxicô. Ngài xin phép chính quyền, song chờ đợi quá lâu không được trả lời, ngài quyết định cho chúng tôi đi lén ra Thanh Hoá, lánh vào một xứ đạo ở Sầm Sơn và đêm khuya xuống thuyền vượt biên ra Phát Diệm, lên Hà Nội rồi từ đấy vào Nha Trang.
TIẾT NĂM
TU LUYỆN
10 - Chặng đàng Thánh Giá
Từ năm 1954 đến 1956, Gabriel đă khởi đầu một chặng đàng Thánh Giá quyết liệt. “Nhờ được an tâm về mặt gia đ́nh, nên con đường tu tŕ của tôi, cho đến ngày vào Nha Trang và bị động viên giữa năm 1954, kể ra là rất thuận buồm xuôi gió, ít ra là về mặt ngoài. Trong thời gian ở Tập viện Vinh, đă có một sự kiện ảnh hưởng quyết định trên đời tôi. Đó là việc cha linh hướng cho tôi xem ‘Chuyện một linh hồn’ (Histoire d'une âme) của Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng, tôi vốn hướng ḷng về một cuộc đời tịnh tu chiêm niệm mà nền tảng là nguyện gẫm. Tôi t́m đọc tiếp thánh Gioan Thánh Giá và nữ thánh Têrêsa Avila.
Từ khi c̣n trong Khu Tư, tôi đă trực cảm rằng h́nh như con đường của ḿnh là đường lên Cát Minh hơn là đường của vị thánh nghèo khó thành Assisio. Ḍng Phanxicô dường như hơi có xu hướng bộc phát ra bên ngoài, thiên về cảm tính nhiều hơn. Vả lại trong tôi có cái ǵ không hợp với những cái khuôn khổ, lề luật, mực thước g̣ bó làm tôi thấy ngộp thở. Tôi thấy Chúa sống ba năm với các môn đồ cũng có cái ǵ bôn ba lăng tử. Một câu hỏi luôn luôn lởn vởn trong đầu óc tôi: tinh thần duy lư Hy Lạp và duy luật Lamă, cũng như cái hiếu động và duy xă hội tập thể của Tây Phương có phù hợp với con người Đông phương không?
Đời các vị ẩn tu e có lẽ chính là điều tôi ao ước. Từ tấm bé hai chữ ‘tu hành’ luôn gợi lên cho tôi h́nh ảnh những vị thiền sư, đạo sĩ, mỗi người một ḿnh ra đi theo con đường riêng của họ; cứ như thế mà theo kiểu gieo hạt tung rơi, chứ không thành luống, thành hàng. Có chăng th́ chịu sự hướng dẫn nhất thời của một sư phụ, rồi lại ra đi một ḿnh trên đường t́m gặp Chúa..; đó là huyền nhiệm chỉ có một ḿnh ḿnh với Chúa mà thôi... cũng như Gioan Tẩy giả, giới thiệu mọi người với Chúa Giêsu, rồi rút lui để một ḿnh họ đối diện với Ngài.” (trg.119)
“Phần tôi, rời khỏi khí quyển Nhà tập, vào khuôn khổ học viện tôi thấy có một sự thay đổi: trước kia tôi là một người ham học, mê học, nhất là học triết lư. Nay tự nhiên tôi không c̣n mê học nữa, v́ tôi đă gặp chính Đấng Chân Lư tự thân là Chúa Giêsu Kitô, như theo sách Gương Phước: ‘Các nhà thông thái hăy im tiếng để cho lời Ngài soi sáng’. Tôi thèm muốn cuộc đời của cô Maria, suốt đời ngồi dưới chân Chúa mà nh́n ngắm, lắng nghe. Bây giờ tôi chỉ muốn cuộc sống của các thầy trợ sĩ (convers): cầu nguyện âm thầm trong sự kết hợp với Chúa.
Suốt 3 năm ở Nha Trang tôi đă làm phiền các cha phụ trách học viện và linh hướng về vấn đề này. Suy lại, tôi có nhiều tác phong thiếu khiêm nhường và yêu thương, thiếu tinh thần cộng đoàn thực sự. Những sự va chạm bên ngoài bắt đầu, dần dần tôi thấy như lạc lơng, việc tu đức c̣n có phần kém sút, một số tật hư thói xấu bắt đầu tái xuất hiện. Đời sống thiêng liêng của tôi do đó cứ giảm sút dần, ngày càng thấy nguội lạnh khô khan. Cha phụ trách môn triết đặt vấn đề vận động cho tôi được xuất ngoại chuyển sang tu ḍng Cát Minh ở Pháp hoặc Ấn Độ. Nhưng với những người ở vào lứa tuổi như tôi, đang bị luật động viên quân sự chi phối th́ việc xuất ngoại không đơn giản. Thế rồi, đùng một cái, tôi và một số thầy bị gọi tŕnh diện nhập ngũ.” (trg.123)
“Thế là tháng 4 năm 1954 chúng tôi rời khỏi nhà ḍng lên đường vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Bấy giờ quân đội Pháp đă tính chuyện rút lui, Việt Nam hóa toàn diện quân đội của chính quyền Quốc Gia. T́nh h́nh chính trị th́ đất nước chia đôi, mà gia đ́nh tôi lại ở miền Bắc. Rơi tỏm vào cuộc sống binh lính, đầy những tập tục không mấy thanh tao, tôi như rơi xuống hỏa ngục trần gian. Sau 6 tháng học tập, tôi được điều động lên Buôn Mê Thuột với cấp bậc thiếu úy, phụ trách Ban tiếp vận Pḥng Tư, Quân Khu 2. Ngoài giờ làm việc tại văn pḥng, cuộc sống của tôi là dự Thánh lễ, đọc kinh, lần hạt cùng một vài chủng sinh và tu sĩ bị động viên, sống tại pḥng mặc áo lễ của nhà thờ tuyên úy.
Hai năm trôi qua vô sự, chỉ có một chấm đen là tin buồn về vụ cải cách ruộng đất tại miền Bắc. Thân phụ tôi bị đấu tố, kết án 20 năm tù, vừa đi cải tạo được vài hôm th́ từ trần, c̣n gia đ́nh th́ mẹ và các em sống cơ cực. Tôi cậy trông vào mầu nhiệm ‘khổ giá’ với ḷng tin vào t́nh yêu cứu độ, xa gần gắn liền với nổi khổ đau của ‘Con người đau khổ’ trên Thánh giá. Hơi thở cuối cùng của thân phụ tôi trong rừng sâu miền núi Hương Khê, những giọt nước mắt của mẹ tôi, anh chị em tôi – khóc cha, khóc chồng – không đến nổi là hoàn toàn vô nghĩa dưới cái nh́n của một Kitô hữu hàng năm ngắm Đàng Thánh Giá.” (trg 126)
11 - Tinh thần bất định
Sau hơn hai năm quân vụ, vào khoảng tháng 7/1956 Gabriel giải ngũ, trở về nhà ḍng. Cuối tháng 9, thầy cùng ba anh em khác được nhà ḍng đưa sang Pháp tiếp tục học Thần học.
“Đúng ngày 4 tháng 10, nhằm lễ Cha Thánh Phanxicô, chúng tôi cặp bến tại Marseille và được đưa thẳng đến Học Viện Orsay, cách Paris khoảng 20 cây số. Ở đây bạn đồng tu toàn là người Pháp, từ phương trời nào cũng là anh em một đại gia đ́nh thiêng liêng sống trong tinh thần nghèo khó, khiêm hạ, vui vẻ với ít nhiều tính nghệ sĩ phóng khoáng. Tại đây mối t́nh đầu với nàng Triết gần như là tắt ngúm. Nay tâm trí tôi hướng về một địa danh khác: Port Royal ! Nay Port Royal chỉ c̣n là di tích một viện tu hoang phế, nhưng ba thế kỷ trước đó thiên tài Pascal đă lui về sống một cuộc đời ‘thần hiệp’, rời bỏ thế giới trí tuệ để đi vào thế giới của Đức Ái. Tâm hồn tôi luôn hướng về núi Cát Minh của Thánh Gioan Thánh Giá, như có ư thức rằng có lẽ ḿnh thuộc gia đ́nh Cát Minh của Gioan Thánh Giá, và hai thánh Têrêxa d'Avila và Hài Đồng Giêsu.”
Thế nhưng Gabriel bị ràng buộc bởi t́nh cảm gắn bó với gia đ́nh Phanxicô, nơi đă dành cho anh bao nhiêu t́nh nghĩa anh em, cha con trong 5 năm. Xin chuyển sang một ḍng khác không khỏi có một cái ǵ như là phụ ân, phụ nghĩa. Trong t́nh trạng như thế đời sống tâm lư của Gabriel trở nên lung lay: tâm chứng hồi xưa lại xuất hiện, anh gần như rơi vào t́nh trạng một kẻ bất thường, đến độ phạm phải một việc có tính cách là một ‘tội lỗi", vừa có tính cách là một tai nạn đối với một người anh em trong cộng đoàn. Sự việc ấy là dịp cho các vị có trách nhiệm quyết định cho Gabriel tạm ngưng đời sống tu hành một thời gian.
“Thế là sau khi hết thời gian khấn tạm ba năm, tôi rời khỏi ḍng Phanxicô ra ngoài đời sống một ḿnh giữa kinh thành Paris phồn hoa đô hội, đầy trăm ngh́n cạm bẫy: t́nh dục, tư tưởng chính trị v.v... với hai bàn tay trắng, một sức khoẻ sút kém, một tinh thần bị hoang mang đến cực độ! Lúc ấy anh Viện tôi là Tổng thư kư hội Liên Hiệp Việt Kiều, tổ chức các kiều bào có lập trường hướng về miền Bắc; tại ṭa Đại sứ chính phủ miền Nam, một số bạn tôi lại là tay chân của các anh em Ngô Đ́nh, cùng một số linh mục muốn tôi trở nên cán bộ cho chủ nghĩa ‘Nhân Vị’! Đó là chưa kể đến các ông Phan Huy Quát, Hà Thúc Kư, Đặng Văn Sung, hết thảy đều là con cái của những người bạn đồng liêu với thân phụ tôi.
Nhưng đối với tôi, tất cả đều vô nghĩa, không có tác dụng ǵ cả! Ngay đến việc ghi danh học triết tại Sorbonne, cái giấc mộng lớn nhất năm học trường Khải Định, nay ở trong tầm tay, tôi cũng không màng. Tất cả: ‘Vanitas vanitatum!’ (‘phù du và phù du’) Quyết định đầu tiên là trở về Việt Nam ngay tức khắc. Bề trên ḍng gợi ư tôi ghé qua Roma hành hương, tôi cũng chẳng thấy ǵ hấp dẫn, không khéo nh́n sự thực lại có điều thất vọng. Chầu Ḿnh Thánh Chúa tại một túp lều tranh, tại một xóm nghèo ở miền thôn dă ở Việt Nam có lẽ gần Nadarét hơn, gần Bêtania hơn. Các viện phung hủi ở Quy Ḥa, Di Linh, Núi Sạn Nha Trang có lẽ gần Golgotha hơn. Ở trần gian này, đâu có Ḿnh Thánh Chúa là có đỉnh Tabor, là có Núi Sọ; c̣n ngoài ra th́ ở đâu cũng là h́nh bóng thế gian này rồi sẽ qua đi mà thôi! Tôi h́nh dung về Việt Nam sẽ xin trở lại ḍng Phanxico với tư cách là cư sĩ (Oblat), miễn sao được ở dưới cùng mái nhà với Ḿnh Thánh, Máu Thánh Chúa là lư tưởng, c̣n th́ làm ǵ cũng được.
Tôi đă lấy vé máy bay do nhà ḍng đài thọ, nhưng anh Viện tôi cứ khuyên tôi ở lại Pháp. Cha Pacifique Nguyễn B́nh An, bấy giờ bề trên ḍng Phanxicô Việt Nam , viết thư bảo ngài sắp sang Paris , hăy đợi ngài gặp đă rồi hăy quyết định. Khi sang, ngài thuyết phục tôi nên ở lại Pháp, ghi danh học Sorbonne, nói rằng Hội Thánh Việt Nam rất cần những người có tŕnh độ văn hóa cao, tôi là người đă được nhà ḍng tốn kém nhiều công sức gởi sang Pháp th́ tôi có bổn phận phải biết lợi dụng thời cơ thuận tiện mà trau dồi kiến thức. Ngài nói: anh phải khiêm tốn theo con đường dung thường, đừng liều ḿnh vào con đường đặc biệt, trừ khi có dấu gọi rơ ràng. Cứ ở lại học Sorbonne, đồng thời xin Chúa soi sáng thêm, t́m ơn kêu gọi. Đừng có ngại khó khăn một ḿnh ở Paris , tôi sẽ giúp đỡ anh. Tôi vâng lời ngài ở lại Pháp.
TIẾT SÁU
T̀M MỘT NẾP TU: ĐALAT – BUÔN MÊ THUỘC – SAIGON
12 - T́m một nếp tu
Thế là từ năm 1957 đến 1960 – là năm tốt nghiệp Cử nhân triết học, Nguyễn Khắc Dương sống cuộc đời của một du học sinh tại Pháp một phần nhờ sự giúp đỡ của ḍng Phanxicô Paris, một phần do tiền trợ cấp cho các sinh viên nghèo lưu trú ngụ tại kư túc xá do một linh mục Hội Thừa Sai chủ trương, một phần do thù lao kèm dạy trẻ em về các môn La-tinh, Anh văn. Tác giả tự thú:
“Xét ḿnh lại có lẽ tôi đă không làm tṛn bổn phận, mà chỉ vâng lời hứa nửa vời: suốt 9 năm ở Pháp, nỗ lực của tôi là kiếm một ḍng tu, chứ việc học triết th́ đă học hết chương tŕnh ở học viện Phanxicô Nha Trang. H́nh như cuối cùng tôi chỉ thâu nhận những ǵ là Kitô-tính trong các tổng hợp gọi là văn minh Âu-Tây, c̣n những cái khác như duy lư Hy lạp, duy luận La-mă, ngoài Kitô giáo tôi đều dị ứng và không chấp nhận. Trong tôi dường như vẫn c̣n có cái ‘hạt nhân đồ nho’ không ǵ phá vỡ được.
Triết học Tây phương có thể là sắc bén, đôi khi sâu sắc, nhưng ít thâm thúy, tất cả như bị phạm trù hóa, đối thể hóa, ngôn từ hóa, hệ thống hóa, cơ giới hóa một cách khủng khiếp. Thỉnh thoảng có Pascal, Kierkegaard, Bergson, Max Scheller, Gabriel Marcel, nhưng dường như các triết gia này bị xem như ḍng phụ lưu ngoài lề. Trừ Pascal ra tôi không hề tôn nhà triết học Tây phương nào làm ‘thầy’ được cả. Tôi quan niệm triết học là ‘tầm sư học đạo’ chứ không phải nghe tư biện ṿng vo. Một khi biết thày Khổng, thày Lảo, tôn sư Thích Ca, và cuối cùng là Thày Chí Thánh Giêsu, th́ ngồi nghe b́nh giảng về Platon, Aristote, Spinoza, Kant, Hegel... chỉ là làm lăng phí thời giờ, ngoài việc lấy bằng làm nghề ‘giáo sư triết học’ mà thôi!
Điều tôi học được nơi các vị giáo sư là thái độ trí thức của họ: khiêm tốn, liêm khiết trí tuệ, thận trọng trong phán đoán, tôn trọng quan niệm người khác. Đó là bài học quư giá nhất mà các giáo sư dạy cho tôi. Họ giúp tôi biết thế nào là học, là tri thức, chứ không phải là vẹt, là học phiệt, thế nào là trao đổi, là t́m kiếm, là tŕnh bày. Bài học ấy có thể tóm lượt như sau: CHÂN LƯ không phải là một giá trị lư tưởng mà mỗi người giành nhau như một đồ vật để được độc quyền ban bố. Bài học ấy không có bằng cấp, nó chỉ toát ra từ tác phong, là cung cách, là con người giảng dạy. Thái độ khiêm nhường ấy bắt nguồn từ sự khiêm nhường của Vị đă tự xưng ḿnh là Chân Lư, nhưng lại cúi đầu rửa chân cho các môn đệ. Pascal, Kierkegaard, Gabriel Marcel, Louis Lavelle, Henri Bergson cũng đều là những con người tắm ḿnh trong tinh thần Kitô giáo một cách sâu đậm.
Vào năm 1961, t́nh cờ tôi gặp một linh mục ḍng Biển Đức (Bénédictin). Ngài khẳng định tôi có dấu chỉ sống đời chiêm niệm, và giới thiệu tác giả với cha Victor de la Vierge, bề trên ḍng. Sau hai năm được ngài hướng dẫn, ngài quyết định cho tôi vào nhà tập. Tôi tưởng là thuyền sắp cập bến, ai ngờ sau khi được khám sức khoẻ, vị bác sĩ của ḍng sợ tôi không kham nổi cuộc sống ràng buộc của một ḍng tu.
Bà cụ cho tôi thuê nhà ở trọ thường hay lui tới nguyện đường ‘Corpus Christi’ thuộc ḍng Thánh Thể. Bà giới thiệu tôi với linh mục thuộc tu viện ấy. Sau một năm theo dơi, vị bề trên tỉnh ḍng Thánh Thể Paris lại sợ tôi không đủ sức khoẻ, nên không đồng ư nhận tôi vào ḍng.
Thấy mọi con đường đưa đến đời tu tŕ đều bị tắt nghẽn, tôi lại có ư định trở về miền Bắc Việt Nam , như một số linh mục thuộc giáo phận miền này được gởi đi du học, mặc dầu luận án tiến sĩ chưa hoàn tất. Tôi có đề cập với anh Viện tôi về vấn đề này, nhưng anh tôi cho tôi hiểu rằng việc ấy khó mà thực hiện được.”
Trong khi tâm thần bất định, một linh mục thuộc ḍng Biển Đức cũng đang t́m một h́nh thức đan tu nhẹ nhàng, nhỏ bé và âm thầm hơn h́nh thức các đan viện cổ truyền, ngài giới thiệu đương sự với một cộng đoàn nhỏ 3 tu sĩ ở miền Bắc nước Pháp, thuộc đan viện Le Bouveret (Thụy Sĩ), sau một thời gian trao đổi, đương sự được chấp nhận dự tu ở cộng đoàn nhỏ ấy. Nay gặp được một h́nh thức mới gọn nhẹ, thanh đạm, nguyện đường đơn sơ thu gọn bên ḍng suối, dưới lùm cây, ẩn ch́m giữa cảnh thiên nhiên, có phần gần với các thiền viện, các am tu ở Á Đông, Dương liền xin gia nhập và được đón nhận với tất cả sự thương yêu và tin tưởng. Đó là khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10/1963. Cuối tháng 10/63 lại được đưa sang Tập viện Le Bouveret.
“Thế là cái khuôn khổ của ḍng Biển Đức lại đè nặng lên tâm hồn tôi, và chế độ ăn uống lại làm cho sức khoẻ tôi đâm ra trục trặc. Thế là tôi lại phải cáo lui, rời tu viện trở về Pháp. Có lẽ tôi quá tài tử chăng? Cái h́nh ảnh ‘tam hợp đạo cô’, mây ngàn hạc nội quá ăn sâu vào tâm hồn tôi rồi chăng? Sau này khi trở về Việt Nam,1965, L.M. Nguyễn B́nh An, bề trên ḍng Phanxicô nói: E có lẽ cậu có ơn kêu gọi như Benoit Labre – vị thánh hành khất? Tôi nhớ lại lúc bé, đôi khi mẹ tôi vừa giận vừa mắng yêu:‘Lơ đăng như con rồi th́ chỉ có bị gậy ăn mày!’ Thế rồi tôi lại lủi thủi lang thang trên các vệ đường Paris . Gần 40 tuổi đầu mà vẫn c̣n mơ đến một dạng tu tŕ nào đó, như bị tiêm nhiễm từ tấm bé bởi giọng ngâm thơ của một nhà nho mạt vận trong ánh hoàng hôn ở thành nội Huế:
‘Mưa Âu, gió Mỹ tràn sông nứi,
Của Khổng sân Tŕnh biết có ai?’
Ở trong tôi như thừa kế cả một u hoài của một nền văn hóa cổ truyền đă bị quét đi trước làn sóng gọi là văn minh vật chất, cơ giới của Âu Tây. Niềm u hoài tưởng t́m được an ủi trong hương vị ‘thiền’ của Phật giáo, nhưng cuối cùng chỉ thực sự được giải tỏa ở trong đức tin Kitô giáo mà thôi.” (trg 146)
13 - Cuộc sống tài tử
Thế là cuối năm 1965 Nguyễn Khắc Dương trở về miền Nam Việt Nam . Nguyễn Khắc Viện, người anh cả, cũng đă về miền Bắc một năm trước đó. Có người miền Bắc nghi ngờ cho Dương là người của Viện gài ở miền Nam, trong khi một vài bạn cũ giữ chức vụ cao ở miền Nam lại tránh né không muốn gặp Dương. Giáo sư Nguyễn Văn Trung muốn đưa tác giả vào dạy tại Đại Học Văn Khoa Sàig̣n mà không được. L.M. Nguyễn B́nh An giới thiệu người dạy triết học tại trường các nữ tu ḍng Phaolô đường Cường Để.
Đầu năm 1966 L.M. Nguyễn Văn Lập, viện trưởng viện Đại Học Đàlạt mời tác giả lên dạy triết tại đó. Vào năm ấy, hai người bạn đồng khóa là Nguyễn Khắc Dương và Bửu Sao (hồi ấy Bửu Sao là giáo sư Văn Minh Học trường Vơ bị Đàlạt), hội ngộ tại khu cư xá Đại Học sau 17 năm xa cách. Cả hai người cùng Giáo Sư Đoàn Mười hoạt động trong Phong trào Pax Romana tại Trụ sở Thánh Tâm của L.M. Gagnon, ḍng CCT.
Tác giả kể tiếp: “Cuộc sống của tôi có chăng như là một kư túc viên cao cấp, chẳng sắm sửa ǵ, chẳng có ư định gây dựng ǵ cả. Ai giao việc ǵ th́ làm việc ấy, lương bổng đưa bao nhiêu nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu. Ai cần mượn th́ cho mượn, có th́ trả, không th́ thôi, nhất là đối với các sinh viên nghèo, chẳng dành dụm ǵ cả, không chủ trương giúp đỡ ai lâu dài, v́ không muốn ràng buộc ơn nghĩa với ai. Tôi tự xem như một quán nước bên đường, thấy ai đi qua th́ mời uống bát nước chè xanh, ăn củ khoai lang qua loa thôi!
Tôi dạy học tương đối có kết quả nên dần dần được các đồng nghiệp chấp nhận, và được mời đi dạy một số giờ tại hai Đại học Sài g̣n và Huế. Tôi dạy tuy tận tâm nhưng hơi ‘tài tử’, tự xem ḿnh như là một phụ khảo, chứ không là một giáo sư, cũng v́ về học vị tôi chỉ có bằng Cử nhân mà thôi. Do đó không có giáo tŕnh, không cho in sách vở báo chí ǵ cả. Bài giảng, ai ghi chép lại mà muốn nhân lên phục vụ anh em cùng lớp tôi chỉ sửa lại vài chổ, rồi tùy ư họ muốn làm ǵ th́ làm.
Sau v́ không có người thay thế, tôi được Hội Đồng quản lư Viện mời giữ chức vụ Trưởng ban Triết học, và quyền Khoa trưởng Khoa Văn. Tuy học vị không có là bao, nhưng dần dần có một vị trí nào đó trong giới Đại Học. Mặc dầu vậy tôi vẫn không xem đó như là sứ mạng của ḿnh, nên không để lại một công tŕnh nào cả. Chăm chú từng việc một, gặp ǵ làm nấy, làm hết ḿnh, nhưng xong việc là thôi, rồi sang việc khác, như kẻ phục dịch, bảo ǵ làm nấy. Tận tụy nhưng tài tử, cần mẫn nhưng lung tung lang tang; lại c̣n cái việc hay lết vỉa hè, các quán cà phê, gặp ai cũng chuyện tṛ, cũng ăn uống, lân la với đủ hạng người, kể cả cao bồi, hành khất và gái giang hồ, bất chấp mọi quy định thói thường của xă hội. Nói chung tôi có tâm tư của kẻ lữ hành giữa những người lữ hành như chưa t́m được đâu là chổ ở, và cứ như là kẻ nghĩ rằng ngày nào đó lại nhổ lều đi cắm nơi khác.” (trg.152)
Từ năm 1975 đến 1986, tôi đổi nơi cư trú trên 10 lần, mà đến nay cũng không nhà, không cửa, không tài sản, không vị trí, cả trong Giáo Hội cũng như trong gia đ́nh, ngoài xă hội, cũng chẳng biết mai đây tôi từ trần, ai sẽ là kẻ lo việc vùi cái thân xác này vào ḷng Đất Mẹ để linh hồn về với Chúa Cha trên Trời? Tôi như kẻ mất mát cái ǵ mà t́m chưa thấy, hoặc tệ hơn nữa, như kẻ đi t́m cái ǵ mà ḿnh cũng chưa rơ là t́m ǵ nữa! Tôi không phải là‘moine défroqué’, tu vất áo, mà là ‘moine manqué’, tu hụt, như hụt tàu, thậm chí không có tàu mà đi. Cuối cùng th́ tôi chờ đợi một cái ǵ, cái ǵ tôi không rơ!
Bề ngoài nhiều người lầm tưởng tôi đi khá xa trên đường nhân đức!!! Không phải thế! Tôi không màng danh lợi chẳng qua v́ bản tính tự nhiên, không ham cái ấy, có lẽ rằng nếu không biết Chúa, tự nhiên tôi cũng thế mà thôi. Kinh nghiệm về danh lợi của thân phụ tôi đă làm tôi sáng mắt theo sự khôn ngoan triết lư tự nhiên, chứ không phải theo tinh thần nghèo khó Tin Mừng đâu, chẳng có ǵ là cao thượng cả. Về ḷng thương người, tôi nặng về cảm xúc, không chịu được cái cảnh khổ của người khác, na ná như người không đủ can đảm thấy kẻ bị thương, chứ không phải là thực sự yêu người theo đúng nghĩa Tin Mừng đâu!
Thế nhưng, đây là sự kỳ diệu của Thiên Chúa, Chúa che mắt không cho ai thấy sự thực như vậy, cho nên đối với một số anh chị em, đời sống của tôi có tác dụng xây dựng (édifiant), có thể như là gương sáng!!! Nếu có ai nhờ vậy mà thêm phần được ảnh hưởng tốt, th́ hoàn toàn là việc của Chúa làm... thế mà, khốn nạn cho tôi! đôi lúc tôi cũng đă để cho cái ‘tự phụ’ rởm len lỏi vào tâm hồn, tự cho ḿnh là tốt. Nghĩ lại mà xấu hổ!
TIẾT BẢY
MẪU NGƯỜI GIEO HẠT GIỐNG CHÚA
14 - Tự vấn, xét ḿnh
Năm 1965 tác giả trở về Việt Nam , “hầu hết các bạn bè ở Pháp, ngay cả vị giáo sư bảo trợ luận án tiến sĩ cũng bảo tôi là điên! Rơ ràng 'cây cao bóng mát không ngồi, em ra đứng nắng trách trời không im'. Thay v́ an b́nh trong một tu viện hay một ghế dạy học ở Pháp, hoặc một công tác ở Unesco như một số bạn bè, lại khăn gói trở về Việt Nam để chẳng làm nên tích sự ǵ cả về bất cứ b́nh diện nào! Và cuối cùng là những ḍng mua vui tẻ nhạt này! Nếu Chúa ban cho như gốc cây, quán nước, khách ghé lại dừng chân chốc lát, rồi lại ra đi, th́ cũng là quá sức hèn mọn của ḿnh rồi, chỉ nhờ ơn Chúa ban mới được đó thôi!”
Tác giả tự xem như là đứa con hoang đàng trở về nhà Cha, sau khi phung phá bao nhiêu của cải: vật chất có, trí tuệ có, thiêng liêng có, thế mà lại trở về tay không! “Suốt 21 năm trời, từ 1954 đến 1975, tôi đă quên bẳng đi lời nhắc nhở của Chúa về việc luôn luôn tỉnh thức và cầu nguyện. Xin ghi lại đây bài học ấy để anh chị em độc giả cũng ôn lại kẻo quên, kẻo vô cùng nguy hiểm tai hại!”
1/ về mặt chuẩn bị tâm hồn, để trưng rơ bằng chứng tác giả phô bày sự lợn cợn của ḿnh: “trong hai câu Ai mệt nhọc hăy đến cùng ta, và ai theo ta, hăy vác thập giá mà theo ta, h́nh như tôi chỉ thực sự nghe câu thứ nhất, c̣n câu thứ hai chẳng khác nào lư thuyết suông thôi! Tôi chỉ chạy đến Chúa để t́m nguồn an ủi, chứ chưa hề nhỏ một giọt mồ hôi nào v́ danh Chúa cả! Các sự đau đớn toàn là do bên ngoài đến chứ tôi không tự ư tới đón gặp chúng. Nói tóm lại, suốt 20 năm, tôi chỉ t́m chính ḿnh tôi, dù là t́m một đường tu tŕ, chứ không phải thực sự t́m Chúa. Cái ‘tôi’ vẫn c̣n chiếm hữu chính ḿnh, không chịu nhường ngôi cho Thiên Chúa và tha nhân.”
2/ Về mặt chuẩn bị tâm tư, những giá trị về kiến thức cũng như về luyến ái, tác giả đă tự ḿnh khinh chê, thay v́ dứt bỏ, từ khước v́ t́nh yêu Chúa, về gia đ́nh, tác giả đi đến với Hội Thánh cũng như con chim khi bị băo tố phá vỡ tổ ấm, đi t́m một tổ ấm khác. Rồi tác giả tự xét ḿnh: “về học vấn, khi tôi đến trường Sorbonne th́ tôi đă chán ngấy cái học sách vở rồi, thay v́ vâng theo ư Chúa để cố gắng thành đạt để c̣n giúp ích Hội Thánh hơn! Về danh lợi, hai cuộc cách mạng 45 và 63 đă cho tôi thấy mọi sự là hư không, đáng lẽ tôi phải cố gắng lấy một chức vụ nào đó dù là ớn ngấy để đóng đúng vai tṛ của ḿnh.”
Suy cho cùng, trên thực tế, tác giả tự phê phán là đă t́m đời tu theo tinh thần ‘hiền triết’, t́m giải thoát khỏi mọi vấn vương hệ lụy cho ḿnh chứ không có ǵ là hiến dâng cho Thiên Chúa để phục vụ Giáo hội và tha nhân cả! “Chẳng vậy mà tôi hễ cứ nhào vào ḍng tu nào là y như bị dội ra, v́ lẽ quá ham mê đời tu kiểu ngoại giáo (thoát tục, tị thế) nên bị Chúa khước từ chăng?”
Tác giả tiếp tục tự phê rằng v́ mải mê đọc những loại sách ‘gương phước’ như Tanquerey, Dom Marmion, Lallement, Gatry, Condren, Gioan Thánh Giá.. mà tác giả tự chẩn bịnh là bị bội thực về mặt này. “Thêm vào đó những phần hổ lốn, thập cẩm là những hiểu biết sơ khai của tôi về Nho, Lăo, Phật, khiến tôi đă có những ước mơ thần hiệp quá sớm, quá vội, vượt quá sức ḿnh, như ‘tẩu hỏa nhập ma’! Thuốc chữa là biết phận ḿnh mà kêu lên lời cầu: Từ đáy vực sâu con kêu lên cùng Chúa.”
3/ Về đời sống nội tâm tác giả cảm nhận như có sự thiếu quân b́nh. Trong 20 năm tác giả đă sống đời tu về mặt lư trí, cảm xúc nhiều hơn là dựa trên nền tảng ư chí, không mấy thực hành những điều đă học, tự học môn thần nhiệm học (théologie mystique) một cách vô kỷ luật, do đó đă rơi vào cái đại họa ‘đa thư loạn tâm’.
Tác giả nhận xét: “Cái đà này mà không có những biến cố 75-76 chận đứng lại cái 'mộng du thần hiệp' th́ chưa biết tuột dốc xuống vực thẳm nào! Cái tệ hại của xu hướng thần hiệp tự nhiên, tác giả cho biết, là săn t́m cảm thức thần hiệp, để hưởng thụ như một thứ khoái lạc cao thượng, tinh vi, thưởng thức thần hiệp ở mức độ 'tâm thức' do kỹ thuật tu luyện theo kiểu Yoga, chứ không phải là một ân sủng từ Thiên Chúa. (trg 187)
Rồi tác giả kết luận: “Đây là cả một sự lệch bước sa lầy kéo dài có thể nói là từ năm 1951 đến năm 1984: trên 30 năm trời, mà trên đây tôi đă tạm gọi là lệch bước 'ngộ đạo' (gnosticisme) và đời thần hiệp (mysticisme) một cách ít nhiều vô thức!
15 - Người gieo giống Tin Mừng
Thế là trên 210 trang giấy tác giả Nguyễn Khắc Dương đă mô tả cuộc đời phiêu bạt của ḿnh trải qua ba chế độ chính trị thế trần, sống trong ḷng Giáo Hội qua mọi cảnh ngộ đầy gian truân thử thách mà phải lựa chọn, lựa chọn để rốt cuộc t́m thấy chân lư duy nhất: “chỉ có chế độ Nước Trời là muôn thuở, ở khắp mọi nơi, mọi lúc ở chính trong tâm hồn của những ai mến Chúa yêu người; cho nên cũng chẳng có ǵ phải chạy trốn nơi này sang nơi nọ; đâu đâu Chúa cũng ở trong ḷng ḿnh. Sự lựa chọn là lựa chọn từng giây, từng phút giữa Thiên Chúa và ma qủy, mà trận địa là chính ḷng ḿnh.”
Tác giả đă hiến dâng trót đời ḿnh để cảm nghiệm được chân lư siêu phàm ấy. Vậy trước tiên phải chết đi với con người cũ, là vào các năm từ 1945 đến 1949 (các đoạn từ 1 đến 6). Rồi qua hai cuộc tái sinh: Cuộc tái sinh thứ nhất trong các năm 1949 và 1975 mà tác giả gọi là hai năm đại hồng phúc (các đoạn từ 7 đến 11). Rồi đến một thời kỳ thai ngén, là thời kỳ phải đi học tập cải tạo sĩ quan chế độ cũ sau vụ cộng sản tiếp thu Viện Đại Học Đà Lạt, từ 24/4/75 đến 25/8/76: “16 tháng! khác nào như thời gian nhà tập của một ḍng tu, 16 tháng thật sự được học. Đấy là thời gian cho tôi đào sâu và kiểm nghiệm từ những nhu cầu thấp nhất của sinh-thể-lư đến những kiến thức về tâm lư, thể lư, xă hội, siêu h́nh, luận lư, tất cả đều được rà lại cả.” (các đoạn 12-13).
Và bài học thiết cốt mà tác giả đă nhấn mạnh là bài học tự biết ḿnh: γνωθi σεαυτoν của Socrate. “Tôi rời khỏi trại học tập với bài học quư giá vô cùng là: ḿnh chỉ là một đứa tồi, rất tồi, nếu không có Chúa nâng đỡ ban ơn thêm sức cho th́ cái khả năng ‘bán Chúa’ như Yuđa không phải là không có cơ xảy ra.” Cuộc tái sinh thứ hai khởi đầu ngày 25/08/1976 là năm Nguyễn Khắc Dương ra khỏi trại cải tạo, "ngày Chúa đưa tôi vào cuộc trở lại lần thứ hai, đưa đời tôi lúc 50 tuổi bước sang một giai đoạn mới hoàn toàn.” ( đoạn 14)
Sau ngày trở về viện Đại Học Đà Lạt, tác giả không được Nhà nước lưu dụng lại bắt đầu tự mưu sinh bằng cách làm vườn trồng rau, đôi lúc với sự trợ giúp v́ ḷng từ thiện từ một số anh chị em phần đông là người xa lạ. Rốt cuộc một câu tự thú: “Chúa đă đặt vào tay tôi khá nhiều vốn liếng về mọi mặt, mà tôi đă lăng phí hoàn toàn! Nay tôi biết Chúa quan pḥng đầy xót thương, đă chẳng nỡ để tôi mất linh hồn, nhưng theo Chúa đâu phải chỉ để khỏi mất linh hồn, mà để góp phần vào cơ nghiệp chung.” (trg 213)
THAY LỜI KẾT
Tất cả các bài học mà tác giả muốn chia sẻ cùng chúng ta trong cuốn hồi kư độc đáo này đă được kết thúc trong một nghiệm cảm chân lư: “Những giây phút tuyệt vọng nhất chính là giờ của Thiên Chúa ra tay (les heures les plus désespérées sont les heures de Dieu).” Giờ mầu nhiệm Chúa đă ra tay trên Maria đă khiến Maria cất lên Thánh vịnh Magnificat: “V́ Chúa đă đoái nh́n đến thân phận nghèo hèn của tôi.” Dùng lại lời đó làm đề tài cho cuốn sách, tác giả đă cảm nghiệm rằng Thiên Chúa đă chọn những giờ phút tuyệt vọng nhất của đời ḿnh để cũng ra tay như thế.
Thật ra, từ hàng đầu đến hàng cuối của tác phẩm, chỉ có một bài học, một bài học sáng giá, đáng giá hơn cả ngh́n vàng, được kết tụ từ những hạt giống Tin Mừng mà chính tay Chúa đă sai người mang vào vung văi khắp các thửa vườn Giáo Hội Việt Nam . Hạt giống ấy là đức khiêm nhường mà, nói ǵ trên trần gian, chính trong Giáo Hội, và riêng trong Giáo Hội Việt Nam là cả một sự thiếu vắng!
Đọc cuốn sách này, tôi (Bửu Sao) nghĩ đến một vai tṛ trong kịch phẩm có một nhan đề liên hệ: Lời Truyền Tin Cho Maria (L'Annonce faite à Marie), của Paul Claudel. Pierre de Craon, một người đă mắc phải chứng bệnh phung hủi, thế mà Thiên Chúa đă dùng làm thợ cả, maître d'oeuvre, trong công cuộc xây cất ṭa nhà Hội Thánh Chúa, ‘rồi mỗi viên đá của ṭa nhà không tự chọn lấy chỗ cho ḿnh, mà chính Chủ xây đă tự tay chọn lấy; tảng đá đặt nền móng không phải là loại đá để xây nóc’ (‘ce n'est point à la pierre de choisir sa place, mais au Maître d'oeuvre qui l'a choisi: celle qu'il faut à la base n'est point celle qu'il faut pour le faîte’. (L'Annonce faite à Marie. Gallimard. 1993. p. 49). Trong Tin Mừng chính Chúa Giêsu cũng đă nói về ḿnh: Ḥn đá đă bị trần thế loại bỏ đă được chọn làm đá góc.
Giáo sư Nguyễn Khắc Dương đă chia sẽ bài học xây cất này bằng những trải nghiệm của suốt đời ḿnh. Chính những cái gọi là thất bại ê chề được nói lên trong suốt 247 trang giấy, đấy là những hạt giống Tin Mừng Chúa muốn tác giả đặt vào ḷng bàn tay của mỗi một tín hữu chúng ta.
Anh Nguyễn Chính Kết đă cho thấy “SỞ NGUYỆN” của giáo sư Nguyễn Khắc Dương , chỉ mong là một hành giả như phận hèn đơn bạc ‘sống vô gia cư, tử vô địa táng’, để trở nên những mảnh bụi lót chân cho khách qua đường nơi trần thế:
SỞ NGUYỆN
Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,
Tấm thân đất chở với trời che.
Cảm người bươn chải ṿng cơm áo,
Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.
Trần sắc mười phương đau đớn thấy,
Thế âm bốn cơi xót xa nghe.
Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,
Nguyện lót êm chân khách vỉa hè.
Tác giả Đỗ Tân Hưng
Nguồn http://nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/09/antugiuadoigsnguyenkhacduong.html
ẨN TU GIỮA ĐỜI
Giáo sư Nguyễn Khắc Dương
(1925-)NGUYỄN CHÍNH KẾT
Giáo sư NGUYỄN KHẮC DƯƠNG là một khuôn mặt khá độc đáo, vừa là một học giả và giáo sư, vừa là một “lăng tử” (chính thầy tự gọi ḿnh như thế). Thầy là trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa trưởng Văn khoa của Đại học Đàlạt trước 1975, được một số nhà trí thức miền Nam Việt Nam biết đến và dành cho rất nhiều thiện cảm.
Là sinh viên Đại học Đàlạt, tôi, Nguyễn Chính Kết, người viết bài nầy, đă từng là môn sinh học Triết với thầy Dương mấy năm liền. Hồi đó cũng như về sau, đặc biệt trong thập niên 1992-2002, tôi có khá nhiều dịp gặp và gần gũi thầy tại Sàig̣n, để trao đổi, học hỏi và tâm sự với thầy, từ chuyện triết lư, nhân sinh quan đến chuyện tâm linh, tôn giáo, sống đạo trong thời điểm lịch sử Việt Nam hôm nay. Mặc dầu tuổi đời cách xa nhau 27 năm, thầy và tôi có nhiều điểm tương đồng và tương cảm. Tôi luôn cảm phục thầy v́ tư tưởng thâm sâu, v́ nếp sống thanh cao siêu thoát, đầy tinh thần nghèo khó và khiêm nhu.
Vừa là học tṛ triết lư vừa là “môn sinh” đạo lư của giáo sư Nguyễn Khắc Dương, tôi xin gợi lên dáng đứng và hành tŕnh đức tin của thầy Dương trong bản tŕnh thuật nầy, dựa vào cuốn hồi kư tự thuật mà thầy đă thương tặng tôi tháng 4 năm 1998. Cuốn hồi kư nầy dày 247 trang mà thầy đă viết xong trước đó 12 năm – năm 1986 – tại Đà-Lạt, với tựa đề tiếng la-tinh song song với tiếng Việt là «Quia respexit humilitatem meam»: «V́ Ngài đă đoái thương đến chút phận hèn của tôi». Đây là một lời trích từ bài Magnificat ca ngợi Thiên Chúa của Đức Maria (Tin mừng thánh Luca 1,48). Nhờ đọc cuốn hồi kư, cộng thêm với rất nhiều lần trao đổi, tâm sự thân mật với thầy, tôi hiểu được khá sâu tâm tư cũng như cuộc đời của thầy Dương. Trong bản tŕnh thuật nầy, những nét chính yếu về hành tŕnh gặp Chúa của thầy, tôi xin trưng dẫn từ cuốn hồi kư trên, vừa rất trong sáng, trung thực, vừa hết sức phong phú về mặt cảm nghiệm tâm linh.
Di sản gia đ́nh và văn hóa
Thầy Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24-9-1925 tại thành phố Vinh,sống tuổi thơ ấu rất êm đềm với cha mẹ tại làng Thịnh Xá, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trong một xă hội nửa phong kiến, nửa thực dân tư sản thời ấy, gia đ́nh thầy được xếp vào loại “danh gia vọng tộc”. Thân phụ, cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, là một nhà nho nổi tiếng học giỏi, đức độ. Sau khi đỗ đạt, cụ được bổ dụng vào chức Tư nghiệp Quốc tử giám tại Huế. Nhưng về sau, khi Nho học bị băi bỏ, cụ được chuyển sang ngành quan lại hành chánh. Tuy không thích các chức vụ ấy cho bằng dạy học, cụ đành chấp nhận như một nghề nghiệp tốt để nâng đỡ gia đ́nh vốn thanh bạch của cụ. Cụ đă từng làm Tri phủ huyện Anh Sơn, Án sát tỉnh Nghệ An, Phủ doăn tỉnh Thừa Thiên, và về hưu năm 1943 với phẩm hàm Hiệp Biện Thượng thư. Cụ là một vị quan thanh bạch, trung chính, không lấy danh vị làm vinh, và nổi tiếng thanh liêm nên được dân chúng rất mến phục. Cụ rất quen biết với các nhà cách mạng nổi tiếng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Vơ Bá Hạp…
Nhưng cuộc đời cụ kết cục khá bi thảm: năm 1953, năm cải cách điền địa, cụ bị kết án địa chủ và đưa đi cải tạo, rồi qua đời sau đó một năm. Thầy Dương viết về cha ḿnh «H́nh ảnh thân phụ tôi có nhiều nét khả ái, đáng trọng của nhà Nho nhưng cũng gợi lên một cái ǵ bất túc, không hoàn hảo trong giai đoạn giao lưu văn hóa Đông-Tây lẫn lộn, xă hội bất an. Có lẽ chính cái giới hạn đó đă khiến tôi có hướng t́m một cái ǵ khác hơn cái lư tưởng Nho giáo thời mạt vận, mang ít nét phong kiến với nếp sống quan lại, trước cách mạng 1945. Có lẽ tôi có hoài vọng một thời Nho giáo Nghiêu Thuấn đă qua đi và không bao giờ có được nữa ở trần gian này! Có lẽ cũng v́ vậy, không bao giờ tôi tin rằng cái vương đạo có thể thực hiện được trong lănh vực chính trị trần thế. Tuy tôi có ít nhiều khao khát về độc lập, về mặt công bằng xă hội, nhưng tôi không bao giờ có ḷng tin vào bất cứ một thuyết nào, một chủ nghĩa chính trị xă hội nào cả!».
Tuy nhiên ảnh hưởng Nho giáo, tư tưởng Lăo Trang, từ gia đ́nh và xă hội thời ấy,cùng ảnh hưởng của Phật giáo không thể không gây ấn tượng trên tâm hồn cậu thiếu niên Nguyễn Khắc Dương. Ngay từ năm 11 tuổi, cậu đă chịu ảnh hưởng sâu đậm cảnh chùa chiền, với tư tưởng giải thoát của đạo Phật. V́ thế, mẫu người lư tưởng đối với cậu không phải là những nhà anh hùng cách mạng, hay những bậc trượng phu quân tử, mà là những nhà tu hành, đạo đức cao cả. Quan niệm “đời là bể khổ” mà cậu nh́n thấy qua bao cảnh đời cùng khốn của dân chúng trong một đất nước bị đô hộ, cụ thể nhất là qua những cảnh khổ trong chính gia đ́nh, anh chị em ḿnh, đă làm cho h́nh ảnh nhà sư điềm đạm, an nhiên tụng kinh niệm Phật ngày càng in sâu vào tâm hồn thanh niên Nguyễn Khắc Dương. Ngoài ra, t́nh tự dân tộc, ước mong đất nước trở thành một xă hội công bằng, dân chúng an vui hạnh phúc, cũng là những yếu tố tác động trên tâm tư của người thanh niên đầy lư tưởng, nhận định rằng Nho giáo, Phật giáo và dân tộc là “ba tầng địa chất tâm lư”, như những lớp phù sa đọng lại trong tâm thức, trong chiều sâu vô thức của ḿnh.
Từ các địa tầng đạo lư đó, khi thấy bạn bè ḿnh theo Kitô giáo, thầy Dương thường chê trách, ngăn cản, v́ thầy xem Kitô giáo như một thứ tôn giáo ngoại lai, chỉ dành cho những người thiểu trí: «Chúng tôi – con nhà khoa bảng, học thức – hơi có vẻ khinh đạo Công giáo, cho như là một h́nh thức quyến rũ, mua chuộc, mê lú, mà các cố đạo đă dành cho một lớp người hạ lưu trong xă hội! Trong họ vừa có cái ǵ dễ ghét, vừa có cái ǵ đáng tội nghiệp như là những người bị mê hoặc».
Nhưng một biến cố quan trọng xẩy ra là năm 1938, cậu Dương thi vào trường Quốc Học (Huế) bị trượt, nên phải thi vào trường Thiên Hựu, một trường công giáo tại Huế. Nơi đây, cậu được giáo dục trong tinh thần Kitô giáo: «Khi tôi được trúng tuyển vào học ở trường Thiên Hựu, người chị kế tôi có nói với mẹ tôi rằng: – “Mợ không sợ thằng Dương nó theo đạo sao?” – Câu trả lời của tôi lúc ấy: “Không bao giờ!”».
Con đường của Thiên Hựu
Việc thi rớt để rồi phải học ở trường Thiên Hựu, về sau thầy Dương nhận định được rằng đó là do sự an bài yêu thương của Thiên Chúa dành cho ḿnh. «Kỳ thi hạch vào trường Quốc Học Huế tôi bị hỏng!… Thế là mẹ tôi quyết định cho tôi theo học chương tŕnh Pháp tại trường Thiên Hựu ở Huế, chứ không vào các trường tư thục theo chương tŕnh của Đông Dương… Dầu sao, cái quyết định của mẹ tôi cho tôi thi vào trường Thiên Hựu quả là do “Thiên Hựu” ( Providence : sự quan pḥng, sự an bài xếp đặt của Thiên Chúa)».
Trường Thiên Hựu có ǵ đặc biệt mà lại làm cho cậu học sinh đầy thành kiến về Kitô giáo đă trở thành Kitô hữu? – «Vào học trường Thiên Hựu, tôi được dấn bước vào thế giới Công giáo, dần dần khám phá ra những giá trị của nó. Trước hết là các linh mục giáo sư. Điều làm tôi lưu ư là sự tận tâm chức nghiệp của các vị ấy. Ai đă có học trường tư thục Công giáo chắc đều nhận chân điều đó. Điều thứ hai là “t́nh yêu người” được bộc lộ qua cách đối xử. Tôi xin phân biệt “yêu” người với “thương” người. Đạo Khổng cũng dạy: thương người như thể thương thân; đạo Phật, cao hơn, c̣n dạy thương người, thương cả vạn vật chúng sinh, giúp người hoạn nạn, cứu người cùng khổ… Th́ chủ nghĩa nào, tôn giáo nào cũng dạy thế cả; nhưng “yêu” người th́ h́nh như chỉ có đạo Kitô mới dạy và mới giúp người ta thực hiện được».
Để làm rơ nghĩa chữ “yêu”, tác giả Hồi kư viết cụ thể hơn: «Yêu người đây là thái độ tương tự như thái độ của người t́nh duy nhất: có cái ǵ tŕu mến, yêu thương, đằm thắm, thiết tha, làm cho người ta có cảm tưởng ḿnh được xem như là một giá trị duy nhất vô nhị và không thể thay thế của một người yêu… Trong tương quan t́nh yêu ḿnh được nh́n nhận đúng phẩm giá làm người của ḿnh, như là một ngă vị, một chủ thể duy nhất, như là được «lên ngôi»». Tôn giáo nào cũng có nét độc đáo, vẻ đẹp riêng của nó, khiến tôn giáo ấy trở thành cuốn hút đối với các tín đồ của ḿnh. Riêng Nguyễn Khắc Dương th́ bị cuốn hút bởi cái tính chất «yêu người» trong những mối “tương quan liên ngă vị” của Kitô giáo, khiến thầy Dương thấy tôn giáo này hợp với ḿnh hơn. Thầy so sánh giữa tính từ bi của Phật giáo với tính yêu của Kitô giáo: «Tôi được hân hạnh quen biết một vị sư mà tôi hết sức kính mến, đó là một Thượng Tọa. Đứng về phương diện đạo đức luân lư, ngài là một bậc chân tu, đạo hạnh rất cao, có lẽ ít linh mục tu sĩ Công giáo nào sánh kịp. Thế nhưng mỗi lần tiếp xúc với ngài, tôi tuy biết rằng ngài có thể liều chết cứu tôi, nhưng động thái của ngài có cái ǵ lạnh nhạt. Tôi có cảm tưởng dù thương tôi hết sức, nhưng ngài thương tôi trong cái đại từ bi vô ngă đối với một chúng sinh vô ngă như bất cứ chúng sinh nào! Và tôi xin vô lễ (v́ tôi rất kính mến ngài) mà cả gan suy diễn rằng có lẽ ngài xót thương cho cái chấp ngă hiện hữu của tôi, thay v́ vui mừng v́ hiện hữu của tôi như một “ngă vị”. Và xin thú thật rằng: tôi rất tôn kính Đức Thích Ca, nhưng mỗi lần chiêm ngưỡng tượng Ngài điềm nhiên trên trên ṭa sen, tôi vẫn có cảm tưởng là tôi được chiếu rọi bởi ánh từ bi của Ngài, nhưng không có cảm tưởng được sưởi ấm cơi ḷng bởi lửa yêu mến của Ngài»
“Lửa yêu mến” mà Nguyễn Khắc Dương khao khát, thầy đă t́m thấy nơi Đức Giêsu: «Chỉ có Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ, chịu chết v́ môn đệ, và một vài vị thánh như Phanxicô Átxidi, Vinh Sơn Phaolô, mới yêu bất cứ người nào cũng như một người t́nh duy nhất. Tôi thấy rằng chính cách thức cư xử của các linh mục đều có ít nhiều cái ǵ tương tự! Sau này khi sống với các bạn Công giáo, tôi cũng đều có cái cảm giác như vậy. Thái độ này không phải là một đức hạnh hiểu theo nghĩa luân lư đạo đức mà là một động thái bắt nguồn từ một cảm thức dựa trên căn bản một nhận thức về giá trị con người». “T́nh yêu” chính là yếu tố đă hấp dẫn Nguyễn Khắc Dương theo Kitô giáo: «Đi vào thế giới Kitô giáo, tôi được nếm mùi vị của t́nh yêu, với cái ǵ ấp ủ, tŕu mến, đằm thắm, da diết mà tôi không thấy ở nơi khác. Tôi cũng nhấn mạnh rằng là “t́nh yêu người”, chứ không phải là “đức thương người”. T́nh yêu ấy là một động thái bộc phát từ tâm lư đă nhuần nhuyễn bởi một cái ǵ đối với mỗi một tha nhân. C̣n đức thương người có thể nói như là kết quả dày công tu tập về luân lư đạo đức và cái nh́n về loài người nói chung». «Sự hấp dẫn của Chúa Giêsu h́nh như do chính con người và cuộc đời của Ngài nhiều hơn là do đạo lư Ngài truyền dạy».
Chính tại trường Thiên Hựu học sinh Nguyễn Khắc Dương đă nhận ra T́nh yêu nơi người tu sĩ Kitô giáo «Bề ngoài hào hoa bặt thiệp, không có vẻ ǵ là thoát tục mà lại là “Tu”! Tu mà miệng luôn nói tới “yêu mến “với những từ ngữ có vẻ đắm đuối say sưa. Lần đầu tiên tôi gặp một nhân sinh quan rất lạ, một thứ tu chẳng những không diệt dục mà đắm đuối chữ “T́nh”… Tu v́ yêu, yêu nên mới tu. Họ nói họ hiến thân cho Chúa Giêsu v́ Chúa Giêsu yêu họ, v́ họ yêu Chúa Giêsu. Thế nhưng kết quả là những tâm hồn thật đẹp, thật phong phú, vừa rất người, rất đời, vừa có ít nhiều cách biệt, khác hẳn con người thế tục».
Ngoài môi trường Thiên Hựu, thầy Dương c̣n tiếp cận với các giáo xứ, gia đ́nh công giáo và cảm thấy luôn có cái ǵ đắm thắm, dồi dào, tương quan thân thiết tuy thầm lặng kín đáo. «Tuy chưa có đức tin, tôi vẫn cảm thấy một sinh khí vui tươi ấm áp. Tôi có cảm tương ḿnh là một thân cây được cắm vào ḷng đất có nhựa sống, được bao bọc và sưỡi ấm bởi t́nh người trong tương quan liên-ngă-vị». Nói thế không có nghĩa là thầy Dương xem nhười Kitô hữu hơn những người khác. Thầy nhận định: «Về phương diện hiền ḥa, phần đông các vị sư đều hơn các linh mục: về mặt nghiêm túc mực thước, các linh mục chưa chắc đă bằng các vị túc nho. Đi xa hơn, có thể nói Đức Giêsu chỉ dạy “yêu người”, chứ Đức Thích Ca c̣n dạy “thương bất cứ một sinh vật nào”. Nhưng điều quan trọng đối với tôi là qua môi trường công giáo, tôi cảm nghiệm được tiếp cận với “MỘT NGƯỜI” đang hiện diện và tác động “bây giờ và nơi đây”».
Ngoài kinh nghiệm đó, thầy Dương cũng cảm thấy sự hiện diện của Đức Giêsu trong cộng đoàn Kitô hữu trong đời sống đạo của họ, qua những nghi thức phụng vụ, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể là mối dây liên kết chặt chẽ các kitô hữu với nhau. «Những lúc vào nhà thờ để cùng anh chị em giáo dân dự lễ đọc kinh, tôi như cá được thả vào nước… những giây phút qùy gối trước cung thánh, ngước nh́n nhà tạm với ngọn đèn chầu lung linh, tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu sau tấm màn che thay đổi màu theo các ngày lễ trong tuần. Chúa Giêsu thật sự mà tôi cảm nghiệm là người bạn đồng hành trong cuộc sống hiện tại mà cách đó một năm tôi thấy chỉ là oan khiên nghiệp chướng».
Bước ngoặt lịch sử, một cuộc tái sinh
Năm 1945, Cách Mạng Tháng 8 đă làm đảo lộn xă hội, tạo nên một cuộc đổi đời cho người thanh niên Nguyễn Khắc Dương 20 tuổi mà gia đ́nh vốn là “danh gia vọng tộc” của thời phong kiến, nên khi đổi đời, mọi sự như đều sụp đổ. Nhờ đó thầy nhận ra sự mỏng ḍn của mọi sự trong thế gian, và không c̣n tin tưởng hay trông cậy ǵ nhiều vào những thực tại trần gian. Thầy viết: «Cách mạng mùa thu đến như một cơn tỉnh mộng! Nhưng sâu xa hơn, cách mạng mùa thu không phải chỉ là một cuộc cách mạng xă hội làm cho địa vị của gia đ́nh tôi đổi thay, mà c̣n bắt tôi phải đặt lại vấn đề nấc thang giá trị về nhân sinh: thuyết Mácxít đặt cho tôi nhiều câu hỏi về mọi mặt, đặc biệt là vấn đề nhân sinh quan trong căn bản của nó». Và đă nhờ kinh nghiệm của một sự “đổi đời”, mà thầy Dương ư thức được bản chất “đổi dời” của nhân thế. Thầy nhận thấy rằng những nền móng của xă hội cũ mà chủ yếu là Nho giáo (một thứ Nho giáo có phần xơ cứng) quả là không giải quyết được vấn đề chính trị xă hội của nước Việt Nam thời bấy giờ, mà cũng không giải quyết được một số vấn đề nhân sinh khác có chiều kích muôn thuở như vấn đề sự dữ (problème du Mal) chẳng hạn. Hầu như bế tắc hoàn toàn, thầy phải t́m một chân trời khác giúp thầy có thể t́m được ư nghĩa cúa Nhân sinh. Và chân trời ấy, có thể nói thầy được một ơn khải thị nội tâm huyền nhiệm mà thầy cảm nhận ra rằng đó là một Con Người “Giêsu Nadarét” mà giáo hôi công giáo tuyên xưng va loan truyền Ngài chính là CON THIÊN CHÚA nhập thể làm người đem ơn cứu độ cho nhân lọai đang đắm ch́m trong đau khổ và tội ác.
Nguyên nhân tác động của Thiên Chúa
Theo thầy, chính biến cố cách mạng mùa thu là biến cố mà Thiên Chúa đă dùng như một dụng cụ kêu gọi thúc đẩy thầy t́m đến CON NGƯỜI ấy như là một người cứu hộ mà c̣n hơn nữa như một vị Cứu Tinh. Thầy cho rằng ơn của Thiên Chúa chính là “nguyên nhân đệ nhất” hay “nguyên nhân căn bản” khiến thầy đi vào con đường này. C̣n những sự kiện bên ngoài như việc học ở trường Thiên Hựu, sống trong môi trường Kitô giáo, cách mạng mùa thu, sự sụp đổ nhân sinh quan, v.v… chỉ là những “nguyên nhân đệ nhị” mà Thiên Chúa dùng «để kéo tôi ra khỏi những đồn lũy khá kiên cố đă cầm buộc tôi, để tôi có thể đi đến với Ngài, khác nào như xưa Ngài đă phải dùng trăm phương ngh́n kế để kéo dân Ngài ra khỏi Ai Cập. Chỉ có con mắt đức tin mới chọc thủng lớp nguyên nhân đệ nhị ấy để thấy được nguyên nhân đệ nhất. Nếu không có con mắt đức tin, nếu không nh́n thấy Thiên Chúa, th́ người ta chỉ nh́n thấy những nguyên nhân đệ nhị ấy là nguyên nhân mà thôi. Và xét theo luận lư h́nh thức, th́ nghĩ như vậy là lôgích 100%».
Tiến tŕnh mà Thiên Chúa dùng để dẫn thầy về với Ngài, trước hết là cảm thức tôn giáo tự nhiên ở trong thầy từ hồi c̣n nhỏ, tuy c̣n lờ mờ chưa rơ rệt. Kế đó là qua thời cuộc mà thầy giác ngộ được sự vật đổi dời: «Sự sụp đổ của một chế độ cho tôi thấy tính cách biến dịch của cuộc đời: th́ ra ở đời không có cái ǵ trường tồn, vĩnh tại.. Ở trần gian, mọi sự đều chóng qua, đổi dời và tương đối; thế mà ḷng tôi vẫn hướng về một cái ǵ vĩnh cửu, tuyệt đối, trường tồn». «Tôi đă được ơn thấy rơ: h́nh như cứu cánh cuộc đời không phải ở nơi trần gian sẽ qua đi này, mà ở một nơi nào khác». Thầy Dương đă nhận ra cứu cánh ấy chính là Thiên Chúa, mà hiện thân của Ngài ở trần gian này là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đă nhập thể thành một con người như chúng ta.
Trở nên Kitô hữu và ước muốn sống đời hiến dâng cho Chúa
Từ những suy tư, cảm nghiệm và siêu nghiệm trên, thầy Dương quyết định gia nhập Kitô giáo, nhưng chỉ c̣n ngại cha mẹ và gia đ́nh chống đối thôi. Nhưng may thay khi về gia đ́nh tŕnh với cha mẹ ư định ṭng giáo, th́ Cụ ông bảo: «Thầy không vui ǵ lắm về việc con theo đạo. Nhưng thầy cũng không có ác cảm ǵ với đạo Công giáo… Nhưng nếu con t́m được hạnh phúc trong niềm tin Chúa th́ thầy cũng mừng cho con». Thế là thầy quyết định trở thành con Thiên Chúa, và lănh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên. Người ban phép Rửa tội là cha xứ Nghĩa Yên: L.m. Nguyễn Ngọc Bang, cùng dâng lễ với cha xứ Yên Nhiên, L.m. Phúc. Lm Vương Đ́nh Ái» là cha đỡ đầu của tân ṭng Têphanô Nguyễn Khắc Dương.
Trước ngày lănh nhận bí tích rửa tội, Têphanô đă được cha Vương Đ́nh Ái đưa đi tĩnh tâm mấy ngày tại ḍng Phanxicô ở Vinh. Tại đây, khi tiếp xúc với các tu sĩ ḍng và hưởng những giây phút tĩnh lặng, ấm cúng, thánh thiện và tràn đầy hạnh phúc, người tân ṭng đă nẩy lên một ước muốn tha thiết: «Nếu được cùng chung sống một cuộc đời với các tu sĩ ấy th́ hạnh phúc chừng nào! Ư muốn sống đời tu sĩ đă gieo vào ḷng tôi. Và từ lúc ấy, đối với tôi, đời Kitô hữu và đời hiến dâng trọn bản thân cho Chúa chỉ là một» «Ḷng tôi đă hướng về một cuộc sống xa hẳn mọi việc ở đời, hiến thân cho Chúa trong một đời tu hành có hướng khổ hạnh và ẩn dật chứ không thiên về hoạt động giữa đời».
Và cuộc đời tu hành của thầy Dương ngay từ khi ấy đă được nội tâm hóa thành một thực tại thường hằng trong tâm khảm, kể cả những khi không c̣n được bao bọc trong bốn bức tường tu viện: «Từ giây phút ấy cho đến nay, dù cuộc sống bên ngoài của tôi có phải chung lộn với cảnh đời muôn vẻ… th́ bên trong tâm hồn tôi, vẫn là một tu viện vô h́nh, nơi tôi hiến dâng bản thân cho một ḿnh Chúa dưới sự bảo vệ đùm bọc chở che của Đức Mẹ Maria mà thôi: không rào ngăn, không lời khấn, nhưng vẫn gắn bó keo sơn, có lúc chặt, có lúc lơi, nhưng không bao giờ dứt hẳn».
Xuất gia đi tu
Kể từ ngày tĩnh tâm tại ḍng Phanxicô năm ấy, 1949, ư tưởng dâng ḿnh vào nhà Chúa càng ngày càng trở nên kiên định trong ḷng và thầy chọn cuộc đời tu sĩ ḍng Phanxicô, v́ lúc ấy tại Vinh không có ḍng nào khác, và cũng v́ không muốn vào chủng viện để trở thành một linh mục triều. Thế là đầu năm 1949 người Kitô hữu tân ṭng, xin phép cha mẹ cho rời gia đ́nh để vào tu viện tại Vinh. Thế là đầu niên học 1950-1951 thầy được hội đồng nhà ḍng chấp nhận vào tập viện. Lễ mặc áo ḍng được tổ chức ngày 4-10 năm 1950. Để biểu lộ sự chấp thuận, ông bà cụ thân sinh đă cho một người em trai của tu sinh đến nhà ḍng dự lễ. Sau khi khấn tạm tại Vinh, thầy được đưa vào tu học tại Nha Trang, nơi có viện Triết và Thần học của ḍng.
Trong thời gian ở tập viện, thầy có dịp đọc cuốn “Câu chuyện một Tâm hồn” của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng. Cuốn này và những tác phẩm của thánh Gioan Thánh Giá và thánh nữ Têrêxa Avila đă hấp dẫn thầy rất mạnh, khiến thầy nẩy sinh ư muốn đi theo con đường chiêm niệm và thần bí của ḍng Cát Minh. Thầy cho biết: «Đọc Têrêxa Hài Đồng và Gioan Thánh Giá, tôi thấy một cái ǵ gần gũi, phù hợp với mối khao khát tận đáy ḷng tôi đang hướng về một sự thần hiệp đơn độc với sự đơn độc, trong sự im lặng thầm kín». Khuynh hướng tu tŕ mà thầy Dương ham thích là độc tu tự do kiểu ẩn sĩ. «H́nh như trong tôi có cái ǵ không hợp với những khuôn khổ, quy chế, lề luật, mực thước, g̣ bó, hệ thống, tổ chức».
Tu sĩ trong quân đội
Đang theo đuổi con đường tu tŕ theo linh đạo Phanxicô th́ thầy bị gọi nhập ngũ. Thế là tháng 4-1954, tu sĩ Nguyễn Khắc Dương vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức để học tập quân sự 6 tháng. Sau đó, thầy được điều động lên Ban Mê Thuột với cấp bậc thiếu úy trừ bị phụ trách tiếp vận. V́ sức khỏe yếu và cũng v́ là tu sĩ, thầy không phải ra chiến đấu mà làm việc ở văn pḥng, và chỉ phải thi hành nghĩa vụ quân sự trong 2 năm, sau giải ngũ lại trở về tu viện. Dù sống đời quân ngũ, thầy vẫn trung thành với những bổn phận tâm linh của người tu hành: dự thánh lễ, cầu nguyện, đọc sách đạo đức, sống đời chứng nhân của Chúa Kitô trong môi trường quân ngũ…
Hai năm trôi qua cách b́nh thản, chỉ có một chuyện buồn xảy ra là thân phụ thầy bị đấu tố và kết án trong vụ cải cách ruộng đất ở miền Bắc, được ít lâu th́ ông cụ từ trần v́ sức khỏe rất yếu. Gia đ́nh v́ thế lâm vào cảnh cơ cực, vất vả. Với tâm hồn của một tu sĩ, thầy Dương dâng và phó thác tất cả chuyện gia đ́nh cho Chúa, và không tỏ ra chút oán hận nào trước chén đắng gia đ́nh phải trải qua.
Du học Pháp
Tháng 7-1956, được giải ngũ để trở về tu viện tiếp tục học thần học, th́ tháng 9-1956, thầy được nhà ḍng gửi sang Pháp để tu học tại một học viện của tỉnh ḍng Phanxicô tại Paris . Bề trên ḍng cũng muốn thầy đi du học để có điều kiện t́m hiểu linh đạo các ḍng khác nữa. Thầy đến Pháp ngày 4-10-1956, đúng ngày lễ thánh Phanxicô. Tại đây thầy học lại triết học, là môn mà thầy rất thích và sở trường. Nhưng kể từ khi biết Chúa là nguồn mạch sự khôn ngoan và tri thức, thầy không c̣n đam mê học triết như trước nữa. Niềm đam mê mới của thầy là muốn sống đời «thần hiệp», kết hợp mật thiết với Chúa, như những vị thánh ḍng Cát Minh (Gioan Thánh Giá, Têrêxa Avila và Têrêxa Hài Đồng v.v…).
Tại Pháp, thầy có dịp t́m hiểu và sống thử đường hướng tu ở các ḍng khác, nhưng cuối cùng không ḍng nào thích hợp với thầy. Những ḍng thích hợp với tâm hồn th́ lại không thích hợp với thể chất yếu đuối của thầy. «Đối với tôi, tất cả đều vô nghĩa, không có tác dụng ǵ cả! Ngay đến việc ghi danh học triết học tại Paris (cái giấc mộng lớn nhất của tôi năm tôi học triết trường Khải Định) nay ở trong tầm tay, tôi cũng không màng. Giữa thành phố Paris với những lâu đài tráng lệ, với bao cơ sở văn hóa lừng danh, tôi chỉ thấy: “toàn là phù du và phù du”, “Vanitas vanitatis vanitatum”. Quyết định đầu tiên của tôi là trở về Việt Nam ngay tức khắc». Nhưng cuối cùng thầy đành nghe lời khuyên của linh mục Nguyễn B́nh An, cùng ḍng Phanxicô: ở lại Paris mấy năm để lấy cho xong bằng cử nhân triết học tại đại học Sorbonne hầu có thể giúp ích cho bản thân và đất nước, sau đó sẽ trở về Việt Nam . «Tôi h́nh dung trở về Việt Nam sẽ xin ở lại ḍng Phanxicô với tư cách là cư sĩ (oblat) hoặc ở giúp tại nhà xứ của một linh mục thuộc địa phận Vinh nào đó; miễn sao được ở dưới cùng một mái nhà với Ḿnh Máu Thánh Chúa là lư tưởng, c̣n th́ làm ǵ cũng được. Đối với tôi, đời sống âm thầm cầu nguyện lặng lẽ như Têrêxa Hài Đồng vốn là niềm ước mơ trọn vẹn nhất».
Nhưng thầy Dương lại có khuynh hướng dị ứng với lề luật. Vào những ḍng mà thầy thấy hợp, thầy lại không đủ sức khỏe để sống ở đấy. Cuối cùng sau 15 năm sống đời tu tŕ, thầy nhận ra Chúa muốn thầy sống giữa đời với tư cách một cư sĩ làm chứng cho t́nh yêu của Chúa và hiến thân trọn vẹn choi Ngài mà không mang danh hiệu tu sĩ ḍng này hay ḍng kia.
Ẩn sĩ giữa đời
Về miền Nam Việt Nam cuối năm 1965, thầy nhận dạy triết học chương tŕnh Pháp tại trường các nữ tu ḍng Phaolô ở Sàig̣n. Đầu năm 1966, thầy được linh mục Nguyễn Văn Lập, Viện trưởng Đại Học Đà-Lạt, mời dạy Triết. Là giáo sư đại học, nhưng thầy xác định «Đại học Đà-Lạt gần như chỉ là chỗ tôi tạm dung thân chứ ḷng tôi chẳng hề dính bén về mặt danh lợi và t́nh. Cuộc sống của tôi có chăng như là một kư túc viên cao cấp: chẳng sắm sửa ǵ, chẳng có ư định gây dựng ǵ cả. Ai giao việc ǵ th́ làm việc nấy, lương bổng đưa bao nhiêu th́ nhận bấy nhiêu, tiêu bấy nhiêu. Ai cần th́ cho mượn, có th́ trả, không cũng chẳng đ̣i (nhất là một số sinh viên nghèo), chẳng dành dụm ǵ cả. Có khi c̣n phải vay mượn thêm để cho những ai cần, túng t́m đến. Tôi cũng không chủ trương giúp đỡ ai lâu dài, v́ không muốn ràng buộc ơn nghĩa với ai».
Cung cách làm giáo sư đại học của thầy rất đặc biệt. «Giữa hàng ngũ sinh viên, tôi như một người anh cả hơn là một vị giáo sư, do đó tương quan rất gần gũi, thân mật, rất đậm t́nh người. Sinh viên vào pḥng tôi trọ đêm, hay ngược lại tôi ngủ tại pḥng trọ của họ là thường. Ngoài giờ học, thầy tṛ quây quần quanh quán phở, cà phê cũng là thường, không tổ chức thường xuyên, nhưng tôi cố gắng thực hiện cái cung cách của con người cùng với anh em trẻ đi t́m Chân Lư, như tôi học được nơi các thầy ở Sorbonne, chứ giáo tŕnh của tôi th́ cũng xoàng thôi. Tôi quan niệm rằng: không ai dạy triết cho ai, không có ai học triết với ai được cả! Chỉ là kẻ trước người sau trên đường đi t́m triết lư cho ḿnh, do ḿnh».
Sau đó thầy được cử làm Trưởng Ban Triết học và Quyền Khoa Trưởng Khoa Văn. Dầu vậy, thầy vẫn luôn «có tâm tư của kẻ lữ hành giữa những kẻ cùng lữ hành, như chưa t́m đâu là chỗ ở, việc làm của ḿnh cả, và cứ như kẻ nghĩ rằng ngày nào đó ḿnh lại nhổ lều đi cắm nơi khác».
Đời sống đạm bạc và phóng khoáng như vậy, nhưng thầy cảm thấy chẳng có ǵ đáng để tự hào. «Tôi không ham danh lợi chẳng qua v́ bản tính tự nhiên không ham cái ấy, có lẽ rằng nếu không biết Chúa, tự nhiên tôi cũng thế mà thôi. Hơn nữa, t́nh h́nh bất ổn của xă hội càng làm tôi không dính bén, v́ biết đó chẳng ra ǵ và cũng chẳng vững chắc ǵ: kinh nghiệm về danh lợi của thân phụ tôi đă làm tôi sáng mắt theo sự khôn ngoan triết lư tự nhiên, chứ chẳng phải theo tinh thần nghèo khó của Tin Mừng đâu! không phải là thật sự yêu người theo đúng nghĩa Tin Mừng đâu! chẳng có ǵ là hy sinh v́ Chúa, v́ anh em cả!…». «Thế nhưng, đây là sự kỳ diệu của Thiên Chúa. Chúa che mắt không cho ai thấy được sự thực như vậy cả! Cho nên đối với một số anh chị em, đời sống của tôi đă có tác động xây dựng, có thể như là gương sáng!!! Tạ ơn Chúa, nếu có anh chị em nào nhờ vậy mà thêm phần được ảnh hưởng tốt, th́ hoàn toàn là việc Chúa làm, Chúa dùng cái bề ngoài của tôi mà giúp đỡ họ, chứ giá trị bên trong của tôi th́ hoàn toàn chẳng có ǵ! Thế mà ôi khốn nạn cho tôi! Mặc dầu ư thức như vậy, đôi lúc tôi cũng đă để cho cái tự phụ rởm len lỏi vào tâm hồn, tự cho ḿnh là tốt. Thỉnh thoảng lầm tưởng là ḿnh có tinh thần nghèo khó, có ḷng yêu người!!! Nghĩ lại mà xấu hổ!» Phải chăng thầy là một tâm hồn khiêm nhường đích thật!
Cuộc Rửa tội lần thứ hai
Thầy Dương đang làm giáo sư tại Đại học Đà-Lạt th́ biến cố 1975 xảy đến. Đà-Lạt tiếp thu vào ngày 30-3-1975 trước Sàig̣n đúng hai tháng. Thầy là giáo sư duy nhất (cùng với một phụ khảo có gia đ́nh tại Đà-Lạt) ở lại, không di tản. Thầy được Đức Giám Mục Đà-Lạt chỉ định ở lại Viện đại học như thành phần của ban giám hiệu, bảo quản cơ sở vật chất... Chưa đầy một tháng sau, ngày 24-4-1975, thầy bị chính quyền bắt đi tập trung cải tạo 16 tháng tại trại Sông Mao (B́nh Thuận) v́ đă là cựu sĩ quan chế độ cũ… Thời gian 16 tháng này thầy cho là một hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa dành cho ḿnh..
Khám phá ra những ảo tưởng về ḿnh
«Bài học quư giá nhất là: trong trại cải tạo, chân tướng của bản thân tôi được lột trần ra nhờ sự việc dồn tôi vào một cái thế không thể nào che đậy được chân tướng ấy dưới bất cứ cái vỏ giả hiệu nào. Bao nhiêu ảo tưởng về chính ḿnh nhờ vậy mà được dẹp sạch». Một hôm, một người bạn cùng cảnh tù tội với thầy bị sốt rất nặng. Thầy có mấy viên thuốc tifomycine cuối cùng để pḥng bệnh. Thầy muốn cho, nhưng lại sợ đến khi ḿnh cần th́ không có. Thế là đêm hôm ấy, thầy phải phấn đấu, vật lộn với tính ích kỷ suốt cả đêm trường mới có thể đi đến quyết định nhường những viên thuốc cho người bạn khốn khổ ấy. Nhờ thử thách đó mà thầy nhận ra ḿnh chưa thương người đúng như Chúa muốn, như thầy vẫn tưởng. Thầy viết: «Tôi rời trại học tập với bài học quư giá vô cùng là: ḿnh chỉ là một đứa tồi, rất tồi, nếu không có Chúa nâng đỡ ban ơn thêm sức cho th́ cái khả năng “bán Chúa” như Giuđa không phải là không có cơ xảy ra!»
Trong trại học tập, thầy nhận ra được con người thật của ḿnh để nhờ đó cậy trông vào Chúa hơn, chứ không tự hào về chính ḿnh. «Có thể nói năm 75-76 là thời gian tôi được ơn Rửa tội lần thứ hai».
Trong thời gian cải tạo, thầy có nhiều th́ giờ để hồi tâm suy nghĩ về toàn bộ quăng đời đă qua, đặc biệt là chặng đời làm Kitô hữu và ơn gọi tu tŕ của ḿnh. Thầy đă tự quyết định bỏ ḍng Phanxicô, và một vài ḍng đă thử sống. Bây giờ thầy tự hỏi: «Tôi đă đánh mất ơn gọi, hay tôi đă rơ ràng là không có ơn gọi tu tŕ mà vẫn ngoan cố đeo đuổi? Nhưng biết đâu Chúa gọi tôi theo một kiểu tu tŕ mới mà tôi phải dày công t́m kiếm!?»
Phải chăng thầy Nguyễn Khắc Dương đă khám phá ra một kiểu tu cho riêng ḿnh mà hiện nay thầy đang theo đuổi: một kiểu tu không h́nh thức, không mang danh tính, không ai biết ḿnh tu, «một kiểu “ẩn tu” ở giữa đời, “ẩn tu” trong chính ḷng ḿnh».
Đôi khi thầy cảm thấy hối hận v́ đă không tận dụng ơn Chúa: «Năm 75 tôi như đứa con hoang đàng về nhà cha sau khi phung phá bao nhiêu của cải mà Chúa đă đặt vào tay tôi: vật chất có, trí tuệ có, thiêng liêng có, rồi trở về với hai bàn tay không theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng!»
Thầy cảm thấy trong việc sống đạo hay tu tŕ của thầy có những lợn cợn của ích kỷ: «Trong hai câu “Ai mệt nhọc hăy đến cùng Ta”, và “Ai theo Ta hăy vác thập giá mà theo Ta”, h́nh như tôi chỉ thật sự nghe câu thứ nhất, c̣n câu thứ hai chẳng khác nào lư thuyết xuông thôi! Quả vậy, tôi chỉ chạy đến với Chúa để t́m an ủi (dù là an ủi thiêng liêng th́ cũng chỉ là quan niệm ủi cho ḿnh), chứ tôi chưa hề tự nguyện nhỏ một giọt mồ hôi nào v́ danh Chúa cả… Nói tóm lại, suốt 20 năm tôi vẫn t́m chính ḿnh tôi dưới dạng này hay dạng khác, dù là đang t́m một con đường tu tŕ, chứ không phải là thật sự tinh tuyền t́m Chúa». «Cái tôi của mỗi người mỗi khác, nhưng giống nhau. Về việc đi tu,«Tôi đă đi t́m đời tu theo tinh thần «hiền triết», «đạo gia» ngoại giáo, t́m giải thoát khỏi mọi vấn vương hệ lụy «cho ḿnh», chứ không có ǵ là hy sinh cho Giáo hội và tha nhân.. Ngày nay, càng suy gẫm tôi càng cảm nghĩ rằng cuối cùng Thiên Chúa đă xót thương từng bước giúp tôi thức tỉnh, thoát khỏi cơn mộng du tu tŕ kiểu «ngộ đạo» (agnosticisme) để nhận ra cái chân tướng phàm nhân củ ḿnh»Thầy Dương tự xét rằng đă ôm ảo tưởng quá nhiều trong đời tu: «Tôi rơi vào chỗ hợm ḿnh, tự đặt cho ḿnh như có cái ǵ đặc biệt, khác người và hơn người!) Tôi nghĩ rằng ḿnh… sẽ được Chúa đưa đi theo một con đường nên thánh đặc biệt. V́ thế, thay v́ tuân giữ những ǵ chung cho tất cả nhà tập và học viện, tôi đă tự ư ṭ ṃ t́m đọc riêng rất nhiều sách dẫn đàng thiêng liêng, trong lúc tŕnh độ thiêng liêng c̣n quá non nớt… Tôi đă ngấu nghiến đọc (thầy kể ra đây một lô tác giả tu đức) Tôi đă bội thực về mặt này. Tôi đă có những ước mơ thần hiệp quá sớm, quá vội, vượt quá sức ḿnh, chạy theo những điều ḿnh đă tự ngấu nghiến, không có người hướng dẫn. Có thể nói nơi tôi đă xảy ra hiện tượng gần như là “tẩu hỏa nhập ma”!»
Với biến cố 1975, thầy xem ḿnh như rơi xuống đáy vực sâu, và cho rằng đó chính là thuốc Chúa dùng để cứu chữa mà «thuốc chữa là một sự khiêm nhường thật sự thâm sâu trong ḷng. Và thuốc chữa ấy thường chỉ có Chúa mới đem lại được cho kẻ mắc phải bằng cách cho vấp ngă nặng nề, rơi vào tận đáy vực sâu để biết thân biết phận… Ơn ấy Chúa đă ban cho tôi với những sự cố xảy ra trong hai năm 75 và 76. Cho nên tôi gọi đó là “sự trở lại thứ hai” của tôi. Năm 75 cùng với năm 49 là hai năm “Đại hồng phúc” của đời tôi».
Thời gian đó, biết bao vấn đề thầy đă xét lại, để biết ḿnh nhiều hơn, để t́m ra những ǵ c̣n khiếm khuyết, sai lầm trong cuộc đời quá khứ của ḿnh. Nhờ đó, với cố gắng mỗi ngày cải thiện đời sống, thầy hy vọng sống một cuộc đời b́nh dị và thiết thực hơn; cuộc đời một tín hữu Đức Kitô giữa muôn vàn anh chị em tín hữu Đức Kitô.
Giờ đây năm 2005, thầy được đúng 80 tuổi, đang sống như một cư sĩ giữa đời, vẫn một ḿnh một bóng, đời sống vật chất cũng như tinh thần đều hoàn toàn phó thác vào bàn tay quan pḥng yêu thương của Thiên Chúa mà thầy đă cảm nghiệm được T́nh yêu và ḷng xót thương vô hạn trong Đức Giêsu Kitô.
TẠM KẾT
Để tóm lược tinh thần siêu thoát của cư sĩ Nguyễn Khắc Dương, tôi xin kết thúc với bài thơ do chính thầy dệt vần nói lên “SỞ NGUYỆN” của thầy, mong ước ḿnh chỉ là một hành giả như người phận hèn đơn bạc “sống vô gia cư thác vô địa táng” để trở nên những mảnh bụi lót chân cho khách qua đường trên trần thế:
SỞ NGUYỆN
Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,
Tấm thân đất chở với trời che.
Cảm người bươn chải ṿng cơm áo,
Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe.
Trần sắc mười phương đau đớn thấy,
Thế âm bốn cơi xót xa nghe.
Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,
Nguyện lót êm chân khách vỉa hè.
(Nguyễn Khắc Dương)
Nguồn : http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:r8_BunEvNWIJ:www.thanhnien.com.vn/tnotuansan/Pages/201005/20100128134946.aspx+%22nguy%E1%BB%85n+kh%E1%BA%AFc+d%C6%B0%C6%A1ng%22&cd=6&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
Nguyễn Khắc Phê, ông đồ xứ Nghệ
(em trai của Nguyễn Khắc Dương)
Nguyễn Khắc Phê là nhà văn đầu tiên ḿnh gặp trong đời. Thủa bé th́ thấy các nhà thơ Hải Bằng, Nguyễn Văn Dinh, Xuân Hoàng khi các ông về Ba Đồn đọc thơ, chỉ dám đứng xa xa ngắm nghía, không dám tới gần. Anh Phê đă gặp ḿnh một ngày mùa đông năm 1975, nói chuyện với ḿnh, lại ôm vai hót cổ nữa, chỉ chừng mươi phút thôi rồi đi thế mà ḿnh sướng râm ran cả tuần.
Hồi ḿnh c̣n là sinh viên, trong lớp có thằng Minh con nhà thơ Viễn Phương, chỉ cần con nhà thơ là ḿnh đă nể trọng lắm rồi, đi đâu cũng khoe tao học với con nhà thơ Viễn Phương. Cái thằng nhà quê như ḿnh được học với con nhà thơ nổi tiếng miền Nam, được đá bóng với con đại tướng, được chơi thân con gái ngài bộ trưởng, oách cực, về quê khoe với tụi bạn suốt ngày.
Chiều chủ nhật ḿnh đi chơi về, thằng Hoan, thằng Thư (hai thằng này bây giờ làm to lắm) kéo tay ḿnh mặt mày nghiêm trọng, nói có nhà văn Nguyễn Khắc Phê tới t́m anh hai ba lần, ḿnh đứng ngây người vừa sung sướng vừa tự hào. Bảo đảm cả lớp chẳng có thằng nào được nhà văn đến t́m như ḿnh trừ thằng Minh, bố nó t́m nó là đương nhiên, tự nhiên thấy giá ḿnh lên cao hẳn, hi hi.
Chiều tối anh Phê đến, anh mặc cái áo đại cán đă sờn, đội cái mũ lá, đi đôi dép cao su y chang mấy ông cán bộ xă, bụng tấm tắc khen sao nhà văn giản dị thế. Té ra anh ăn mang “giản dị” như thế cho đến già, bất kể lúc nào, ở quê hay ra phố, trên đường hay vào hội nghị, thời bao cấp hay thời đổi mới... bất di bất dịch. Về sau th́ biết đó là mốt của các ông đồ xứ Nghệ, ai cũng như ai, cứ áo đại cán, mũ lá, dép cao su vào vào ra ra lóm thóm suốt cả cuộc đời.
Anh vỗ vai ḿnh, miệng thít thít mắt cười rất tươi, nói Lập trẻ hè trẻ hè, rồi giao cho ḿnh cái cặp phần thưởng giải ba thơ Hội văn nghệ Quảng B́nh và 22 đồng, nói đây là tiền nhuận bút, tiền giải của ông được 80 đồng, ông X. nhận rồi, ông X. nói quen thân ông, ai cũng tin.
Khi đó ḿnh 20 tuổi, lần đầu tiên trong đời nhận được những đồng tiền do chính ḿnh làm ra, được nhà văn nổi tiếng t́m hai ba lần mới gặp, ôm vai hót cổ gọi bằng ông, được nhà thơ nổi tiếng khoe quen thân với ḿnh, dù khoe là để cuỗm tiền giải của ḿnh th́ ḿnh cũng sướng củ tỉ. Tụi bạn học trong lớp nh́n ḿnh ngưỡng mộ lắm.
Thú thật khi đó ḿnh chưa đọc ǵ của anh Phê, chỉ cái bút kư viết về trại gà Đồng Hới ḿnh đọc hồi lớp 10, rất thích, cái ông lù đù vậy mà viết dí dỏm ra phết. Sau mới biết anh là nhà văn sống chết với đường Trường Sơn, anh đă viết 5 cuốn sách cả thảy, cuốn nào cũng ghi được dấu ấn một thời. Văn học Trường Sơn thời chống Mỹ thơ có Phạm Tiến Duật, văn có Nguyễn Khắc Phê, cả hai h́nh như đă vắt kiệt tài năng và sức lực cho Trường Sơn và thu được những thành công không nhỏ, nếu không muốn nói là to lớn.
Ḿnh không ngờ anh Phê là bạn thân của ông bố vợ ḿnh, cả hai đă từng ăn cùng mâm ngủ cùng hầm, sống chết có nhau trên những cung đường chết, tọa độ lửa. Ông bố vợ nhà ḿnh h́nh như chẳng biết nhà văn Việt Nam nào trừ Nguyễn Khắc Phê, hễ ông nói chuyện văn là y như ông nhắc đến những cuốn sách của Nguyễn Khắc Phê, những cuốn sách ông đă thuộc nằm ḷng thời máu lửa. Cứ mở mồm là Nguyễn Khắc Phê nói thế này, Nguyễn Khắc Phê viết thế kia.
Qua ông bố vợ ḿnh mới biết cái ông đội mũ lá, mặc áo đại cán, đeo dép cao su kia té ra thuộc ḍng danh gia vọng tộc, con trai đại thân triều Nguyễn, hai lần Phủ Doăn Thừa Thiên, hàm Thượng thư cải cách hương ước khét tiếng một thời. Bốn anh em Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê đều có trí lự phi thường, hết thảy đều nổi tiếng trong trường văn.
Chuyện Nguyễn Khắc Phê đ̣i cưới Lâm Thị Mỹ Dạ dân văn nghệ B́nh Trị Thiên ai cũng biết. Ngày đó chị Dạ 19 tuổi đẹp mê tơi, mấy ông Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khắc Phê tất nhiên là mê tít. Anh Phê thậm chí c̣n đ̣i cưới cho được chị Dạ, kẹt v́ mẹ chị Dạ không cho, nói con Dạ cũng con địa chủ, anh cũng con địa chủ ai cho lấy, mà lấy rồi sống mần răng nổi.
Ḿnh hỏi chị Dạ chuyện đó có không, chị Dạ cười cười, nói th́ cũng rứa đo, không nói có chẳng nói không. Ḿnh rỉ tai hỏi anh Phê, nói anh tán đổ chị Dạ à, anh cười miệng thít thít, nói ông chê tôi xấu trai không tán đổ chị của ông à. Anh Phê có điệu cười thít thít rất vui, quen anh mấy chục năm rồi, chưa khi nào thấy anh nổi cáu, lúc nào cũng thấy anh cười tít mắt, cái miệng thít thít, bất kể gặp chuyện ǵ cũng mắt cười miệng thít vậy thôi.
Dạo này về hưu rồi mới thấy anh thong dong, để ư đến chơi bời, ḿnh về Huế lần nào cũng vậy, hú cái là anh vọt tới liền, chứ ngày xưa đừng có ḥng, rời cơ quan, hết họp hành hội nghị hội báo là anh lên xe đạp cắm cổ chạy về nhà ngay. Chưa khi nào thấy anh tụ bạ đàn đúm với anh em, tuồng như anh thấy việc ngồi quán xá là vô lư hết sức, anh chẳng rủ ai vào quán cũng chẳng để ai rủ ḿnh, chèo kéo măi th́ anh ghé đít ngồi vào một chút rồi biến liền.
Đi đâu có khát nước cháy cổ anh cũng cố chạy về nhà uống nước chứ chẳng chịu mất cho quán nước một xu, c̣n bảo vào quán uống chén trà th́ anh cười lắc đầu, nói trà ở nhà ḿnh cũng có, vô đó mần chi. Thằng Dương Thành Vũ nói ông Phê kẹt gớm, đến nhân vật ông cũng chẳng cho ăn một bữa ngon. Mọi người cười ầm, thằng nào lừa được ông Phê chi cho một bữa ngon trời sập cái đoàng.
Trêu anh cho vui vậy thôi, anh không thuộc ḍng dơi họ nhà kiết, chính xác anh chỉ kiết cho chính anh thôi, bạn bè ai hỏi mượn tiền anh đưa liền, chẳng khi nào hỏi mượn làm ǵ, khi nào trả. Cũng giống như mấy ông đồ Nghệ khác, anh nghiện chữ, sách đắt mấy cũng mua, mua cả tấn sách miệt mài đọc quanh năm, hết đọc th́ viết, viết hết cuốn này sang cuốn khác. Phàm đă nghiện chơi chữ th́ th́ thấy chơi mấy thứ khác đều tầm phào, thậm chí vô nghĩa, anh kiên quyết không chịu tốn tiền cho mấy tṛ mà anh cho là vô nghĩa, vậy thôi.
Giống Văn Công Hùng, anh quanh năm làm phó, hết làm phó cho anh Xuân Hoàng đến làm phó cho Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ. Lắm người làm phó chỉ vài năm đă thấy ngứa ngáy khó chịu, anh làm phó bền bỉ ba chục năm vẫn tươi tỉnh như không, ai hỏi th́ miệng cười miệng thít, nói ḿnh con đại địa chủ được thế này phúc đức lắm rồi.
Người ta tranh nhau đi nước ngoài dập dập d́u d́u anh vẫn an nhiên không chút sốt ruột, ḿnh nói tại mấy cuốn sách của anh nó yểm ảnh đấy. Anh bảo sao, ḿnh nói Phùng Quán có tập thơ Từ thơ đến huyệt, in xong cái chết liền, Hữu Thỉnh có tập thơ Từ chiến hào đến thành phố, in xong nhảy một phát về Thủ đô, lên ngựa xuống xe hai chục năm đă đời, anh cứ hết Đường qua làng Hạ, Đường giáp mặt trận, V́ sự sống con đường th́ chỉ có suốt đời quẩn chân chị Rạng vợ anh, đừng có mơ tây tàu mà mệt.
Anh cười h́ h́, nói ông nói phải phải. Mấy năm sau anh ra cuốn sách mới có tên là Những cánh cửa đă mở, in xong cái là được đi tây hai ba chuyến, được lên làm trưởng liền. Ḿnh gọi điện cho anh, nói em nói đúng chưa. Anh cười h́ h́, miệng thít thít, nói nhưng sắp hưu rồi, lại về làm phó cho mụ Rạng thôi he he.
Nguyễn Quang Lập
Nguồn http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:KpbpGoGOKWEJ:vanhocquenha.vn/view.asp%3Fn_id%3D3606%26n_muctin%3D10+%22nguy%E1%BB%85n+kh%E1%BA%AFc+d%C6%B0%C6%A1ng%22&cd=10&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
Nguyễn Khắc Phê và “di truyền” chữ
Có người hỏi về cái tên PHÊ, Nguyễn Khắc Phê bộc bạch: ”Không có lư do ǵ đặc biệt cả. Thân phụ tôi là nhà nho nên tên các con trai trong nhà, khi viết chữ Hán, có bộ “thủ” đứng bên trái, cũng như tên của Cụ. Có thể Cụ xem đó là dấu tích “di truyền” về chữ, đồng thời nhắc nhở phải sống và tiến thân bằng chính “đôi tay” của ḿnh (chữ Hán: “thủ” nghĩa là “tay”) chứ đừng ăn bám hay bợ đỡ ai. Và anh đă sống, đă viết, đă hành động đúng cái nết “di truyền chữ” ấy…
1. Nguyễn Khắc Phê là một trong ít nhà văn có gốc gác “oách” nhất trong 17 nhà văn Việt Nam sống ở Huế. Nhắc đến Khắc Phê, ai cũng biết anh quê vùng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh nhưng sinh ra ở Huế, là con nhà danh gia vọng tộc. Bố anh là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, hai lần Phủ Doăn Thừa Thiên, Quyền Tổng đốc Thanh Hoá, hàm Thượng thư cải cách hương ước. Do có cảm t́nh với những người yêu nước nên không được ḷng Tây, ông chán ghét về hưu sớm (1942). Ông đă để lại dấu ấn đậm nét ở Huế bằng bốn câu đối khắc ở các mặt trụ biểu Thương Bạc; Ông để lại 16 chữ vàng rất minh triết góp kế sách phục hưng quốc gia cho vua Thành Thái mà đến bây giờ c̣n nguyên giá trị: Tôn tộc đại quy / Tôn lộc đại nguy / Tôn tài đại thịnh / Tôn nịnh đại suy (Trần Đại Vinh dịch: Tôn trọng ṇi giống ắt đại ḥa hợp Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan / Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh / Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong). Tên ông c̣n khắc ở bia tiến sĩ Huế. Các anh trai nhà văn, cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là nhà văn hoá lớn, rồi các giáo sư nổi tiếng Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi mà tên tuổi rất được giới trí thức nể trọng. Nguyễn Khắc Phê nói anh “là người chẳng có mấy năng khiếu văn học”, thế mà 40 năm qua, anh đă in 15 cuốn tiểu thuyết, kư… dày dặn và đă nhận được nhiều giải thưởng văn học. Cuộc đời và văn chương Nguyễn Khắc Phê luôn gắn bó với những con đường. Đường ra trận và đường dựng xây đất nước, đường” tâm đạo” và đường “đời” luôn gắn bó, tâm huyết và bản lĩnh… Tuổi vị thành niên Nguyễn Khắc Phê đă ra Hà Nội đi bán sách dạo kiếm sống khắp phố phường Thủ Đô. Anh một thời là cán bộ kỹ thuật cầu đường Quảng B́nh vào sinh ra tử. Đó là cái vốn lận lưng căn bản để anh đi vào ma trận văn chương. Mới 20 tuổi (1959) đă có bài kư “Những người đi tiên phong” đăng báo Văn học viết về những người bạn cùng lớp phải thôi học vào Vĩnh Linh mở đường Trường Sơn; rồi cuốn sách đầu tay “V́ sự sống con đường” (1968) viết về cuộc chiến đấu anh hùng trên đèo Mụ Dạ, nơi trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, mà anh là người trong cuộc. Ban ngày đội bom giữ đường, đêm trong hầm chữ A thắp đèn dầu hoả tù mù viết văn; Rồi Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết, 1976); Đường giáp mặt trận (tiểu thuyết, 1976); Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980); Miền xa kêu gọi (tiểu thuyết, 1985); Những cánh cửa đă mở (tiểu thuyết, 1986); Thập giá giữa rừng sâu (2003).Anh vừa cho ra mắt cuốn tiểu thuyết dày 700 trang Biết đâu địa ngục thiên đường. Theo tôi đây là cuốn sách hay nhất, đời nhất của Nguyễn Khắc Phê.
Đọc văn Nguyễn Khắc Phê ta như sống lại với hiện thực đất nước gian nan, khốc liệt và sống động một thời. Qua văn chương, Nguyễn Khắc Phê muốn đội ngũ trí thức có một chỗ đứng đích thực, không làm “dáng trí thức”, không tiến thân bằng c̣n đường xu nịnh… Nể trọng lắm lắm.
2. Nhưng đối với tôi, anh Phê trong cuộc sống là người lạ lùng, không bắt chước được. Anh đọc rất nhiều, đọc rất nhanh và viết cũng rất nhanh. Đọc rất nhiều sách văn xuôi và sách về văn hoá. Cuốn sách vừa mới xuất hiện, hôm sau đă có bài giới thiệu của anh trên báo. Cắm cúi vài ngày đọc xong cuốn tiểu thuyết dày cộp năm bảy trăm trang, ngay trong đêm lụi cụi gơ bàn phím viết bài giới thiệu.Anh giới thiệu từ bộ tiểu thuyết dày cộp Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (Mỹ), Đàn hương h́nh, Báu vật của đời của Mạc Ngôn (Trung Quốc), Người Kinh Đô cũ của Hà Khánh Linh, Pḥng tuyên sông Bồ của Đỗ Kim Cuông, bộ sách chưởng “Diệt Tần” mấy cuốn của Long Nhân… đến một cuộc triễn lăm tranh nhỏ, một dự án văn hoá ở đầu Sông Hương mới manh nha… Rồi viết chân dung, b́nh tác phẩm của Trần Đức Thảo, Phùng Quán, Vĩnh Mai, Bửu Chỉ… Tất cả những bài phê b́nh, chân dung ấy anh gom lại sách Hiện thực và sáng tạo tác phẩm văn nghệ (2006) đầy tâm huyết và rất chính kiến. Anh cho rằng người sáng tác không nên khuôn theo một “chủ nghĩa” nào mà sáng tạo là tự do. Để có “tác phẩm lớn, xứng tầm thời đại “theo anh không nên khuôn vào đề tài, v́ Truyện Kiều của Nguyễn, Chí Phèo của Nam Cao là tác phẩm lớn, lại viết về con người dưới đáy xă hội. Với trực giác bén nhạy, tâm hồn đa cảm, Nguyễn Khắc Phê viết tản văn rất “nóng” và rất bén. Đó là những vấn đề thế sự gay cấn mang ư nghĩa xă hội sâu rộng. Ví như bài “Tham nhũng và suy thoái văn hoá”, anh nêu vấn đề nếu “quốc nạn” này không được ngăn chặn, cả một thế hệ sẽ bị hư hỏng. Anh luận bàn về dân chủ và vị trí của trí thức. Đây là cuộc đấu tranh khó khăn v́ nó tùy thuộc vào chế độ xă hội, vào tŕnh độ dân trí như “Báo động đỏ về sự dối trá”, “Thiểu số và đa số”, “Đảng và Quốc hội”, “Bài học đêm trước Đổi Mới”… Anh lẫy ra rất nhanh những vấn đề triết lư nhân sinh trong những tản văn xuất xứ từ những thông tin hàng ngày như “Chó và quan - xưa và nay”, “Những con chuột khôn ngoan hay 2,9 tỉ và 500 đồng, Nỗi khổ của giám đốc ngày giáp tết… Chỉ bàn về chuyện sướng- khổ thôi anh cũng làm cho người đọc phải thấm thía suy nghĩ: …bác xích lô già sau một ngày lao động vất vả…, thong thả đạp xe về với vợ con, miệng nghêu ngao hát những câu ca cổ. Tôi chợt nghĩ bác xích lô ấy so với một sếp tham nhũng ngồi trong ô tô kín bưng, trước những cặp mắt ghẻ lạnh của dân chúng, bụng căng đầy bia thịt và cũng đầy âm mưu móc ngoặc, hối lộ ḥng che giấu tội lỗi th́ chắc ǵ ai sướng hơn ai?" (Đời hoa, trang 97). Sau khi đọc bài thơ của tôi viết về mệ ăn xin ngồi ở dốc Bến Ngự“… xe cúp xe con rú máy vèo qua xả khói vào mê nón/ rơi vào mê nón nắng mưa nhiều hơn đồng hào… anh có ngay tản văn sâu sắc: Bà già bên dốc Bến Ngự và những chuyến xe qua. Những tản văn đó anh tập hợp in thành tập Đời hoa (1999). Trộm nghĩ “Hiện thực và sáng tạo…” và Đời hoa mới là những tác phẩm thể hiện được tâm nguyện, cá tính và đậm chất Nguyễn Khắc Phê nhất. Dường như càng cao tuổi anh viết càng sắc sảo và chăm chỉ hơn. Tôi trẻ mà không theo nổi. Luôn thấy anh có bài đăng báo. Có lần anh và tôi được nhà Huế học Phan Thuận An mời đi thả thơ, đổ xăm hường dưới đ̣ Sông Hương. Tôi thấy hưng phấn, định về viết một bài cho báo. Tối về, tôi chưa kịp mở máy đă nghe anh điện thoại bảo “ḿnh đă viết bài gửi cho báo Tuổi Trẻ, Thừa Thiên Huế rồi nghe”. Nhanh như điện!
3. Con nhà danh giá thế, viết lách sắc sảo thế, nhưng Nguyễn Khắc Phê lúc nào ra đường cũng đội cái mũ lá tơi Hà Tĩnh đặc trưng, đi dép lê, quần áo lùi xùi, trên vai luôn đeo xạch sệ cái túi chẳng có tính trang sức tí nào. Có lần, buổi sáng khai mạc Đại Hội Nhà văn ở Hội trường Ba Đ́nh, tôi thấy anh trên th́ cà vạt com lê như ai, nhưng chân lại dép lê, quần ống cao ống thấp. Tôi ngạc nhiên: “Bác vội, quên đi giày à?”. Anh chỉ cười hề hề. Ở Huế anh ít khi có mặt trong các cuộc nhậu vui bạn bè. Bạn bè văn nghệ cũng ít nhậu nhẹt đàn đúm ở nhà anh. Không nghê nga rượu, bia, cà phê ở quán. Ai có việc cần th́ đến nhà hỏi anh, uống chén nước rồi về.
Tôi nhớ hoài một kỷ niệm vui. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, anh xây nhà mới. Anh là nhà văn làm nhà đúc đầu tiên trong đám nhà văn Huế. Hồi đó đói khổ ăn bo bo mà có tiền làm nhà là “ác chiến” lắm, Chúng tôi đang tụ tập ở trụ sở Hội, thèm rượu mà túi đứa nào cũng rỗng. Hải Kỳ (lúc đó đang là sinh viên Đại học Sư phạm Huế) liền vỗ đùi bảo: “Lên nhà anh Phê, đang làm nhà, chắc có rượu”. Thế là mấy đứa đạp xe lên, xuưt xoa khen nhà đẹp, đề nghị anh dẫn đi xem tầng trên từng dưới. Đến góc nào Hải Kỳ cũng đảo mắt xem có chai rượu nào không ? Phải có rượu để đăi thợ chứ ? Bỗng Hải Kỳ reo lên, chỉ vào góc bếp: “Chai ǵ đây anh Phê?”. “Ừ rượu đấy ! Các cậu uống nhé”. Nói rồi anh xách cái chai rượu trắng ra pḥng khách, rót cho một đứa một chén, rồi lại cất vào chỗ cũ. Thế là đứa nào cũng tiu nghỉu, nhịn thèm nh́n theo ! Trong ăn uống anh rất tiết kiệm. Cánh báo chí ở Huế gọi anh là Nguyễn Khắc Khổ hay “khắc cả cà phê”. Có lần Đoàn Văn nghệ sĩ Huế đi thăm 7 tỉnh phía Bắc. Ra Vinh, đoàn được anh Phạn Văn Th́n, lúc đó là chủ tịch Thị xă Cửa Ḷ mời tiệc. Anh em ai cũng hào hứng v́ sẽ được bưă nhậu đă đời thằng mục. Nhưng anh Phê lại ngại tốn kém cho ông Chủ tịch nên luôn miệng can: “Ăn cái ǵ sơ sơ thôi anh, đừng uống. Mai anh em c̣n đi!”. Anh ít hiểu về rượu đến mức, hôm vợ chồng nhà văn Hoàng Cát vô Huế, nhờ tôi đưa đến thăm nhà chị Hà Khánh Linh. Chị Linh thết bạn bằng rượu ngon nhấm với bắp non chiên. Bắp non chiên phụ nữ không uống rượu có thể ăn không cũng thú, mà nhấm rượu càng bén. Hà Khánh Linh thật sành điệu món Huế. Nhưng không biết Nguyễn Khắc Phê nghe ai kể, anh lại viết trên báo rằng nhà văn Hà Khánh Linh cho Hoàng Cát uống rượu với chè bắp. Trời đất ơi, chè bắp ngọt làm răng nhấm rượu được.
Có lẽ cái tính “cần kiệm” ấy là do cái khổ nghèo của vùng quê Sơn Hoà, Hương Sơn khắc nghiệt bao đời thấm vào máu anh. Cũng có thể đó là tính “di truyền” từ ông bố Hoàng Giáp. Anh kể rằng: ”Khi về hưu các việc sinh hoạt bản thân, cụ ít sai bảo, thường tự làm lấy. Thậm chí cụ đi nhặt mo cau làm dép đi trong nhà… Đó cũng là do nếp sống "Nho gia" từ nhỏ ở một vùng quê "cá gỗ". Có người chồng ít “chơi”, ít ăn nhậu rượu chè bù khú như thế, tất nhiên chị Rạng (vợ anh Phê) rất thoả ḷng, nhưng anh Phê th́ ít giao du, ít bạn. Cả gia đ́nh Nguyễn Khắc Phê đều sống rất “tu dưỡng” cả đời cả đạo. Anh kể: “Con trai Nguyễn Khắc Trung th́ ăn chay trường nhiều năm nay, chị Rạng ăn chay 10 ngày/tháng, anh trai độc thân Nguyễn Khắc Dương 84 tuổi (ở cùng nhà) bây giờ cũng thích ăn chay. Trên gác, con trai niệm Phật, sau nhà ngang, anh trai đọc kinh cầu Chúa”, c̣n anh th́ suốt ngày đọc sách và viết báo.
Anh Phê sống lùi xùi, đạm bạc như thế, nhưng dịp đón Xuân Kỷ Sửu năm ngoái, anh chơi sang làm tôi hết sức ngạc nhiên. Anh là Chủ tịch Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế, sinh hoạt chi hội cuối năm Tư, anh đă bất ngờ tổ chức trao cho ba nhà văn tuổi Kỷ Sửu là Lâm Thị Mỹ Dạ, Mai Văn Hoan và tôi ba lẵng hoa thật đẹp, có băng-rôn đỏ chữ vàng vắt ngang “Mừng nhà văn tuổi Kỷ Sửu”. Hôm đó tôi xúc động như là ḿnh được giải thưởng lớn. Cái lẵng hoa đó tôi đặt ở pḥng khách gia đ́nh suốt nửa tháng trời. Cũng nói thêm là Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Huế này có từ 25 năm trước, qua nhiều đời Chủ tịch. Nhưng phải đến thời Nguyễn Khắc Phê, mới có họp hành, sinh hoạt thường xuyên hơn, mới có tiền làm phim chân dung nhà văn, có tiền để có “bữa ăn tươi” mỗi lần sinh hoạt, có cốc bia nâng lên hạ xuống.
4. Có người nhận xét rằng, Nguyễn Khắc Phê ít có những trang viết về yêu đương thật mùi mẫm. Tôi cũng thấy thế. Hẳn nhiên, không phải Vũ Trong Phụng phải là một tay mánh khoé cờ bạc sành sỏi mới viết được Cạm bẫy người, mà tất cả do nhà văn “bịa ra” trên cơ sở những thông tin xă hội mà nhà văn thu lượm được. Nhưng quả thực anh Phê ít bù khú bạn bè nên ít khi nghe được những chuyện “không thể tưởng tượng” về t́nh yêu và gường chiếu thời @. Tôi sống ở Huế với anh Phê hơn 30 năm nay, quả thực tôi thấy anh không khi nào “mắt tṛn mắt dẹt” hay bốc đồng trước các người đẹp cả. Anh cũng không cặp kè với ai ngoài vợ ḿnh. T́m hiểu tôi thấy h́nh như đời anh chỉ “để mắt” hai người phụ nữ. Hồi trai tân, vừa làm việc vừa viết văn ở Sở giao thông Quảng B́nh, anh quen thân Lâm Thị Mỹ Dạ. Lúc đó Dạ mới 19 tuổi, vừa chuyển về Hội Văn nghệ. H́nh như hai người cũng có t́m hiểu, để ư tới nhau. Anh đă đội mũ lá tơi, đạp xe về Lộc Thuỷ quê Dạ để “chào” gia đ́nh. Nhưng mẹ của Dạ khi biết được Nguyễn Khắc Phê cũng là con địa chủ th́ sợ lắm. V́ Mỹ Dạ bố th́ đi Nam, ông nội cũng là đại địa chủ, học văn giỏi nhất trường, thơ được giải thưởng của tỉnh cũng không được đi đại học. Bà Lư Thị Đấu (mẹ Mỹ Dạ) sinh thời, kể: “Lư lịch hai đứa xấu thế mà lấy nhau th́ không cất đầu lên được mô, thôi đi các con ơi !“.
Đúng Cụ Nguyễn Khắc Niêm bị quy là địa chủ thật. Tháng 2/1942, ông từ quan về quê dạy học. Sau năm 1945, cụ tích cực tham gia công tác từ xă đến tỉnh. Ông tham gia Ban văn hóa tỉnh Hà Tĩnh, là Uỷ viên uỷ ban Liên Việt Liên Khu Tư, kiêm Trưởng ban Cứu trợ Thương binh Liên khu 4. Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn thời ở Liên khu Tư thường hay đến đàm đạo văn chương chữ nghĩa với Cụ. Trong Cải cách ruộng đất cụ bị quy là địa chủ. Ông cụ bị bắt cùm, bị đấu tố rồi bị xử 20 năm tù - đó là nhờ họ c̣n “chiếu cố” có hai người con là Nguyễn Khắc Viện và chị Nguyễn Thị Phương Thảo có nhiều đóng góp cho kháng chiến (chị Thảo tham gia cách mạng từ hồi là nữ sinh Đồng Khánh Huế, nguyên là Uỷ viên Ban Thư kư Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Năm 1952, cụ được chính phủ cụ Hồ ở Việt Bắc đă mời một số nhân sĩ Nghệ Tĩnh - trong đó có cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, khoa bảng yêu nước Triều Nguyễn - ra Việt Bắc trong dịp thống nhất Mặt trận Việt Minh - Liên Việt Trung ương. Giấy mời đă gửi về tận nhà, rất tiếc là Cụ yếu không đi được nên đă không thoát nạn CCRĐ 1954. Cụ đau nặng và mất trong khi bị giam. Nên chuyện Khắc Phê “đặt vấn đề” với Mỹ Dạ bị “stop” cũng chuyện thường t́nh. Cũng v́ thế mà Nguyễn Khắc Phê là chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận giao thông, được sở Giao thông Quảng B́nh hai lần cử người về điều tra lư lịch để kết nạp đảng, nhưng cả hai lần địa phương đều ghi “là con địa chủ, quan lại đề nghị không kết nạp”. Măi đến năm 1982, Hội Văn nghệ B́nh Trị Thiên cử người về thuyết phục, địa phương mới nhận xét để Khắc Phê được kết nạp đảng.
Người phụ nữ thứ hai mà Nguyễn Khắc Phê suốt đời chung thuỷ là chị Rạng (Hoàng Thị Rạng), một cô giáo trắng trẻo, xinh đẹp quê Trung Quán, xă Duy Ninh, đầu nguồn sông Nhật Lệ. Nguyễn Khắc Phê công tác cùng ngành giao thông với một người gần nhà chị Rạng, v́ thế được manh mối gặp nhau. Hai người yêu nhau, rồi cưới nhau khi Khắc Phê đă 34 tuổi. Đám cưới tổ chức năm 1973, vào dịp Tết đầu tiên im tiếng bom Mỹ ở miền Bắc. Tiệc cưới chỉ có bánh kẹo, thuốc lá nhưng được một số nghệ sĩ trong Đội Văn công Trường Sơn đóng quân trong làng giúp vui. Từ đó, chị Rạng gánh vác mọi công việc gia đ́nh, nuôi con, dạy con để chồng rảnh tay lo chuyện văn chương. Tất nhiên, bù lại công lao đó, chị đă có một người chồng biết viết văn giỏi, làm báo kiếm tiền chăm chỉ và quan trọng nhất là … không biết quan tâm đến bất cứ người phụ nữ nào, ngoài vợ. Thật đáng đồng tiền bát gạo.
5. Có người hỏi về cái tên PHÊ, Nguyễn Khắc Phê bộc bạch: ”Không có lư do ǵ đặc biệt cả. Thân phụ tôi là nhà nho nên tên các con trai trong nhà, khi viết chữ Hán, có bộ “thủ” đứng bên trái, cũng như tên của Cụ. Có thể Cụ xem đó là dấu tích “di truyền” về chữ, đồng thời nhắc nhở phải sống và tiến thân bằng chính “đôi tay” của ḿnh (chữ Hán: “thủ” nghĩa là “tay”) chứ đừng ăn bám hay bợ đỡ ai. Và anh đă sống, đă viết, đă hành động đúng cái nết “di truyền chữ” ấy…
Ngô Minh
Nguồn http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:h7Oxc-rLIfEJ:www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/phongvan_chitiet.asp%3FPVSKID%3D61+%22nguy%E1%BB%85n+kh%E1%BA%AFc+d%C6%B0%C6%A1ng%22&cd=43&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
PHỎNG VẤN
NHÀ VĂN-CÁCH MẠNG-ĐỔI MỚI
( HOẶC LÀ: “TR̉ CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN “CON QUAN” TẠI CỐ ĐÔ HUẾ” )
Năm 1934, khi đang làm Tuần vũ Khánh Hoà, ông cụ tôi bảo anh Nguyễn Khắc Viện lúc anh vừa thi đỗ tú tài: “Con muốn học ǵ th́ học, đừng học làm quan
(“Tạp chí nhà văn” phỏng vấn nhà văn Nguyễn Khắc Phê, Thư kư Chi hội nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên - Huế) Bài đăng trên “Tạp chí Nhà văn” số tháng 8/2006.
PV.- Được biết anh là “con nhà quan” - cũng có thể gọi là “danh gia vọng tộc”, nhưng sau 1945, hầu hết anh chị em trong gia đ́nh anh đều đi theo cách mạng và thành đạt. Nhân kỷ niệm 61 năm Cách mạng Tháng 8, xin anh chia sẻ cùng bạn đọc Tạp chí đôi điều suy nghĩ của ḿnh về sự “gặp gỡ” khá là thú vị đó.
NKP.- Chúng ta thường nghe nói “con nhà lính, tính nhà quan”; tôi th́ h́nh như ngược lại. Thân h́nh cục mịch, ăn mang lùi xùi, cả đời áo quần không biết “mùi” chiếc bàn là, cả khi được ngồi ghế “thủ trưởng” cũng tự chen lấn ra mua vé đi công tác chứ không dám nhờ nhân viên đi mua dùm…Đă có nhiều người ngạc nhiên sau khi biết tôi là con quan, lại là quan to ! Kể ra, nếu như con người được quyền chọn nơi ḿnh sinh ra th́ tôi sẽ không sinh ra ở nhà quan. Cả thân phụ tôi hẳn cũng vậy. Ông nội tôi chỉ là trung nông ở một vùng quê nghèo tỉnh Hà Tĩnh.
Năm 1934, khi đang làm Tuần vũ Khánh Hoà, ông cụ tôi bảo anh Nguyễn Khắc Viện lúc anh vừa thi đỗ tú tài: “Con muốn học ǵ th́ học, đừng học làm quan như Thầy.” Nghĩa là cụ đă ngán cảnh ông quan một nước thuộc địa, ngay khi đang làm quan đầu tỉnh, được mọi người trọng vọng. Thân phụ tôi phải làm quan, trước hết v́ nhờ có chút tư chất thông minh “lỡ” thi đậu Hoàng Giáp (đệ nhị giáp tiến sĩ) lúc mới 19 tuổi, đời vua Thành Thái, sau đó th́ Nho học băi, nên ước vọng theo con đường dạy học của Người không đạt, đành phải chuyển sang ngạch hành chính để nuôi sống gia đ́nh. Cụ đă từng làm Đốc học Vinh, rồi Tư nghiệp Quốc Tử Giám Huế (tương tự như Hiệu phó Đại học quốc gia ngày nay) nên chúng tôi gọi thân phụ là “Thầy”.
Anh Nguyễn Khắc Dương trong một bài viết tưởng nhớ thân phụ đă kể lại: “Tôi thường được nghe Thầy tôi lặp lại câu: “Không được dĩ công vi tư”. Thuở ấy, ở Huế chỉ có các vị Thượng thư (Bộ trưởng) và quan Phủ Doăn là được nhà nước cấp cho xe hơi. Chúng tôi (kể cả mẹ tôi) không mấy khi được bước lên xe hơi. Thầy tôi bảo: “Xe hơi nhà nước cấp cho Thầy dùng vào việc công, các con không được phép dùng, vả lại sau này các con chắc ǵ làm nên danh phận để có xe hơi đi, đi bộ cho quen chân”…Tính Thầy tuy nghiêm nghị nhưng không mấy khi la mắng om ṣm. Vậy mà một hôm nghe Thầy lớn tiếng quát tháo ngoài công đường, lại h́nh như có dùng chữ “chó má” ǵ đó. Hôm sau hỏi Thầy có chuyện ǵ mà tức giận mất b́nh tĩnh đến thế, Thầy bảo: “Tôi đâu có mắng ai là chó má. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Ông xem tôi là hạng chó má hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi! Đấy! Bị người ta nghĩ rằng ḿnh có thể bị mua chuộc, là đă thấy nhục rồi!...Cả gia đ́nh tôi ăn mặc rất đạm bạc.
Khi về hưu (năm 1942) các việc sinh hoạt bản thân, cụ ít sai bảo, thường tự làm lấy. Thậm chí cụ đi nhặt mo cau làm dép đi trong nhà…Có thể mô tả thân phụ tôi bằng mấy chữ: “Ngoại quan nội sư”, quan chỉ là cái vỏ, nội dung là một cụ đồ nho xứ Nghệ…Con nhà có học th́ không phải chí có học giỏi, mà phải có lễ nghĩa, đức hạnh, nết na, ít nhất cũng phải là con người lương thiện… Do đó, việc giáo dục gia đ́nh tôi tương đối nghiêm khắc: từ lời ăn tiếng nói, cách đi đứng đều được rèn luyện kỹ lưỡng và tất nhiên là phải chăm học…”
Tôi dẫn ra dài ḍng một chút như thế v́ muốn nói rằng chúng tôi đến với cách mạng dễ dàng trước hết v́ là con nhà nho “không phải chỉ lo trau dồi chữ nghĩa mà phải tu tâm dưỡng tính theo các bậc Thánh hiền”, chứ không phải “con nhà quan”, càng không phải là “quan tham”, lạm dụng quyền hành lấy tiền của nhân dân và nhà nước tiêu xài phung phí, ăn chơi sa đoạ. Không phải là ngẫu nhiên mà thời kỳ đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đă tin cậy mời nhiều “nhà nho” cộng tác với ḿnh (như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Đặng Văn Hướng, Vơ Liêm Sơn, Nguyễn Đ́nh Ngân…). Cả Thầy mẹ tôi cũng hăng hái tham gia nhiều công việc xă hội sau Cách mạng Tháng 8. Mẹ tôi là Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ xă; Thầy tôi tham gia Hội đồng nhân dân xă, Ban văn hóa tỉnh Hà Tĩnh, Uỷ viên chấp hành Liên Việt Liên khu IV…Hồi đó tôi c̣n nhỏ (tôi sinh năm 1939) nhưng đến nay, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn không quên những ngày vui khi các chú bộ đội đến nghỉ tạm đầy nhà đầy sân, cả tướng Nguyễn Sơn cũng từng đến đàm đạo chuyện văn chương với Thầy tôi…Những điều tôi vừa nói đă được tái hiện phần nào trong tiểu thuyết “Biết đâu địa ngục thiên đường” mà tôi sắp hoàn thành.
Xin được nói thêm: Tôi nghĩ ngày xưa cũng như ngày nay, nếu người bố thuộc loại “tham quan ô lại”, gia phong tha hoá th́ con cái khó mà trở thành người cách mạng chân chính, nếu nhờ chạy chọt và các thứ “bằng giả” chiếm được ghế này chức nọ th́ chúng cũng chỉ mượn danh “cách mạng” để thoả măn tham vọng cá nhân mà thôi; tất nhiên là ngoại trừ một số ít có bản lĩnh dám vựơt thoát ra khỏi ảnh hưởng và sự o bế của gia đ́nh. Ở Việt Nam, truyền thống “gia phong” là rất quan trọng trong việc giáo dục rèn luyện con người. V́ thế, trong tác phẩm “Bàn về đạo Nho”, anh Nguyễn Khắc Viện đă dành một chương lấy nhan đề là “Noi theo đạo nhà”. NSND-đạo diễn Lương Đức, khi làm phim chân dung Nguyễn Khắc Viện cũng đă đặt tên là “Noi theo đạo nhà”. Chính là “đạo nhà” - những tấm gương gần gũi trong gia đ́nh về lời ăn tiếng nói cho đến cách cư xử trước một bông hoa chưa nở, một chú gà con bị quạ tha…giúp ta nên NGƯỜI, trước khi ta biết đọc sách, biết “lư thuyết” này khác…
PV.- Từ trước thời “Đổi Mới”, anh đă có tiểu thuyết “Đường giáp mặt trận” (1976) “Chỗ đứng người kỹ sư” (1980) về đường Trường Sơn được giải thưởng của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn; tiếp đó, tiểu thuyết “Những cánh cửa đă mở” (1987) và gần đây là tiểu thuyết “Thập giá giữa rừng sâu” (2002) đều được tặng giải cao nhất trong “Giải thưởng Cố Đô” (5 năm một lần). Từ kinh nghiệm sáng tác của ḿnh, anh suy nghĩ như thế nào về vấn đề đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và trong tiểu thuyết, nói riêng?
NKP.- Các tiểu thuyết của tôi tuy mượn đề tài “sản xuất và chiến đấu”, nhưng đă sớm đặt ra những vấn đề xă hội - theo tôi, đến nay vẫn có ư nghĩa quan trọng, được xă hội quan tâm (như vấn đề quan hệ “hồng” và “chuyên”, Đảng và trí thức, chủ nghĩa cơ hội và sự tha hoá của một số kẻ cầm quyền…). Trong 8 năm làm “Tạp chí Sông Hương” (1983-1991) ở cương vị Phó Tổng biên tập rồi Tổng biên tập, tôi mạnh mẽ ủng hộ các khuynh hướng t́m ṭi sáng tạo nghệ thuật, từ “Khối ru-bích” của Thanh Thảo đến “Tổ quốc nh́n từ xa” của Nguyễn Duy và “Người đàn ông 43 tuổi nói về ḿnh” của Trần Vàng Sao; từ Nguyễn Quang Lập. Phạm Thị Hoài đến Nguyễn Huy Thiệp…Trong Hội thảo “Văn xuôi trong những năm gần đây - Những vấn đề xă hội và sự t́m ṭi sáng tạo” tổ chức tại Mas-cơ-va tháng 4/1987 giữa hai đoàn nhà văn Việt Nam và Liên Xô, tôi cũng đă phát biểu: “Tôi thiết nghĩ, những ai đă hoạt động nghệ thuật đều hiểu sự t́m ṭi đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật là lẽ sống c̣n của ḿnh. Ngay trong bữa ăn hàng ngày, hẳn không ai muốn hôm nào cũng ăn thịt gà hầm, dù đó là món ăn ngon và bổ.
Vậy mà lại có người - đáng tiếc là có khi họ là người có thế lực - họ e ngại sự t́m ṭi đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật, v́ họ sợ như thế sẽ chệch đường, lệch hướng. Nhưng thử hỏi, trong sáng tạo nghệ thuật, ai là người chỉ rơ được con đường duy nhất dẫn đến thành tựu, như con đường tàu hỏa dẫn đến ga? Con đường sáng tạo nghệ thuật mà đơn giản thẳng tắp như đường tàu th́ không cần nghệ sĩ, nhà văn nữa! Từ nửa thế kỷ trước, ngay khi c̣n phải sống trong chế độ thuộc địa, nhà nghiên cứu văn học Hải Triều đă viết trên báo "Dân tiến "(số 1, ngày 27/10/1938) : "...Bao giờ và ở chỗ nào cũng thế, nhà văn cần phải có tự do mới có thể sáng tạo được những công tŕnh bất hủ. Gạch ra một con đường buộc họ phải theo là một sự điên cuồng..." (Trích từ cuốn sách sắp xuất bản: “Hiện thực & sáng tạo tác phẩm văn nghệ” - NXB Hội Nhà văn, 2006.)
Mặc dù vậy, về nghệ thuật tiểu thuyết, tôi không có may mắn được các nhà phê b́nh xếp vào loại “Đổi mới”. (Có phải v́ là “con nhà quan”, lại sống ở Cố Đô, vùng đất hai đầu bị chặn bởi hai cái đèo nên khó tiếp thu cái mới chăng?) Quả là các tác phẩm của tôi vẫn theo kiểu “truyền thống”, vẫn trung thành với “chủ nghĩa hiện thực”. Có thể là lớp tuổi của tôi khó đi tới sự “đổi mới” triệt để, nhưng thực ra tôi quan niệm trong văn chương chủ yếu là “hay” và “dở” chứ không phải “mới” và “cũ”; có nhiều cách để đạt tới cái “hay” - theo ḍng “hiện thực” hay ḍng “ư thức”, huyền ảo đều có tác phẩm hay, cái này không phủ định cái kia. Áp dụng “cách” nào là tuỳ “tạng” của mỗi nhà văn, tuỳ nội dung tác phẩm đ̣i một cách thể hiện, một h́nh thức thích hợp với nó. Do đó, nếu chỉ một mặt đề cao những cuốn sách tân kỳ, mới lạ về h́nh thức, thậm chí viết như đánh đố người đọc th́ tôi cho là phiến diện, có hại cho nền văn học. Cũng chính v́ thế, trong văn chương, cách gọi “chủ nghĩa” này hay “chủ nghĩa” khác đều không ổn, thậm chí có hại v́ vô h́nh trung như thế là cách buộc nhà văn theo “một con đường” vạch sẵn mà từ hơn nửa thế kỷ trước, Hải Triều đă lên án. Bản thân tôi (và có lẽ không chỉ ḿnh tôi?), nếu phải “kiểm điểm” lại những tác phẩm đă công bố th́ điều đáng nói trước hết là đă quá tự ràng buộc vào “chủ nghĩa hiện thực” này nọ, do ít có điều kiện tiếp xúc, học hỏi những thành tựu văn nghệ thế giới; từ đó, nhược điểm dễ thấy là trên trang sách nặng về tái hiện cuộc sống thực tế mà thiếu chất bay bổng của tưởng tượng và sáng tạo. Tiểu thuyết “Thập giá giữa rừng sâu” của tôi gần đây đă phần nào khắc phục được nhược điểm vừa nêu.
Mặt khác, cần phải thấy thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Văn học không hoàn toàn phải “chạy theo” nhịp độ đó, nhưng nói ǵ th́ nói, tác phẩm viết ra là nhằm tới người đọc, thử hỏi hôm nay mấy ai c̣n đủ kiên nhẫn đọc những bộ tiểu thuyết dày cộp như “Chiến tranh hoà b́nh” hay “Sông Đông êm đềm”? Do đó, độ cô đọng, tinh lọc và chiều sâu tư tưởng hẳn cũng là “tiêu chí” của những ai muốn đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết…
PV.- Nhà văn vừa đề cập đến một vấn đề khá thời sự. Trước xu thế hội nhập với thế giới không thể đảo ngược, vấn đề đặt ra hẳn không chỉ là “độ dày” của các bộ tiểu thuyết?
NKP.- Đúng vậy. Hội nhập với thế giới, chúng ta “ngộ” ra ḿnh đă chậm bước quá nhiều nhưng đồng thời nhiều mặt của cuộc sống, nhiều chuẩn mực giá trị bị đảo lộn. Trong văn học, các tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Cao Hành Kiện (Trung Quốc), “Mật mă Da Vinci”… được dịch kịp thời, gợi cho giới sáng tác nhiều điều bổ ích. Trong bài “Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương h́nh ” tôi đă viết: “…Có lẽ “phép lạ” chủ yếu của Mạc Ngôn chính là biết “bày đặt” ra những chuyện kỳ lạ ít người biết trên một cái khung, cái nền không xa lạ. Theo cách “nói chữ” th́ đó là phép “lạ hoá”, “huyền thoại hoá” hiện thực. Nó là “nội dung” mà cũng là “h́nh thức” tác phẩm; nói cách khác, đó là “thế giới nghệ thuật” của tác giả.
Có vô số chuyện lạ trong 2 tác phẩm của Mạc Ngôn. Chỉ riêng kiểu xử tử “đàn hương h́nh” kỳ lạ và gớm ghiếc kia cũng c̣n nhiều chuyện lạ kèm theo nữa... “ Chuyện lạ” trong ĐHH không chỉ toàn cảnh ghê rợn mà c̣n nhiều “pha” rất vui vẻ hiếm thấy như cảnh “đọ râu” giữa Tôn Bính và viên quan huyện…BVCĐ cũng không ít chuyện lạ. Với Tư Mă Khố, ngoài các giai thoại truyền tụng, tác giả c̣n đặc tả vị “yênh hùng” này trước khi bị cách mạng xử tử chỉ yêu cầu được sửa sang râu tóc, nhưng lưỡi dao cạo của thợ hớt tóc bị mẻ hết v́ râu hắn cứng như bàn chải bằng dây thép! Chưa hết ! Khi một chị công an mở c̣ng cho hắn tự cạo lấy, hắn “nh́n rất lâu bộ ngực nhô cao sau lần áo quân phục màu vàng, nói: - Này cô em, vú cô không nhỏ chút nào ! ” Dù bị mắng, hắn c̣n dám nói tiếp:
“-Cô em, tôi đă đ. Không biết bao nhiêu phụ nữ, chỉ tiếc rằng cho đến nay vẫn chưa đ. được một nữ đảng viên Cộng sản!” (BVCĐ, trang 485) …
C̣n những lời “quảng cáo” cho cửa hàng “Thế giới nịt vú Thú một sừng ” khó t́m thấy trong sử sách nhân loại: “...Cặp vú khoan khoái th́ người phụ nữ mới khoan khoái, người phụ nữ khoan khoái th́ người đàn ông mới khoan khoái... Xă hội nào không quan tâm đến vú phụ nữ là một xă hội dă man ! Xă hội nào không quan tâm đến vú phụ nữ th́ đó là xă hội vô nhân đạo ! Các con, bớt tiền tiêu vặt mua cho mẹ cái nịt vú, không có trời làm sao có đất, không có mẹ làm sao có con ?...” (BVCĐ, trang 709) Dẫn ra “ cái vú ” hơi nhiều - thứ bảo vật luôn luôn được giữ kín và văn chương ta thường kiêng kị nhắc đến tên thật của nó, nên phải mở ngoặc nói ngay ở đây rằng: cỡ nhà văn như Mạc Ngôn, chính trị lập trường đầy ḿnh ( không thế, sao được phong là nhà văn ‘hạng nhất” của Tổng cục chính trị Quân giải phóng TQ ) hẳn không dễ sa vào “chủ nghĩa tự nhiên” và lối viết tục tĩu, mà “cái vú” chỉ là biểu tượng mang nhiều ư nghĩa. Dễ thấy hơn cả, h́nh tượng ấy thể hiện sức sống, sự sinh sôi nẩy nở của đất nước đông hơn một tỷ dân này.
Đi liền với phương pháp “lạ hoá”, “huyền thoại hoá” là sự cường điệu, phóng đại của Mạc Ngôn khi miêu tả... Những trang sách không giống như đời thật ấy lại có sức cuốn hút người đọc chính v́ con người ta đến với nghệ thuật cốt để t́m cái khác thường, để được cùng tác giả thăng hoa khi đưa trí tưởng tượng bay lên với cảm xúc dâng trào... Tự bạch của nhà văn đă giúp ta hiểu tất cả những điều khác thường mà Mạc ngôn bày đặt ra cuốn hút độc giả tưởng như có bùa mê đều bắt nguồn từ một tâm hồn gắn bó thiết tha với quê hương, với cội nguồn. Cũng như cánh chim, cánh diều bay cao mấy cũng phải có một chỗ đậu, một điểm gắn kết với mặt đất…” (Trích từ sách “Hiện thực & sáng tạo…” đă dẫn)
Tôi dẫn bài viết về Mạc Ngôn hơi dài chính v́ ông là một bằng chứng sinh động rằng trong hội nhập văn hoá, nếu biết “gắn bó thiết tha với quê hương, với cội nguồn”, nêu cao bản sắc dân tộc th́ văn học vẫn có chỗ đứng trong ḷng độc giả không chỉ trong nước mà cả trên thế giới. (Tác phẩm của Mạc Ngôn đă được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, bản thân ông đă được mời đến nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, ở Nhật…) Theo tôi, đây là con đường đúng đắn nhất, chứ không phải để “hội nhập” th́ đua nhau viết “sex” hay học đ̣i các “trường phái” cách tân có khi đă bắt đầu tàn lụi trên thế giới. Về vấn đề này, trong bài viết nhân Hội nghị viết trẻ ở Hội An vừa qua (đăng báo “Văn nghệ” số ra ngày 27/5 và báo “Người đại biểu nhân dân” số ra ngày 23 và 24/5) tôi đă nêu chính kiến của ḿnh như sau: “…Tôi không nghĩ những khuynh hướng t́m ṭi dị biệt kể trên chắc chắn sẽ tạo nên diện mạo mới cho văn học Việt Nam. Tôi chia sẻ ư kiến của Bùi Nguyên Trang là dù sao tác phẩm viết ra phải truyền cảm đến được độc giả. Người đọc vẫn rất cần những bài thơ hay giản dị như của Xuân Quỳnh… Và tôi cũng đă phát biểu tại HNVT: Nguyễn Ngọc Tư viết theo kiểu hiện thực “cổ điển” mà vẫn hay, vẫn sâu sắc. Văn chương luôn tồn tại nhiều con đường dẫn tới đỉnh cao, miễn có thực tài. Các bạn c̣n trẻ, có gan, xin cứ đi t́m, nếu quả thực chính ḿnh cảm thấy cuộc sống và t́nh cảm thực của ḿnh đ̣i hỏi điều đó, chứ không phải cố làm cho khác người, cố phơi bày cả cách sống nhố nhăng để dễ được nổi tiếng. Biết đâu vài chục năm nữa, trăm năm nữa, sẽ có lớp độc giả của các bạn. Nhưng xin dẫn lời hai nhà văn có thể gọi là nổi tiếng, từng ở miền Nam trước “75” và đang sống ở nước ngoài: Nguyễn Mộng Giác đă nói với tôi: “Về cách viết th́ lớp chúng tôi, hồi những năm “sáu mươi” đă học theo các trào lưu “cách tân” ở châu Âu, nhưng thấy không đến đâu. H́nh như một số bạn trẻ ở trong nước hiện nay đang dẫm lại vết chân lớp bọn tôi bốn chục năm trước…”
Hội nhập với thế giới hiện đại c̣n đặt ra vấn đề “văn chương trên mạng”; có người đă tỏ ra lo ngại nó sẽ d́m chết “thế giới sách” gần gũi và phong phú đă bao thế kỷ là nguồn vui sống, là bạn đường tin cậy của nhân loại. Riêng tôi không nghĩ thế. Tôi sử dụng máy tính và internet đă chục năm nay, tôi chỉ thấy nó là một phương tiện làm việc, một cánh cửa mở ra với thế giới rộng lớn… C̣n đọc sách ư? Dù là tiểu thuyết công bố trên mạng, tôi cũng phải in ra, rồi nhẩn nha đọc dưới bóng đèn khi xung quanh đă lặng im th́ mới “sướng”, mới cảm thụ được hết vẻ đẹp và ư nghĩa của những trang văn. Tôi nghĩ, măi măi sẽ vẫn như thế!…
PV.- Xin cảm ơn anh. Hy vọng cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn sớm ra mắt bạn đọc.
Huế, Tháng 7/2006
Nguồn http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:XEp2Vx4HR_AJ:chodientu.vn/sp-Biet-dau-dia-nguc-thien-duong/1970196.html+%22bi%E1%BA%BFt+%C4%91%C3%A2u+%C4%91%E1%BB%8Ba+ng%E1%BB%A5c+thi%C3%AAn+%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%22&cd=2&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
Giới thiệu cuốn tiểu thuyết
Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu!” là câu Kiều mà bà mẹ thốt lên đau đớn khi cậu Tú Tâm con nhà quan “chạy chốn” người vợ sắp cưới, bỏ nhà đi tu. Mà đâu chỉ với cậu Tú Tâm, trong cuộc đời “dâu bể”, câu Kiều ấy ứng với nhiều nhân vật, nhiều cảnh ngộ…
Tiểu thuyết miêu tả những số phận trải qua mấy chục năm đầy biến động của đất nước nên không thiếu những t́nh huống éo le, bi thảm, nhưng tác giả cũng dành nhiều tâm huyết miêu tả những cảnh đời b́nh dị, êm đẹp ở một làng quê, với t́nh mẹ con, họ hàng, làng xóm đầm ấm – vui vẻ truyền thống và là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam….
Không hiểu sao khi nghĩ về Nguyễn Khắc Phê, tôi lại liên tưởng đến h́nh ảnh một ông lăo ngồi bên bờ Hương Giang thả sức trầm mặc hoài vọng về những ngày đă xa và chờ đợi những tháng ngày đang đến với thái độ b́nh nhiên quá thể. B́nh nhiên, cái nh́n đă trải mọi sự đời: vui và buồn, được và mất... đều đă nếm trải. Ông như một nhà luyện công đạt đến mức cảnh giới, đă nắm được "mệnh" của một người sắp đi hết tuổi "lục thập y nghĩ thuật". Chỉ có điều ông có muốn nói ra, và nếu nói sẽ nói như thế nào mà thôi. Ở Huế có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ và nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi khác làm nên "thương hiệu" cho Huế. Nhưng như nét đặc thù cố hữu vốn có, trong một buổi sáng yên lành trầm mặc của mảnh đất cố đô, người ta biết Huế c̣n có một Nguyễn Khắc Phê...
http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:-oMeE2-ov7QJ:lethieunhon.com/read.php/3516.htm+%22bi%E1%BA%BFt+%C4%91%C3%A2u+%C4%91%E1%BB%8Ba+ng%E1%BB%A5c+thi%C3%AAn+%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng%22&cd=13&hl=vi&ct=clnk&gl=vn
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê: Đậm đà nếp sống nho gia
@ Nghe nói ông đến với nghề viết cũng rất t́nh cờ?.
Nguyễn Khắc Phê: Bài viết đầu tiên của tôi đăng trên báo Văn học năm 1959 (bài kư "Những người đi tiên phong") viết về những người bạn cùng lớp phải bỏ dở khóa học vào Vĩnh Linh mở đường Trường Sơn. Thực ra, từ khi rời quê ra Hà Nội kiếm sống (1954) với nghề bán sách dạo, những cuốn sách đă cuốn hút tôi và tôi đă tập viết những truyện ngắn đầu tiên. Tuy vậy, măi đến 1968, cuốn sách đầu tay - kư sự "V́ sự sống con đường" - mới ra đời. Cuốn sách đă được nhà văn Nguyễn Khải giới thiệu với NXB Thanh niên và được nhiều người đón đọc, động viên tôi rất nhiều vào nghiệp cầm bút.
@ Sinh ra trong một gia đ́nh có truyền thống và có thể nói là "danh gia vọng tộc", ông có thấy rằng gia đ́nh có tác động đến sự nghiệp cầm bút của Nguyễn Khắc Phê? Đặc biệt là cha ông, có tác động đến sự nghiệp cầm bút của ông? Ông có thể kể vài ví dụ, vài giai thoại về sự tác động ấy?
Nguyễn Khắc Phê: Thực ra, ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) và ngay trong xă Sơn Ḥa quê tôi, do hoàn cảnh địa lư khắc nghiệt, ruộng đất ít nên không chỉ họ Nguyễn Khắc mà nhiều ḍng họ đă cho con em theo đ̣i nghiệp khoa cử - ngày xưa, hầu như đó là con đường duy nhất để tiến thân, thoát nghèo. Ông cụ thân sinh tôi đậu Hoàng Giáp năm 1907, lúc mới 19 tuổi, một "học vị" cao nhất thời đó, nổi tiếng là một thần đồng; nhưng Nho học trước đây, cùng với rèn luyện chữ nghĩa, rất coi trọng dạy "đạo làm người". Tôi không được ông cụ dạy chữ Hán, nhưng nếp sống - cũng có thể gọi là tấm gương một nho sĩ "cần kiệm liêm chính" của ông cụ thấm nhiễm qua mỗi hành vi, lời nói… đă ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời của anh em chúng tôi. Trong cuốn sách nổi tiếng của anh Nguyễn Khắc Viện ("Bàn về Đạo Nho") có chương "Noi theo đạo nhà" là với ư nghĩa đó.
Xin kể một mẩu chuyện nhỏ: Hồi đó cụ đương chức Phủ Doăn Thừa Thiên (tức là quan đầu tỉnh). Tính cụ không mấy khi la mắng om ṣm, nói năng thường cân nhắc từng lời từng chữ. Ví như khi nghe con bảo: "Đồng hồ chết rồi!", ông liền chữa lại: "Phải nói là đồng hồ đứng chứ..."; ngay đối với người giúp việc trong nhà (xưa gọi là "đầy tớ"), ông cũng dạy con cháu phải gọi là "o", "chú" và xưng "em" hoặc "tôi" chứ không được mày tao chi tớ. Vậy mà một hôm, cụ lớn tiếng quát tháo trên công đường, lại h́nh như có dùng từ "chó má" ǵ đó. Tối, mẹ tôi hỏi: "Ông có chuyện chi tức giận mà mắng người ta là chó má thế?...". Cụ bảo: "Tôi đâu có mắng ai là chó má. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Ông xem tôi là hạng chó má hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?...". Hay một lần chuyển chỗ ở (nhà công vụ của Nhà nước), một gia nhân có ư muốn lấy một bộ ấm chén khá đẹp, cụ đă "chỉnh" cho một trận. Tôi nghĩ, trước khi cầm bút, phải học làm người…
@ Và người anh Nguyễn Khắc Viện, học giả Nguyễn Khắc Viện có tác động như thế nào tới con đường văn chương của ông?
Nguyễn Khắc Phê: Có lẽ so với mấy anh em trong nhà, tôi là người gần gũi với anh Viện nhất do "nghiệp" cầm bút và do lúc anh Viện mới từ Pháp về nước, tôi đang trên đường đèo Mụ Dạ - một trọng điểm ác liệt nhất trên đường Trường Sơn - mà anh Viện th́ đang tập trung ng̣i bút cho việc tuyên truyền sự nghiệp chống Mỹ của dân tộc ta ra thế giới. Chính bài kư đầu tiên tôi viết sau trận đầu tiên Mỹ ném bom vào cầu Băi Dinh (dưới chân đèo Mụ Dạ), tôi gửi ra cho anh Viện và anh đă biên tập lại rồi gửi đăng ở báo Văn nghệ. Sau đó, tập sách đầu tay của tôi viết về những chiến sĩ TNXP, công nhân trên con đường 12A nổi tiếng (tập "V́ sự sống con đường" - NXB Thanh Niên, 1968), anh Viện cũng là độc giả đầu tiên.
Cuốn tiểu thuyết "Đường giáp mặt trận" (NXB Lao động, 1976) anh Viện cũng đọc từ bản thảo… Anh Viện vốn kiệm lời và có lẽ tôn trọng sự sáng tạo của nhà văn nên thường không góp ư cụ thể. Có khi anh chỉ buông một chữ kèm nụ cười tươi tắn hiền lành. Như khi đọc bản thảo "Đường giáp mặt trận", anh chỉ bảo: "Được đó!". Một cuốn khác th́ anh nói: "Phải kín hơn nữa!". Về chữ nghĩa, chỉ một lần anh tỏ ư không thích chữ "sự" (trong nhan đề sách "V́ sự sống con đường"). Anh bảo: "Tiếng Pháp mới viết như thế..". Nói chi tiết này để thấy, dù ở Pháp mấy chục năm, anh Viện vẫn rất quan tâm đến ngôn ngữ dân tộc. Cũng ở khía cạnh này, mỗi lần thấy tôi ra Hà Nội là anh lại nhắc nơi này vừa có khảo cổ, nơi kia có triển lăm… nên đi xem. Tôi hiểu anh muốn nhà văn phải luôn hiểu rơ cội nguồn dân tộc và có tầm văn hóa sâu rộng…
@ Ông viết nhiều thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, phê b́nh, tạp văn, báo chí...Vậy ông muốn bạn đọc gọi với danh hiệu ǵ? Theo ông, thể loại nào mới thực sự là "đất dụng vơ" của Nguyễn Khắc Phê?
Nguyễn Khắc Phê: Danh hiệu được bạn đọc tặng, dù là danh hiệu ǵ cũng đáng trân trọng. Tôi dành nhiều tâm huyết cho tiểu thuyết, nhưng có bạn mới gửi tặng sách, gọi tôi là "nhà phê b́nh", cũng vui. H́nh như gần đây nhiều người chú ư đến những bài báo của tôi có lẽ v́ tôi không né tránh những ǵ thường gọi là "nhạy cảm và phức tạp", và tôi thường quan tâm đến những số phận éo le, từng chịu nhiều oan trái, thiệt tḥi…
@ Người ta bảo Nguyễn Khắc Phê là một người cả nể. Ai đặt bài ông đều nhận và bằng mọi cách để thực hiện được lời hứa ấy, dù có thể đó không phải là những bài viết ông tâm đắc?
Nguyễn Khắc Phê: Thực ra th́ tôi chưa phải là một "tên tuổi" được nhiều nơi đặt bài. Và dù có đặt bài, tôi cũng chỉ viết những điều ḿnh hiểu rơ và tâm đắc. Tất nhiên là cũng có lúc v́ những mối quan hệ này khác, mà phải viết những bài cho người ta vừa ḷng. Ví như gần tết, họ nhờ viết bài về một đơn vị… Năm nay lên tuổi 70 rồi, tôi không c̣n sức và cũng không… dại viết loại bài như thế!
@ Và ông c̣n là một nhà văn rất thức thời. Gần 70 tuổi, nhưng nghe bảo, tŕnh độ tin học, Internet của ông rất "oách"?
Nguyễn Khắc Phê: Ở Huế nhà văn viết bằng máy tính đầu tiên là Nguyễn Đắc Xuân. Sau đó là tôi. Nay th́ có Ngô Minh, Trần Thùy Mai, Tô Nhuận Vĩ, Vơ Quế… Tôi chỉ tự học. Cũng nhiều khi "sống dở chết dở" v́ không thạo tiếng Anh, bấm sai một thao tác là màn h́nh hiện ra những chỉ dẫn mà ḿnh mù tịt; đành gọi "chuyên gia"… Nay th́ đă khá thông thạo, gửi bài vở và ảnh cho báo chí "dễ như trở bàn tay". Internet đă mở rộng cánh cửa, mở tầm nh́n cho mọi người. Nhà văn ở nước ḿnh càng cần điều đó. Chưa nói chuyện một bài báo hôm nay ngồi viết ở Huế, sáng hôm sau đă hiện trên mặt báo ở TP Hồ Chí Minh!
@ Sống ở Huế, lại từng làm quản lư văn nghệ nhưng như nhiều anh em vẫn bảo, ông sống rất "lành", ít khi có tụ tập, hội hè cùng giới văn nghệ?
Nguyễn Khắc Phê: Tôi là người chịu khó đọc, nhưng ưu tiên cho văn xuôi và các vấn đề về văn hóa. Ở Huế, có lẽ tôi là nhà văn ít ngồi quán nhất, do luôn thấy thiếu th́ giờ và có lẽ cũng do nếp sống "Nho gia" từ nhỏ ở một vùng quê đă có người gọi là "cá gỗ". Bạn bè thường đùa bảo tôi "khắc cả cà phê", không biết nhậu nhẹt ǵ. Thật ra, khi vui cũng "cụng li" được với nhau và sáng nào tôi cũng uống một cốc cà phê sữa (tự pha), sau khi ăn ḿ sợi hay cơm nguội với vừng (mè đen)! Tôi thấy như thế là hợp với sức khoẻ người cao tuổi. Thấy vệ sinh các quán ăn và cách ngâm tẩm mọi thứ thực phẩm bây giờ mà sợ!
@ Tôi vẫn biết rằng con người ta có thể sinh một nơi, sống một nơi nhưng cả đời lại hoài nhớ và nợ nần một nơi khác. Ông đă từng có mặt ở rất nhiều địa danh trên đất nước nhưng cuối cùng ông lại chọn Huế…
Nguyễn Khắc Phê: Tôi quê Hà Tĩnh nhưng lại sinh ở Huế, khi thân phụ tôi làm quan Phủ Doăn ở đó. Tôi trở lại sống với Huế từ sau năm 1975 đến nay, nhưng gia đ́nh tôi, anh chị em tôi có nhiều kỷ niệm gắn bó với Huế. Với nhiều người "Huế đẹp và thơ" có sức quyến rũ lớn; với riêng tôi, mỗi bước đi đều dễ gợi những kỷ niệm riêng rất cần cho người cầm bút: ra bờ sông, nh́n sang Thương Bạc có các câu đối của thân phụ tôi, lên Văn Miếu, có bia tiến sĩ ghi tên cụ, Trường Đồng Khánh là nơi các chị tôi theo học… Không khí yên tĩnh của Huế với bề dày lịch sử và văn hóa cũng là nơi rất thích hợp với người viết văn. Những tác phẩm như "Lê Văn Miến, người họa sĩ đầu tiên…", " Nếu được chết thay em", "Những cánh cửa đă mở", "Những chặng đường từ Huế" … và tiểu thuyết tôi vừa hoàn thành "Biết đâu địa ngục thiên đường" có rất nhiều "trường đoạn" viết về Huế.
@ Và ông sẽ phát hành trong năm nay?
Nguyễn Khắc Phê: Sợ rằng "nói trước bước không qua", nhưng chắc là sẽ in trong năm 2009. Sách dày hơn 700 trang nên người làm sách thời buổi này cũng ngại…
@ Xin cảm ơn nhà văn Nguyễn Khắc Phê!
NGUYỄN VĂN QUÂN ( thực hiện)
Nguồn: VNCA http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=372607&ComponentID=1 Thứ Sáu, 09/04/2010, 06:40 (GMT+7)
Biết đâu địa ngục thiên đường
TT - Tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường (Nhà xuất bản Phụ Nữ) so với nhiều cuốn tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Khắc Phê có bút pháp đa dạng hơn với nhiều t́m ṭi đổi mới: lối kết cấu không theo tŕnh tự thời gian, h́nh thức độc thoại và độc thoại nội tâm, kết hợp với lối kể chuyện theo ḍng ư thức của nhân vật và giọng văn tự nhiên, nhiều lúc dí dỏm mà thâm trầm...
Trong hơn 600 trang sách, tác giả dẫn ta đi vào thế giới tinh thần của nhiều nhân vật khác nhau trên con đường đi t́m hạnh phúc, lẽ sống, giữa những cơn lốc của lịch sử trong suốt hơn 30 năm trời.
Trong dung lượng và tầm vóc mang tính sử thi của cuốn sách, Biết đâu địa ngục thiên đường lại thiên về một cuốn tiểu thuyết tự truyện, ở đó các nhân vật chính đều có khuynh hướng tự ư thức để nhận diện và sửa đổi bản thân.
Dù họ là lớp thanh niên giàu lư tưởng, bước vào cuộc kháng chiến bằng tất cả niềm xác tín với trái tim nồng nàn, hăm hở như Thanh, như Kiên, hay ngập ngừng, do dự, hoài nghi như Tâm; dù họ là kỹ sư hay nhà giáo, nhà nông hay nhà buôn, là chủ hay là tớ, dù đứng ở bên này hay bên kia chiến tuyến trong cuộc cách mạng trời long đất lở... th́ sau nhiều chục năm họ vẫn nối kết lại trong t́nh làng nghĩa xóm, trong t́nh bằng hữu thủy chung, cùng chia ngọt sẻ bùi với tất cả sự cảm thông, rộng lượng và nhân hậu...
Ng̣i bút hiện thực của tác giả đă không né tránh khi kể lại những chuyện phi lư trái ngang và những biến cố đảo lộn hăi hùng..., nhưng ấn tượng sau cùng về tác phẩm vẫn là t́nh người ấm áp, sáng trong.
Chỉ tiếc, giá như tác giả phóng bút hơn, quyết liệt hơn trong việc khắc họa tính cách nhân vật và những xung đột mang tính bi kịch, tác phẩm sẽ có sức cuốn hút hơn nữa.
NGA VŨ
Xem các bài viết khác trong Vũ Văn An , Khoá 3 GHHV Đà Lạt Việt Nam.