(Hồi kư)

Tôi
không viết nhật kư, v́ thế để nói về
cuộc đời ḿnh, tôi phải nhớ lại từ
đầu. Đây là một dịp tốt để
nhớ lại cuộc đời cá nhân tôi, đặt ḿnh
trước mặt Chúa, đưa con người ḿnh ra
tŕnh diện trước Đấng là Chủ tôi.
Ước mong khi viết lại như thế, tôi thấy
lại chính ḿnh, thấy lại những hồng ân Chúa
đă ban để từ đó tôi tiếp tục dâng lên
Người tâm t́nh tri ân cảm tạ. Tôi cũng xin
những ai dám hy sinh thời gian đọc những ḍng
chữ này, cũng cùng tôi nhận ra Đấng luôn nâng
đỡ tôi, bảo vệ tôi và quan pḥng ǵn giữ tôi
suốt cả cuộc đời. Hăy hiệp ư với tôi
mà cám đội ơn Chúa.
Quả
thật, tôi không thể hiểu được tại sao
tôi vẫn c̣n sống đến hôm nay, nếu không có
sự can thiệp của Chúa, một sự can thiệp
trực tiếp và rất hiển nhiên. Nối kết
mọi biến cố quan trọng trong đời lại,
tôi c̣n xác tín hơn nữa sự hiện diện
đầy yêu thương của Chúa bên cạnh tôi. Không
thể nói là may rủi. Không thể nói là may mắn trùng
lặp. Tôi xin lặp lại cách mạnh mẽ: Không
thể có sự trùng hợp liên tục cả thời gian
dài sáu mươi năm cuộc đời. Chỉ có Chúa là
Đấng tốt lành, mọi sự tốt lành
đều đến từ Chúa. Bao điều tốt lành
tôi đă nhận và đă được hưởng, không
một tác giả nào khác có thể cho tôi được
như thế.
Tôi
xin bắt đầu kể:
Như bất cứ ai được diễm phúc sống lâu trên đời này, tôi cũng có một tuổi thơ. Thời thơ ấu của tôi rất đơn sơ, nhưng cũng nhiều điều để kể. Tôi sinh ra ngày 24-07-1948, theo giấy khai sinh cha tôi mới làm cho cả gia đ́nh măi sau này khi di cư vào Nam, lúc đó là chín người cả thảy. Trong Nam, cha mẹ c̣n cho tôi thêm hai đứa em nữa. Tôi khó hưởng được thành quả khoa học của khoa tử vi, v́ người ta thường nói “tuổi di cư”, tức là tuổi khai không mấy chính xác. Cha tôi nhớ đại khái rồi khai trước hai nhân chứng, thế là nhân viên sở hộ tịch đánh máy và phát lại cho mỗi người một “Bản sao y bản chánh thế v́ khai sinh”. Ngay mẹ tôi cũng nghi ngờ về độ chính xác của con số ngày tháng ấy khi nói tôi sinh trước đứa này đứa kia trong làng.
Thời
ấy, làm lại khai sinh hay sửa lại tên tuổi, ngày
tháng, năm sinh không khó lắm. Anh cả tôi cùng với
mấy anh cùng lứa tuổi đă rủ nhau nâng thêm
tuổi để được đi bỏ phiếu cho
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trong cuộc trưng
cầu dân ư nhằm lật dổ vua Bảo Đại.
Về sau bị gọi đi quân dịch trước
tuổi, họ mới thấy đă trót dại, nhưng
đă muộn. Măn quân dịch, anh tôi khiếp luôn nghề
làm lính! Năm 1960, năm cuối cùng bậc Tiểu
học của tôi, Nhà trường thông báo ai muốn làm
lại Giấy khai sinh th́ ghi tên. Đó là dịp một
số bạn học của tôi ở Trường
đổi tên hoặc đổi tuổi. Tôi giữ nguyên
tên tuổi của tôi, không thay đổi ǵ cả.
Quay trở lại
thời quá khứ trẻ hơn, thời c̣n ở Tỉnh
Nghệ An, Miền Bắc. Lúc bấy giờ tôi
khôn lớn như thế nào, tôi không biết rơ. Tôi chỉ
nhớ khi c̣n nhỏ, các chị tôi dẫn đến
thăm bà con họ hàng, ai hỏi ǵ, tôi chưa dám trả
lời. Các chị bảo tôi trả lời, tôi vẫn im
lặng. Có lẽ tuổi trẻ thời đó không hồn
nhiên bạo dạn như bây giờ. Cũng có thể tôi
nhút nhát hơn những em bé khác? Các chị đi dự
chầu lượt ở nhà thờ Giáo xứ Nghi Lộc
chúng tôi hoặc ở các Giáo xứ lân cận cách làng tôi
khoảng vài ba cây số như Phi Lộc, Đông Phú, Xuân
Phong, tôi vẫn được đi theo. Thỉnh
thoảng các chị mua bắp luộc cho tôi ăn. Bà con
tại các Giáo xứ tổ chức chầu lượt
thường cho chúng tôi thưởng thức các thổ
sản địa phương như mía, trái cây...
Tṛ
chơi của tôi cũng như bao dứa trẻ khác trong
làng khá đơn giản. Chúng tôi lấy ống đu
đủ, gắn tổ sâu hoặc lá chuối vào làm kèn
để thổi. Chúng tôi lấy bẹ cau khô làm ngựa
để phi bằng đôi chân của ḿnh. Chúng tôi ŕnh
bắt chuồn chuồn, lấy sợi chỉ cột
đuôi xách đi chơi hoặc cho nó bay trong tầm tay
của ḿnh. Lớn hơn một chút, chúng tôi chơi
đánh đáo (Đào một cái lỗ nhỏ,
đứng từ xa ném lọt tiền vào lỗ là
được ăn, những đồng tiền
chồng lên nhau, ném cho chúng văng ra khỏi nhau cũng
được ăn). Có khi chúng tôi chơi gụ (Con quay). Gụ
đứa nào đổ trước phải đi
trước cho những đứa khác chọi. Có
đứa chọi rất chính xác, có thể găm mũi
đinh làm bể đôi con gụ của bạn ḿnh.
Các
trẻ gái không chơi gụ, chúng thường chơi
thẻ với nhau. Tṛ chơi thẻ chỉ cần một
bó đũa, ném trái chanh lên và dùng tay vơ đũa ở
dưới, làm sao kịp bắt trái chanh khi nó rơi
xuống là được. Một tṛ chơi khác khá lư thú,
đó là chơi nổ: mỗi đứa một cục
đất sét, dạt nó ra thật mỏng và vén nó lại
như một cái nồi, ném xuống đất thế nào
cho nó nổ tung ra. Phải khéo tay ném sao cho vành nồi
rơi xuống đều, không khí bên trong bị dồn làm
nổ tung đít nồi càng lớn càng tốt, v́ những
đứa khác phải lấy đất sét của chúng
trám kín phần bị khuyết ấy cho ḿnh. Đứa
thắng là đứa thu hết dần số đất
sét của những đứa khác. Những tṛ chơi
bịt mắt bắt dê, chơi u hoặc chơi cúp
bắt cũng rất hấp dẫn chúng tôi.
Chúng
tôi cũng thích đá banh lắm. Nghĩ lại thấy
thật thê thảm! Banh chúng tôi đá với nhau chỉ là
một mớ lá chuối khô hoặc giẻ rách bó tṛn
lại. Đứa nào t́m được một cục cà
rếp (Cao su đế dép) độn vào
giữa, trái banh rơi xuống đất có thể
nẩy lên một vài gang, đó là trái banh lư tưởng. Những
anh lớn hơn biết cách dùng trái bưởi xanh,
nướng chín, lăn đi lăn lại cho thật
mềm. Đó cũng là một loại banh thuộc hàng quí
hiếm.
Bác
Đinh An và cha tôi, Đinh hùynh Lục, là hai anh em ruột.
D́ An (Tên thật là Vũ thị Lương) và
mẹ tôi, Vũ thị Huề, là hai chị em ruột. Hai
anh em ruột bên trai lấy hai chị em ruột bên gái. Hai
gia đ́nh anh em cả bên cha lẫn bên mẹ. Hai gia đ́nh
ở gần nhau, chỉ cách nhau một con đường
đất nhỏ. Tôi nhớ, lần kia, tôi sang nhà bác An
chơi. Phía sau nhà bác có cây đu đủ, dưới
gốc có đống gạch. Tôi leo lên đống
gạch, với tay giật một lá đu đủ khô,
tay cầm lá ấy rồi, tôi c̣n với giật thêm
một lá khác. Bất ngờ tôi rơi bịch xuống
đất. Không biết làm sao mà mông xuống trước
chứ không phải chân? Tôi bị bại luôn. Những
người khác phao tin rằng tôi đu lá đu đủ
nên té! Từ đó mỗi khi di chuyển, tôi cứ lết
bằng mông, đưa chân phải ra phía trước,
chống hai tay, đưa cả người rướn
tới. Cứ thế tôi di chuyển khá nhanh từ nhà trên
xuống nhà dưới. Tôi
chưa biết mặc cảm là ǵ. Dần dần, sau
một thời gian chạy chữa, tôi có khả năng
đứng lên, cha tôi phải sắm cho tôi một cái xe
đẩy bốn bánh bằng tre, tôi vịn vào chiếc xe
ấy tập đi quanh sân. Cuối cùng, tôi đi lại
b́nh thường. Nếu bị tật suốt đời,
không biết tôi sẽ ra thế nào!
Một
bệnh khác, tôi cũng xin thành thật khai báo. Không biết
có khoa học không hay chỉ là trùng hợp? Tôi đái vào
đống than lửa, khói bốc lên người. Sau
đó tôi bị sưng phù nguyên “bọc”. Nó sưng phù lên
như cái bong bóng. Cha tôi t́m đâu về một ông thầy
thuốc. Ông khám cho tôi. Ông tuyên bố tôi bị phù thũng.
Phù thũng mà lại khoanh vùng vào một chỗ duy nhất
nhỉ? Ngoài các thứ thuốc khác, tôi nhớ một chai
dấm tôi uống lâu dài, con dấm trong chai lớn dần.
Có con dấm ấy, khi uống gần hết, cha tôi
lại pha chế nước thêm đầy chai. Cuối
cùng tôi cũng khỏi bệnh. Cũng may, không v́ thế mà
tôi ghiền dấm chua.
Tôi
đi qua lại nhà bác tôi thường xuyên. Bên bác có anh
Đinh Tiên Đường và anh Đinh Tiến
Hướng cùng lứa tuổi với tôi. Chúng tôi hay
chơi chung với nhau. Sân nhà bác An láng xi-măng. Xi-măng lúc
ấy hiếm lắm, nghe nói bác mua từ Hà Nội hay
Hải Pḥng đưa về, không mấy nhà có. Nhà xây trong
làng hầu hết cũng chỉ dùng vôi đá làm hồ
thôi. Sau mỗi cơn mưa, sân xi-măng sao mà trơn
thế! Đang đi tự nhiên tôi trượt té ngửa
ra sau nghe tiếng “độp”. Sờ sau ót thấy u lên
một cục to. Tôi về nhà leo lên giường nằm.
Tối đến, cha tôi đi làm về thấy thế bèn
la cho tôi một trận. Tṛ chơi ấy tôi khó chừa quá!
Không biết bao nhiêu lần tôi bị u đầu như
thế mà vẫn không bỏ được. Biết đâu
nhờ thao luyện như thế mà sau này đầu tôi khá
chắc?
Bác
tôi trồng một vườn nho sau nhà. Những chùm nho
từ dàn tḥng xuống trông rất cám dỗ.
Chúng tôi chẳng bao giờ được ăn. Nho ấy
bác tôi thu hoạch xong, đem ép làm rượu rồi đưa lên cho cha xứ
làm rượu lễ (Cha Phêrô Bùi Nhật
Nghiệm). Chúng tôi chỉ được ăn xác nho c̣n
lại. Bă nho lạp xạp chẳng ngon lành ǵ.
Một
lần kia, tôi và anh Hướng bàn nhau ăn trộm
một chùm nho. Chúng tôi mang chùm nho chôm được lên trên
chuồng trâu nhà bác ngồi ăn. Chắc không ai biết
mất chùm nho. Hay có người biết mà làm ngơ cho.
Chẳng thấy ai hỏi han ǵ về chùm nho ấy cả.
Nhưng hai đứa chúng tôi luôn nơm nớp sợ
bị đánh. Nếu bị phát giác, có lẽ anh
Hướng sẽ bị phạt nặng hơn, v́ anh là
người nhà.
Tôi
đă biết tận dụng thời cơ tốt ấy.
Mỗi lần thấy anh Hướng cầm ăn củ
khoai hay trái bắp, tôi xin. Hễ anh Hướng từ
chối, tôi chỉ cần dọa: “Tao mách”. Thế là anh
phải cho tôi ngay. Măi về sau, thấy chuyện xảy ra
lâu rồi, anh Hướng không c̣n sợ nữa, tôi dọa
mách, anh trả lời hiên ngang: “Cho mày mách”. Tôi hết
đường làm ăn!
Nói
vậy, chứ thuở ấy tôi c̣n dại lắm! Bác
tôi hoạt động trong tổ chức Liên đoàn Công
giáo. Khi Cộng sản nắm quyền, bác tôi bị bắt
đưa đi tù cùng nhiều ông khác thuộc hàng trí thức
trong làng. Bác tôi chết trong tù. Nghe nói bác bị tiêu chảy
ra máu mà không được một viên thuốc nào nên
chết! Nghe tin buồn, cha tôi nước mắt rưng
rưng. D́ An ngồi bên bếp khóc hùi hùi nhiều ngày
liền. Tôi chẳng hiểu chuyện ǵ, chỉ bắt
chước tiếng khóc của d́ tôi để trêu
chọc anh Hướng (Nay anh là linh
mục
Gioan Đinh Tiến Hướng).
Ngày
nay, khi thấy ai có hồ cá cạnh nhà, tôi cảm thấy
lo cho những đứa bé nhà đó và các nhà lân cận.
Trẻ em thích nghịch nước. Quả đă có
những em nhỏ chết đuối trong hồ
nước nhà ḿnh. Bản thân tôi hồi nhỏ đă
gặp mối nguy hiểm ấy nhiều lần.
Số
là chung quanh nhà tôi có nhiều ao, hào, rộc. Rộc mùng (v́
trên đó có trồng cây mùng), hào rau muống, ao cá. Gia đ́nh bác An
và gia đ́nh chúng tôi có chung một cái ao lớn, do ông bà
nội để lại. Đó là ao tắm của đông
đảo trẻ em cũng như người lớn trong
làng. Trâu và người cùng tắm chung một ao. Quanh ao có
bờ đê. Trên bờ đê có hàng tre đan kín không chui qua
được. Chỉ có một lối nhỏ đi ra
cánh đồng lúa phía bên kia gọi là Rộc Nghè
(Có lẽ xưa kia đó là đất của một
ông nghè nào đó?).
Tṛ
câu cá cũng là sở thích của tôi khi chưa đến
tuổi khôn. Không có lưỡi câu, tôi lấy một chút
lưới tủ bếp, bẻ cong lại, cột
đầu sợi chỉ, thế là có thể câu
được. Có khi tôi cột sợi chỉ thẳng vào
chút mồi trùn, tôi cũng câu được cá lia thia, cá
bọt nước, cá cấn, cá mại, những loại
cá to bằng một hai ngón tay trở xuống. Tôi ngồi
trên mé bờ ao thả câu, khi th́ có thêm hai ba đứa cùng tuổi, khi
th́ tôi chỉ ngồi câu một ḿnh. Hơi cúi xuống quá
trớn, ngồi không cẩn thận, chuồi xuống theo
đất trơn, hoặc với lấy cần câu khi
lỡ tay để rơi xuống nước, đó là
những lúc tôi dễ bị mất thăng bằng và
lọt tủm xuống ao.
Cha
mẹ tôi có riêng một cái hào sát sau nhà, hào rau muống.
Nước khá sâu. Muốn hái rau muống, chúng tôi phải
vừa bơi vừa hái. Cây rau cắm rễ dưới
bùn, vươn dài lên trên mặt nước, lớp rễ
ngang mặt nước đan kết lại thành những
mảng dầy đặc. Một chiếc cầu gỗ
nối từ bờ ra xa được khoảng hai
hoặc ba mét. Đó là nơi rửa chân hay rửa rau.
Cầu nằm sát mặt nước nên mặt cầu
bị bám rêu, rất dễ bị trơn trượt. Tôi
cũng hay bước xuống rửa ráy hoặc
đứng câu cá trên chiếc cầu này.
Chúng
tôi c̣n có rộc mùng. Rộc này nhỏ nhưng dài.
Nước cạn. Mẹ tôi thường xuyên bẻ mùng,
hái rau muống đem ra chợ bán. Mùa lụt, nước
dâng cao, cây rau muống vươn theo nước, ngọn
rau dài cả thước vẫn non mơn mởn.
Bờ
ao, bờ hào và chiếc cầu gỗ trơn, đó là ba
nơi nguy hiểm cho tính mạng của tôi nhiều
nhất. Nhiều lần tôi rơi xuống ao xuống
hồ lúc không có ai ở đó. Bấy giờ từ
dưới nước tôi mở mắt nh́n lên, thấy
nước và ánh sáng loáng thoáng phía trên đầu mà không sao
nhô đầu lên khỏi mặt nước
được. Tôi tiếp tục uống nước!
Bỗng nhiên có người nhảy xuống vớt tôi lên.
Lạ thật! Tôi ra ao chơi một ḿnh, rơi xuống
nước chết đuối không ai biết. Thế mà
bao giờ cũng có người cứu. Người đó
có thể là anh Trương, anh cả tôi, có thể là
chị Mai tôi, có khi đó là chị Đồng, chị con
bác An...
Ao
chung hai gia đ́nh chúng tôi có nhiều cá: cá mè, cá gáy, cá lóc, cá
rô v.v...Thỉnh thoảng tôi thấy tát ao. Hồi đó tát
cạn một cái ao lớn như thế quả là một
công tŕnh. Tát bằng gầu, mỗi góc ao một đôi
gầu, mỗi gầu hai người cầm dây hai bên và
tát hết ngày này sang ngày khác. Ai mệt ra nghỉ,
người khác vào thay. Theo thời gian, tôi làm quen với
nước. Chính cái ao này đă giúp tôi có nơi để
tập bơi. Tôi biết bơi là do tự tập
luyện. Trong khi những trẻ lớn hơn bơi
được ra tắm xa bờ, tôi chịu khó tắm sát
bờ ao. Ở đó có một tảng đá to. Nghe nói ông
cố nội tôi là người rất khỏe, ông vác hai
vai hai khối đá từ đâu về đặt ở
đó. Có lẽ chỉ là một truyền thuyết thôi? Tôi
không tin sức người có thể làm được
chuyện đó, ngoại trừ Hercule
trong thần thọai Hy Lạp. Khối đá ấy
chúng tôi thường lên ngồi chơi. Người
lớn ngồi trên đó
giặt giũ. Những đứa bơi giỏi
đứng trên đó phóng ḿnh xuống nước. Tôi bám
hai tay vào tảng đá, hai chân đập lên đập
xuống. Lúc đầu người tôi cứ ch́m. Dần
dần người tôi nổi lên được. Về sau,
chúng tôi thả xuống ao một cây chuối, những
đứa không biết bơi cứ ôm cây chuối ấy
mà bơi ra bơi vào. Chẳng bao lâu, tôi đă tự bơi
ṿng quanh ao được. Biết bơi rồi, tôi
tập lặn. Lặn ngắn rồi lặn dài hơn.
Lặn cạn rồi lặn sâu. Tôi trở thành một tay
bơi lội khá giỏi ngay từ nhỏ.
Khi
đánh cá trong ao, tôi thấy người lớn dùng
đủ phương tiện để đánh: nhiều
người dùng nơm, người khác dùng nhủi bắt
cá nổi, một vài người dùng vó. Mỗi dịp
đánh cá trong ao, thanh niên trong làng đổ xô tới,
mỗi người một cái nơm. Số cá nơm
được sẽ chia đôi, một phần cho bên
chủ ao, phần c̣n lại người nơm
được mang về. Ai mua, họ có thể cân bán
tại chỗ.
Phải
người thật khỏe mới kéo nổi vó giữa ao
lên, vai tṛ này thường được giao cho cậu
Mạo, con nuôi của ông bà ngoại tôi. Tấm lưới
vó khá lớn. Tôi căn khoảng cách chiếc lưới và
biết tôi có thể lặn qua được. Chờ khi
vó bắt đầu được thả xuống, tôi
lặn từ bên này qua bên kia chiếc vó. Nhiều lần
tôi đă lặn qua được trước khi
lưới chạm đáy ao. Lần kia, không hiểu
tại sao tôi lặn chưa qua kịp, lưới vó đă
đè lên người tôi. Tôi vùng vẫy. Nếu lưới
đè lên cá, cậu Mạo biết ngay, cậu lặn
xuống, bắt con cá ấy và dùng tay lần dần
con cá ra ngoài lưới và đưa lên. Khi tôi mắc
lưới, chắc chắn cậu không cần do dự.
Thời gian để cậu Mạo nhấc cao vó lên
cũng mất ít phút, tôi bị sặc nước. Tất
nhiên khi nổi lên được, tôi đă khóc, những
người lớn th́ được dịp cười vui
vẻ.
Lúc
tát ao, tôi thấy một cái cống được đào
xuyên bờ đê ao dẫn nước ra phía ngoài. Từ
phía ngoài ấy, hai người dùng gầu tát nước
lên đồng ruộng. Cống vừa lọt một
người chui qua. Một lần kia, lúc ao đang
đầy nước, tôi từ phía ngoài đồng
ruộng muốn vào phía trong. Để khỏi phải
đi ṿng xa mà vào theo cửa trổ qua bờ tre, tôi chui theo
cống này mà vào. Tôi căn khoảng cách của bờ
đê, biết sức ḿnh có thể lặn qua
được. Trước hết, hố phía ngoài cũng
ngập đầy nước, tôi phải lặn
xuống. Tay lần ra miệng cống, tôi chui vào. Khi
lặn gần qua bờ đê, tôi hết hồn. Cống
đă bị đắp kín phía trong! Tôi nhanh trí quay
ngược lại thật gấp. Cũng may, đất
hai bên khá mềm, tôi đảo người lại
được. Lần ấy, tôi đă lặn lâu và xa
gấp đôi sức ḿnh. Khi
trở về điểm xuất phát, tôi kiệt hơi
nhưng cũng mừng thầm v́ suưt chết ngộp.
Giả như, điều này chắc chắn đă không
hề xảy ra, nếu tôi chết ngộp trong cống,
không ai biết tôi ở đâu để t́m xác! May ra,
lần tát ao sau đó, ít là một vài năm sau, khi thông
lại miệng cống, tát cạn nước mới
biết mớ xương ấy của ai. Hoặc nếu
đó là cống xi-măng, tôi không cách nào quay đảo
người lại được, cũng không thể
lặn lùi được, số phận tôi kể như
đă được an bài!
Gia
đ́nh cha mẹ tôi có nhiều đất ruộng nên
phải nuôi trâu cày. Một số đất là của riêng,
một số đất ông ngoại tôi cho canh tác. Ông
ngoại tôi thương mẹ tôi v́ mẹ tôi là con út.
Mẹ tôi cho biết ông bà làm ăn cần cù, con cái lao
động vất vả. Của làm ra không dám tiêu xài hoang
phí. Ông tôi lo lắng cho tương lai con cháu. Nghe nói ở
đâu bán đất, dù giá cao đến ấy, ông cũng
t́m mua cho được. Đất đai chia cho con cái làm,
nhưng ông đứng tên giấy tờ sở hữu.
Không ngờ thời thế xoay vần, căn cứ trên
giấy tờ, ông bà ngoại tôi bị xếp hàng
địa chủ. Đất đai mất hết.
Chủ nhân đi tù.
Ông
ngoại tôi tên Vũ Văn Dương. Dân chúng
thường gọi là ông Trùm Dương. Chúng tôi chỉ gọi
ông bà ngọai là ông Trùm, bà Trùm. Ông rất nghiêm, ít là
theo tôi suy đoán thế. Tóc ông bạc, vấn một búi
ở phía sau theo kiểu các cụ xưa, gọi là vấn
tóc cu. Đi đâu, ông tôi luôn mang theo cây dù. Mỗi lần
sang thăm chúng tôi, ông ở lại ăn cơm trưa,
mẹ tôi đều tráng cho riêng ông một dĩa trứng
gà. Ông ít chơi đùa với cháu chắt. Tôi thấy ông
thường ngồi trên giường, phủ mùng
xuống, ông ngồi trong mùng lần hạt. Chúng tôi cũng
chẳng dám quấy rầy ông. Các ông cậu, các bà d́ tôi dù
đă có con có cháu vẫn kính sợ ông đúng phép. Không ai dám
trái lệnh.
Một
lần kia tôi sang nhà ông chơi, nhà ông ở Xóm Đông, cách
nhà cha mẹ tôi một cánh đồng lúa không xa lắm.
Chúng ôi ở Xóm Nam. Thấy trong vườn ông có cây đào
lông sai trái, tôi thèm ăn. Tôi đánh bạo vào pḥng ông xin
một trái. Ông la: “Để chín mà ăn chứ đào xanh
mà ăn uống ǵ?”. Nói thế nhưng khi thấy tôi quay
đi, ông tiếp ngay: “Ra hái một trái”. Tôi ra cây đào,
đi ṿng quanh t́m chọn một trái ưng ư. Mấy gia
đ́nh cậu mợ tôi sống trong cùng khu vực (Sống theo
kiểu xă hội, nhà kế tiếp nhau), ai nấy ngạc
nhiên thấy tôi dám t́m hái đào như thế trong khi chính
bản thân họ sống tại chỗ không ai dám hái trái
nào. Nghe ai đó nói một tiếng “Nó xin ông, ông cho”, không ai
c̣n thắc mắc.
Khi
ông ở tù v́ là địa chủ, mỗi lần
được báo tin chuyển nhà tù, các cậu tôi sai con cái
mang vơng đi cáng ông. Tất cả tiền của chôn
giấu đều bị đào bới mang đi hết.
Nghe nói bà tôi bị tra tấn đến cùng thế nào
đó, bà phát hoảng nên khai tùm lum. Các cán bộ cứ theo
lời bà khai, bắt con cháu ở nhà đào bới khắp
nơi! Khi không c̣n t́m thấy ǵ nữa, những cuộc
đào bới mới chấm dứt. Của hết,
đất hết, người bị đuổi ra
khỏi nhà. Vất vả một đời cuối cùng
trở về tay không, lại c̣n mang vạ! Thời cải
cách, xét thấy ông bà tôi giàu nhờ lao động chứ
không bóc lột ai, ông bà tôi được phục hồi
danh dự, được trả lại vài gian nhà
để ở. Chỉ thế thôi! Ôi thế gian giả
trá!
Tôi
xin trở lại chuyện con trâu. Tôi hầu như làm
chủ con trâu này. Ngày ngày tôi đi chăn trâu hoặc
dắt trâu đến khu đất cha tôi chỉ
định để cày ngày hôm đó. Những ngày Chúa
nhật và lễ nghỉ, các anh chị tôi đi chăn
thay, tôi được nghỉ. Tôi thường ngồi
trên lưng trâu khi trâu ăn. Có khi tôi nằm ngủ trên
lưng trâu. Nhiều khi tôi ngồi trên cổ trâu, hai tay
nắm hai sừng trâu. Trâu cứ thế gặm cỏ. Khi
mỏi cổ, nó ngẩng đầu lên, tôi hiểu ư, tôi
chuồi sang ngồn trên lưng nó. Chẳng bao giờ tôi
đội mũ nón, dù trời nắng chang chang. Da tôi
đen thui thủi v́ thế. Chiều về, hai bắp
đùi tôi được bọc một lớp mồ hôi
trâu đen nhánh, lúc đó tôi chỉ mới biết mặc
áo thôi.
Tôi chứng
kiến sự thay đổi từng giai đoạn
của con trâu. Thời nó c̣n là con nghé nhỏ mới mua
về, tôi không hề hay biết. Nghe nói khi mới mua
về, con nghé này ăn cạnh một cái hố ao. Con trâu
ông Ngận hất nó lọt xuống hố. Ông Ngận
cũng là một địa chủ trong làng. Nhiều
người phải dùng
đ̣n gỗ bắn kích chú nghé tội nghiệp lên khỏi
hố. Từ đó, con nghé chúng tôi bị tật ở
đầu gối hai chân sau. Tật này không ảnh
hưởng ǵ đến sức khỏe của nó,
nhưng bớt chút thẩm mỹ. Khi bước đi, hai
đầu gối va nhẹ vào nhau phát ra tiếng “xẹt,
xẹt” nho nhỏ, da không hề bị trầy.
Con
trâu đực này không thiến. Đến tuổi
trưởng thành, nó bộc lộ dần nam tính của nó.
Thời gian dậy th́, nó là đối tượng đáng
ghét của đàn trâu trong làng. Gặp nó ở đâu,
những con trâu khác nhào vô tấn công. Chiều nào ra về,
hai bên cổ nó cũng đầy những vết
thương nứt xé, các vết cũ chưa kịp
đóng vảy, những vết mới đă xuất
hiện. Người nó ngứa ngáy. Trên đường
về, nó thường đi ép sát các bụi tre bên
đường cho đă ngứa. Nếu tôi không để
ư rút chân về một bên hoặc kéo trâu ra giữa
đường mà đi, chân tôi cũng bị gai tre cào
sướt! Thịt tôi lành. Thịt trâu cũng lành. Các
vết thương không cần xức thuốc cũng
tự lành. Nếu muốn, khi chân tay tôi bị
thương, tôi chỉ cần rắc lên đó một chút
đất bột, vết thương khô lại, đông
vảy và lành dần. Cha tôi dạy, khi bị trâu giậm (Đạp chân lên),
cứ đá vào chân nó. Tôi làm thế, chân tôi cũng từ
từ hết
sưng.
Khi
con trâu thật sự trưởng thành, gọi là lên
mờm, cổ nó to tṛn như cái vại, sức mạnh nó
đạt đỉnh cao. Bấy giờ, không con trâu nào
trong làng địch lại nó. Nó tấn công, cả bầy
đều bỏ chạy. Đây là thời gian tôi gặp
nạn nhiều nhất, đặc biệt khi nó gặp
con trâu ông Ngận. Nó có trí nhớ lạ lùng. Nó luôn nhớ
mối thù xưa lúc nó c̣n nhỏ. Hễ thấy trâu ông
Ngận từ xa, nó nghênh một cái, hoặc “ẹ” một
tiếng là tôi biết có chuyện. Tôi chưa kịp
nhảy xuống, nó đă vọt đuổi rồi. Dĩ
nhiên, tôi rơi “bịch” xuống và nằm dài trên
đường đất. Tôi vùng dậy ngay đuổi
theo trâu để bắt nó lại. Nhiều khi phải
chạy sang làng khác mới bắt được. Có khi tôi
gh́ dây mũi, nó tỏ ra ngoan ngoăn như bỏ qua. Nhưng
th́nh ĺnh, lúc tôi không ngờ, nó phóng đi, tôi té xuống
đất! Té trâu thường xuyên, có lẽ thân tôi nhẹ
nhàng co giăn được nên không bao giờ găy tay găy chân
cả.
Một
lần kia, sau ngày cày vất vả, trên đường
về, cha tôi và tôi ghé xuống ao làng rửa tay chân và cho trâu
uống nước. Không biết sao, đúng lúc ấy, trâu
ông Ngận cũng tới đứng trên bờ ao. Trâu chúng
tôi ngưng uống nước, vội vàng lên bờ
tấn công trâu ông Ngận, tôi
gh́ dây lại, cha tôi cùng nhảy vào phụ tôi. Chúng tôi gh́
chặt dây, đầu nó chúi sát đất và cứ kéo
tới. Một lát sau, dây mây tuột lọt qua lỗ
mũi nó, hai cha con chúng tôi té nhào với cái dây (Quê tôi gọi là
chạc mũi). Chúng tôi đuổi theo, chúng tôi gặp
lại cả hai con trâu trong một đám lúa ở làng khác,
làng Tú Mỹ, giáp ranh làng Nghi Lộc chúng tôi. Mỗi con
một góc, chúng không nh́n thấy nhau v́ lúa tốt.
Trâu
khỏe húc nhau khỏe nhưng làm cũng khỏe. Nếu
nhờ lao động mà thành người th́ tôi bảo
đảm con trâu chúng tôi đáng được thành
người và đă thành người từ lâu. Không
hiểu con cháu nó nay ở đâu và bao đời nữa
sẽ hóa người? Mùa nắng, ruộng lúa đất
nứt nẻ dọc ngang. Trâu kéo, lưỡi cày xẻ
đất đi vèo vèo. Những luống cày lật sang
một bên từng mảng đất to. Khi đất khô,
phải dùng vồ đập đất nhỏ ra mới
trồng tỉa được mùa khác (Vồ là súc
gỗ đặc tra cán vào giữa). Đương nhiên,
khi đang cày mà thấy có con trâu nào khác đi ngang qua đó,
nhất là con trâu ông Ngận, cha tôi phải vội vàng tháo
cày ra ngay. Nếu không, trâu chúng tôi tha cả cày đuổi
theo th́ rất nguy hiểm, nguy hiểm cho người
đi đường, cho chính nó hoặc cho cái cày!
Thỉnh
thoảng nó mang cả cày đến chỗ vũng
nước hay vũng bùn mà lăn. Xảy ra như thế,
cha tôi dùng roi đánh nó và bắt nó quay trở lại làm
việc. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy như
thế là oan cho nó. Da trâu được cấu tạo khác
da ḅ. Ḅ kéo cày giữa nắng suốt ngày không sao. Da trâu
chịu nắng dở, da trâu mau bị khô và lưng nó nóng
bỏng. Lâu lâu nó phải chạy vào bóng mát nghỉ một
lát cho hạ nhiệt hoặc t́m ngâm nước ngâm bùn.
Lớp bùn ướt có thể bảo vệ da nó một
thời gian. Gặp trời mưa hoặc trời râm mát,
kéo cày, kéo bừa suốt ngày đối với nó không thành
vấn đề.
Trước
khi di cư vào Nam, tôi dắt trâu đi trước, cha tôi
đi theo sau. Chúng tôi đưa trâu đi bán ở một
cái chợ khá xa. Đến nơi, tôi thấy có nhiều
đàn trâu ḅ tập trung về đó. Có lẽ đó là
chợ bán gia súc? Tôi thấy cha tôi và người mua mà
cả nhau giá con trâu. Mỗi khi bên này bên kia ra một giá, hai
người đập tay nhau một cái “bốp”. Khi giá
đă thỏa thuận xong, cha tôi nhận tiền. Tôi trao
chạc mũi vào tay chủ mới, tôi thấy trâu chúng tôi
chảy nước mắt! Con trâu cũng khóc? Nó biết nó
đổi chủ? Chủ mới dắt nó đi
được một quăng đường, tôi quay lại nh́n
theo, tôi thấy nó cũng ngoan ngoăn từ từ bước
theo sau chủ mới.
Sự
thay đổi chế độ ở Việt Nam không
thuận lợi cho người Công giáo. Các cha xứ
lần lượt bị đấu tố và đi tù. Các
trí thức trong Giáo xứ cũng không tránh khỏi tù
ngục. Những cảnh đấu tố hăi hùng xảy
ra khắp nơi. Có đêm, một đ̣an người
đạp xe từ đâu kéo
về tổ chức đêm đấu tố tại làng
tôi, họ vừa chạy vừa
hô to: “Tố khổ, nói khổ, anh em nông dân vùng lên!”
Những người khác đáp: “Vùng lên!
Vùng lên!”.
Hai tay họ vung nắm đấm lên cao. Khi chưa
biết ǵ, tôi cũng được theo các chị đi
biểu t́nh. Hễ nghe xướng “Hoan hô...” th́ mọi
người “Hoan hô” theo. Hễ nghe
xướng “Đả đảo...” th́ ai nấy
đả đảo. Lần kia, tôi nghe xướng “Ba-răng-cóc muôn năm”. Chẳng
biết đó là ông nào, có lẽ là một lănh tụ Liên Xô
nào đó. Khi về nhà, mẹ tôi hỏi: “Đi biểu t́nh
có thấy ǵ không?”. Tôi kể lại: “Họ nói
Ba-răng-cóc muôn năm”. Cha tôi bảo tôi nói bậy, coi
chừng chết bây giờ! Nhưng mẹ tôi bênh: “Th́ nó
nghe như rứa mà!”. May mà không ai hay biết cái nói bậy
của tôi. Một chú bé trong làng chưa có trí khôn, lớn
hơn tôi vài tuổi, dại dột bôi phân trâu lên ảnh
cụ Hồ được dán bên đường, chú bé cũng
bị nhốt mấy ngày đấy!
Một
dịp chầu lượt kia của Giáo xứ tôi, vào lúc
xế chiều, giáo dân các Giáo xứ khác trong Giáo hạt
Đông Tháp, Giáo phận Vinh, ùn ùn gánh gồng đi qua Giáo
xứ tôi. Họ đi Nam. Họ phao tin đồn: “Có tàu
quốc tế về đưa người vào Nam”. Dân làng
chúng tôi cũng vội vàng ra đi, ai vơ được
cái ǵ th́ vơ. Người lớn kẻ bé nhao nhao lên
khắp làng. Mẹ và các chị tôi gồng gánh đi theo
đám người này. Cha tôi ra chặn đường:
“Cha xứ c̣n ở nhà đó, đi làm ǵ? Đi phải có
quốc tế về đem đi rơ ràng, chứ đi
như thế này th́ đi làm ǵ?”. Mẹ tôi cưỡng
lại: “Người ta đi hết rồi đó tề!”.
Tất cả mẹ con chúng tôi ra đi theo dân chúng. Cha và anh
cả tôi ở lại.
Đi
qua các làng lương dân, trời tối, người ta ra
đường ngăn cản hoặc bắt trẻ con
giữ lại. Thanh niên và các ông trong đoàn phải
từng tốp mang gậy gộc đi đi lại
lại dọc theo đoàn để bảo vệ. Chúng tôi
vào tập trung ở Trường Tập, thuộc Giáo
xứ biển Xuân Phong. Mấy dăy nhà Trường Tập
người chật ních. Ban đêm dân chúng trải chiếu
trên cát mà ngủ. Mấy ngày ở đó tôi và nhiều
người khác bị tiêu chảy, bước qua
người này người khác mà chạy. Thật là cơ
khổ vô cùng! Ngày kia, đi theo các chị ra
đường, tôi chứng kiến cảnh một
tốp bộ đội kéo một ông già. Bốn anh bốn
góc cầm
hai tay hai chân ông cụ mà kéo đi xềnh xệch. Mấy anh
khác chạy theo sau. Có lúc lưng ông cụ sa xuống
chạm đất, họ cứ thế mà kéo. Chắc
chắn lưng cụ phải trầy da nhiều lắm!
Về sau tôi kể lại điều ḿnh thấy,
người lớn cho tôi biết đó là một ông
địa chủ. Tôi cũng nghe nói: sau đó ít lâu ông
chết!
Sau
những ngày cực khổ, chẳng thấy Ủy hội
quốc tế đâu, chẳng thấy con tàu nào đến
chở, đoàn người lại lục tục quay
trở về. Cha tôi ở lại làng đă bị bắt
đi tù. Anh cả tôi ở nhà bắt gà d́ An ăn thịt,
gia đ́nh d́ An cũng đi hết trong đoàn
người ấy. Lúc d́ trở về, mẹ tôi phải
đền cho d́ mấy con gà. Cha tôi thuộc loại có
ăn học trong làng, biết đọc biết viết
chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, có nhiều suy nghĩ
đúng. Thời ấy chính quyền phát động phong
trào B́nh dân học vụ, cha tôi cũng dạy một
lớp. Học sinh toàn các ông các bà lớn tuổi.
Người ta chăng một câu biểu ngữ ngang
đường, các bà đi chợ phải đọc
được câu đó mới được cho đi
qua. Cha tôi bị nhốt ở nhà tù Đô Lương,
chắc không xa lắm, bởi v́ các anh chị tôi đi
bộ mang cơm thăm nuôi thường xuyên
được. Nay hỏi lại, tôi được
biết Đô Lương cách làng tôi trên dứơi ba
chục cây số. Khi cha tôi bị chuyển đi xa, gia
đ́nh không phải mang cơm tiếp tế nữa.
Vùng
Nghệ An chúng tôi bị kiểm soát nghiêm nhặt. Cả
làng ai cũng muốn di cư vào Nam, thế nhưng chính
quyền chỉ cho đi nhỏ giọt, ưu tiên những
thành phần cương quyết nhất. Nhà chúng tôi luôn
bị theo dơi. Ngày ngày cán bộ từ đâu đến
“mạn đàm”. Nội dung mạn đàm chung quy cũng
chỉ là: “Đi Nam làm ǵ? Đừng đi Nam. Trong Nam
đói khổ! Trong Nam, người ta ăn thịt con nít!
Ở nhà làm ăn...” Tôi chưa biết ǵ, nhưng tôi nghe
mẹ tôi lúc nào cũng nhất quyết đ̣i đi Nam.
Mẹ tôi nói với cán bộ tuyên truyền: “Khổ
cũng đi, chết cũng đi!”.
Gia
đ́nh tôi bị liệt hàng “Phú nông”. Chúng tôi ăn uống
đầy đủ. Có khi, không hiểu trước hay
trong thời Cộng sản đă chính thức cầm
quyền, tôi thấy đông đảo các bà trong làng mang
gánh đến nhà chúng tôi đong lúa. Tôi không biết là
họ vay hay mua. Có nhiều đêm liền, có lẽ do
thỏa thuận trước, nhiều người lạ
mang gánh đi từ phía cửa bờ đê ao đến
nhà chúng tôi mua tiền đồng. Ngoài cửa ao là cánh
đồng lúa, đi theo con đường đó, họ
không phải gặp bất cứ ai, v́ nhà chúng tôi là nhà
đầu tiên. Chó sủa inh ỏi nhưng không thấy ai
phát giác. Mẹ tôi cân và bán tiền đồng cho tốp
người ấy gánh về, cũng theo cửa bờ
đê ao cá.
Chúng
tôi có thể ăn cơm trắng. Tuy nhiên, do bị ŕnh
rập, cơm chúng tôi cũng phải nấu độn
bắp, độn cà pháo, độn khoai lang hoặc
bầu bí.
Thỉnh
thoảng tôi thấy mẹ tôi phải giấu cơm
trắng dưới “mươn” khi có người lạ
xuất hiện (Mươn là một thứ bàn ăn do
những thanh tre ghép lại sát nhau). Có lẽ
thời ấy không ai được quyền ăn cơm
trắng?
Không
thuyết phục nổi mẹ tôi, chính quyền đành cho
gia đ́nh chúng tôi đi Nam. Có lẽ cũng có sự giúp
lời của ông Chức, người tại địa
phương nhưng làm việc cho họ? Mẹ tôi hứa
cho ông ta một gian nhà. Các gian c̣n lại nhờ ông trông coi.
Hào rau muống, rộc mùng, mẹ tôi để lại cho ông thu hoạch... Chúng tôi đi
có lợi cho ông Chức thợ rèn này, đương nhiên
ông ủng hộ cho chúng tôi ra đi. Mẹ tôi đ̣i cán
bộ (Ông Truy) cho cha tôi về để cùng
đi chung. Ông hứa cứ ra đi rồi cha tôi sẽ
được trả lại sau.
Chúng
tôi được lệnh ra đi ban đêm, không
được cho ai biết. Dĩ nhiên số gia đ́nh ra
đi Nam ấy không tránh được sự tỉnh táo
của đàn chó trong làng. Tiếng chó sủa vang. Dân làng
thức dậy. Những người được đi
vui mừng, những người không được đi
khóc ṛng! Chúng tôi đi bộ khá xa. Các ông vác, các bà gánh hành
trang. Các em nhỏ được người lớn
bồng bế hoặc được đặt ngồi
trong thúng cho người lớn gánh đi. Đến
nơi tập trung, mấy chiếc xe chạy bằng than
đă chờ sẵn. Chúng tôi lên xe, chen chúc nhau lúc nhúc trong
những chiếc xe bịt kín mít. Tôi lọt ở giữa
đám đông chẳng nh́n thấy ǵ, chỉ thấy xe lúc
lắc khi chạy và có cảm giác như xe chạy thụt
lùi vậy. Đó là lần đầu tiên chúng tôi
được đi xe ô-tô. Ở làng tôi, có những lúc mấy
anh chị lớn hơn rủ nhau đi...Tôi nghe họ nói
đi coi ô-tô. Chắc họ phải đi đâu xa lắm
mới thấy được chiếc ô-tô khi hay tin có ô-tô
chạy qua. Thỉnh thỏang tài xế cho xe
dừng lại, họ dùng cây sắt xọc đảo
thùng than đỏ rực.
Vào
tới Vinh, cách làng chúng tôi khoảng 40 cây số, chúng tôi
được phân tán ra ở trong các nhà dân địa
phương. Gia đ́nh tôi ở trong một gia đ́nh
lương dân khá tốt. Thỉnh thoảng họ cũng
cho chúng tôi một ít khoai lang để luộc. Ban ngày, chúng
tôi ngồi chơi loanh quanh lẩn quẩn. Tối
đến, mọi người tập trung lại học
tập. Nội dung vẫn là vận động ở
lại làm ăn, đừng đi Nam. Có cả một
số người miền Nam tập kết ra cũng
được giới thiệu lên tiếng. Họ cũng
kể bao nhiêu cái khổ ở trong Nam. Nghe nói cũng có
một hai gia đ́nh quay về? Thật sự họ về
hay họ chỉ là c̣ mồi để nhử những
người khác? Khó biết được! Một đêm
kia, cha tôi được tha tù và được cán bộ
dẫn tới. Chắc mẹ chúng tôi biết. Lũ
nhỏ chúng tôi ngủ say chẳng biết ǵ. Chúng tôi
chỉ gặp thấy cha khi chúng tôi thức dậy vào ban
sáng. Như thế gia đ́nh chúng tôi họp mặt
đầy đủ. Nhiều gia đ́nh khác ít may mắn
hơn, khi chồng ra tù th́ vợ con đă đi Nam.
Cảnh chồng Bắc vợ Nam suốt nhiều chục
năm trường đau khổ thương nhớ!
Một
thời gian sau, chúng tôi lại
nghe thông báo đóng tiền. Cán bộ cho biết
định mức mỗi người phải đóng. Ai
đóng đủ mới được đi. Ai không
đóng đủ sẽ phải ở lại. Những gia
đ́nh hăng hái đóng tiền được xe chở
đi. Những gia đ́nh khác tiếp tục ở lại.
Gia đ́nh chúng tôi thuộc số không đóng nên ở
lại... Cuối cùng, mọi gia đ́nh c̣n lại cũng đều
được đưa ra Cửa Hội, bến cảng
ở Vinh. Ông cán bộ Truy xuống thuyền tiễn chân
đoàn chúng tôi ra khơi. Khi chúng tôi bước lên tàu
lớn, ông mới chào và quay trở vào bờ. Th́ ra,
những gia đ́nh đóng tiền đi trước và
những gia đ́nh không đóng tiền đi sau cũng
đều gặp lại nhau trên cùng một chuyến tàu.
Chúng
tôi đi chuyến tàu 19, tàu của Tây (Pháp). Mấy
ông Tây mắt xanh lè như mắt mèo. Nhiều người
trong chúng tôi lần đầu tiên thấy loại
người mắt xanh như thế. Vài ông tỏ ra thân
thiện đến gần các em bé. Chúng sợ khóc thét lên.
Đi tàu Tây là một may mắn: cơm nước
đầy đủ. Sáng chúng tôi được phát
sữa, bánh ḿ. Trưa và tối, chúng tôi có cơm, thịt
heo và cam tráng miệng. Những gia đ́nh đi tàu Ba Lan
phải bỏ tiền ra mua cơm. Họ kể cho chúng tôi
biết, họ đi trên tàu Ba Lan phải chịu đói và
thiếu thốn mọi thứ!
Tàu há
mồm ra khơi chở chúng tôi và đổ chúng tôi
xuống Touran (Đà Nẵng). Chúng tôi rủ nhau theo
mấy anh chị lớn chạy nghịch trên băi cát,
lượm mấy ống lon, máy đánh chữ hư
về gơ “lách cách” chơi. Nhưng chỉ mấy giờ
sau, có lệnh đi tiếp. Chúng tôi lại lên tàu đi
về Sài G̣n. Khi gần tới nơi, chúng tôi thích thú nh́n
những chiếc máy bay bà già lượn ṿng và nhào lộn
trên bầu trời như chào đón chúng tôi. Đoàn
người rời tầu sắp hàng đi lên đất
liền, mỗi người lănh một ổ bánh ḿ, hai
hộp cá ṃi và 500 đồng. Đó là một số
tiền lớn thời bấy giờ. Mẹ tôi cất
giữ số tiền cho cả gia đ́nh. Nghe đâu
số tiền này mẹ tôi để rơi hoặc ai
lấy đi đâu mất! Hồi ấy, tiền giấy
từ 10 đồng trở xuống được
quyền xé đôi cho tiện tiêu xài, chẳng hạn
bạn có tờ 1 đồng trong tay, muốn mua 5 hào cà rem,
bạn cứ gấp đôi tờ giấy 1 đồng
lại, xé ra hai phần đều nhau, rồi lấy
một phần trả tiền cà rem, phần kia cất vào
túi để dành. Tờ 10 đồng xé đôi, mỗi
nửa là 5 đồng.
Xuân Trường (Vùng
Biên
Ḥa) là điểm tạm cư. Nhiều gia đ́nh ở
chung dưới một mái lều (nhà bạt). Tôi
không biết thời gian ở đó là bao lâu. Những anh
chị lớn đi lượm hạt cao su đem bán
lấy tiền tiêu. Bọn nhỏ chúng tôi lấy vỏ lon
hộp cá, đục lỗ hai đầu, vót tre xỏ
xuyên qua, lắp vào đó bốn cái nắp bia, cột vài
thước dây, thế là chúng tôi có một chiếc xe kéo
đi chơi suốt ngày. Cuộc trưng cầu dân ư
chọn Tổng thống giữa ông Ngô Đ́nh
Diệm và vua Bảo Đại được thực
hiện trong thời gian này. Dân di cư đều coi ông
Diệm như vị ân nhân và dồn phiếu cho ông
Diệm. Đă đến lúc phải ổn định
chỗ ở. Một số đại diện
được đưa đi coi đất và chọn
chỗ. Lúc đó tôi nghe người lớn nhắc
đến hai nơi: Buônmathuột và B́nh Giả. Các vị
đại diện đánh giá và chọn. Họ chọn B́nh
Giả.
B́nh
Giả là miền đất rừng hoang vu thuộc
Tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa), cách Sài G̣n
123 cây số. Đất ở đây màu đỏ, mùa
nắng đất khô, gió tung bụi mù trời; mùa mưa
đất mến người, đất bám vào đế
giày, đế dép lớp này lớp khác. Đến lúc
bạn kéo lê không nổi, bạn phải dừng lại,
gạt đất ra khỏi giày dép rồi đi tiếp
cho đến khi gạt đất lần khác. Hoặc
muốn chắc ăn, bạn xách dép mà đi chân không.
Các
nhà bạt được dựng lên ở khu chợ B́nh
Giả hiện nay, sát con đường đá dẫn vào
lô cao su Xuân Sơn cách đó khoảng 6 cây số. Công nhân
đồn điền cao su B́nh Ba sáng đi qua con
đường đá này vào Xuân Sơn làm việc, chiều
ra. B́nh Ba cách B́nh Giả 7 cây số. Hai đồn
điền cao su này thuộc cùng một chủ Tây. Cánh
rừng B́nh Giả có nhiều cây cổ thụ, cánh
rừng bằng lăng bát ngát, nhiều cây ăn trái hoang
dại: trái bin to gần bằng trái dưa hấu nhưng
ruột đặc, treo lủng lẳng trên dây leo,
được dùng để nấu canh; trái quéo hột to
thịt ít, các bà ngồi ăn hết rổ này đến
rổ khác; trẻ em thích trèo hái du da. Những người
lớn rủ nhau đi đào khoai mài, khoai vạc gai.
Tối đến họ gánh về từng bao bố. Khoai
này luộc ăn trừ cơm được. Vài ngày sau
trận mưa đầu, nấm mối nhô lên khắp
nơi. Rau dền gai mọc lên từng lớp dày non mơn
mởn, cứ việc mang liềm mang rổ ra hái về
xào hay luộc, rau ngọt tuyệt! Muốn đổi món
th́ đi bẻ măng tre về xào. Rừng tre bạt ngàn.
Hàng
viện trợ được chuyển về liên tục.
Áo quần chia ra từng đống cho bắt thăm.
Gạo, đường, bột ḿ, bột bắp, bơ,
sữa, phô mát được cấp theo số
người trong gia đ́nh. Chúng tôi chỉ thấy bột
bắp dễ ăn hơn cả, quấy vào nước
sôi và đun tiếp cho đến lúc chín, cho vào ít dầu
hoặc đường, chờ bột đông đặc
lại, xắn ra từng cục cầm tay ăn. Bột
ḿ cũng có thể làm kiểu đó, nhưng thường
phải dùng muỗng múc. Bơ và phô mát được
đựng trong những hộp thiếc lớn, có lẽ
mỗi hộp nặng 5 hoặc 10 kư. Mấy thứ lạ
ấy, dân di cư không ham chút nào. Không mấy ai biết
ăn chúng! Người ta đem đi cho hoặc bán rẻ, thường là bà con
đục nắp, đổ ra cho heo ăn, giữ lại
cái vỏ làm gàu múc nước. Cái vỏ quí hơn cái
ruột!
Nói
đến nước, tôi nhớ một kỷ niệm:
Hồi ấy, B́nh Giả chưa có giếng. Giếng
phải đào sâu 18 đến 20 mét mới có nước.
Ngày ngày xe nhà binh, không mui, chở nước từ B́nh Ba
về cung cấp cho dân B́nh Giả. Nước chứa
trong những thùng phuy loại 200 lít, tài
xế cho thả ṿi từ trên xe xuống cho dân hứng vào thùng
sắt tây (Vỏ thùng dầu hôi loại 20 lít). Khi
xe đi chở chuyến khác, một ít người
được tài xế cho mang thùng đi theo lấy
nước riêng cho ḿnh. Trẻ em chúng tôi rất thích đi
xe ô-tô. Một lần kia, tôi bám đàng sau xe, chưa kịp
vào trong, xe đă chạy. Đường đá cục
khiến xe chạy không êm..! Cách nơi xuất phát hơn
một cây số... Tôi bỗng thấy ḿnh được
một người bà con cầm tay dắt đi vào
trạm xá. Th́ ra tôi đă đi bộ như thế mấy
trăm mét từ nơi xảy ra tai nạn mà không hề
thấy và hay biết ǵ. Phải chăng t́nh trạng
mộng du cũng giống như thế? Khi băng bó xong
ra về, anh bạn tôi cho tôi biết là tôi té từ trên xe
xuống. Bấy giờ tôi mới nhớ là ḿnh leo theo xe và
đă rơi xuống đường đá. Chúa đă không
sai thiên thần đến nâng đỡ tôi! Không, chắc
có sự nâng đỡ, nếu không tôi đă bị nặng
hơn? Chiều tối, cha tôi về, nh́n thấy tôi bị
thương nằm trên giường, cha tôi không an ủi,
không vui mừng v́ tôi thoát chết, trái lại cha tôi c̣n la
mắng tôi! Các vết thương cứ chảy
nước, phải băng bó chạy chữa nhiều ngày sau mới khỏi.
Cỏ
tranh um tùm tốt lút đầu người. Rắn rít
nhiều. Ḅ cạp vàng nhỏ, ḅ cạp đen to. Trong
lều, mỗi gia đ́nh có một bộ phản gỗ và
chiếu để nằm. Chung quanh phản chất chồng
các thùng các-tông quần áo hoặc lương thực
viện trợ. Một lần kia, tôi mở thùng các-tông,
một con ḅ cạp vàng chích vào ngón tay tôi. Tay tôi đau
nhức và sưng nhiều ngày, không cầm được
gụ để chơi với bạn bè! Đêm tối
kia, rắn độc chui vào lều, mẹ tôi vừa
đặt chân xuống đất đă bị rắn
cắn. Mẹ tôi có cảm giác như đạp phải
dùi nhọn, khi có đèn chiếu sáng, mẹ tôi mới
nhận ra đó là con rắn đă cắn mẹ tôi!
Cũng may chính quyền cũng bố trí sẵn một
trạm xá gần đó để cứu chữa dân chúng.
Mẹ tôi được chích thuốc ngay. Tuy thế, chân
mẹ tôi vẫn sưng và đau
nhức khoảng hơn một tuần lễ sau
mới hết!
Thú
rừng rất đa dạng: voi, cọp, trâu rừng, nai, heo,
trăn...Mấy
nhóm thợ săn di cư đă bẩy được
cọp, trâu rừng, nai. Họ xẻ thịt chia nhau
hoặc đem bán cho dân. Mấy anh Bảo an đoàn từ
Tỉnh về công tác. Trẻ em chúng tôi đi theo họ ra
đồi Gia Ḥa, chỉ cách lều chúng tôi ít trăm mét.
Họ đi săn. Mỗi phát súng nổ, bầy
vượn la hét inh ỏi. Vượn bay từ ngọn
cây này sang ngọn cây khác cách nhau khá xa. Da ở nách chúng
trải ra trông như cánh dơi. Hôm đó tôi thấy họ
bắn chết được ba con vượn lớn,
một con vượn con c̣n sống ngơ ngác ḅ quanh xác
mẹ nó! Nó chưa hiểu biết chuyện ǵ xảy ra
cho mẹ con nó!
Người
lớn bắt đầu xây dựng trại. Thanh niên vào
rừng đốn tre, các bà cắt cỏ tranh. Các cụ
chẻ tre đánh tranh. Số khác đập dập
những ống tre lớn, duỗi thẳng chúng ra làm vách
nhà. Cột và đ̣n tay đă được cấp phát. Các
dăy nhà hai gian mọc lên dần, thẳng hàng thẳng
lối. Mỗi nhà có một mảnh vườn dài 60 mét,
rộng 30 mét, trước nhà có một con đường
chạy dài từ đầu Trại đến cuối
Trại. Hồi đó, một em bé qua đời, cha mẹ
và dân chúng bươi cỏ tranh đi sâu vào rừng t́m
nơi chôn cất. Tưởng đă đi được
xa lắm, họ dừng lại đào huyệt chôn xác em.
Về sau, ngôi mộ này nằm ngay ở hàng tư, nghĩa
là chỉ cách trung tâm chưa tới 200 mét!
Những
dăy nhà được làm xong, cuộc bắt thăm bắt
đầu. Anh Huân, con cậu Tường, vào Nam một
thân một ḿnh, anh được nhập vào gia đ́nh
chúng tôi. Gia đ́nh đông người, chúng tôi
được bắt thăm lấy hai căn nhà. Ai
cũng mơ ước được căn nhà ở hàng
nhất nằm dọc theo đường lộ chính.
Những người bắt trúng nhà ở hàng sáu và hàng
bảy th́ khóc ṛng, v́ sát rừng, họ sợ voi, sợ
cọp. Lần lượt các nhà ở xa ấy đă
được dân làng xúm nhau khiêng dồn vào đất
vườn của anh em bà con ở phía trong, tạo thêm
một dăy nhà mới ở cuối vườn. Ngày nay con
cái lập gia đ́nh cũng được cha mẹ cho
phần đất cuối vườn để làm nhà
riêng. Như thế, con đường nào cũng
đều đă có hai dăy nhà hai bên nh́n qua nhau: Láng giềng
gần hơn anh em xa. Chúng tôi bắt thăm trúng một nhà
ở hàng bảy và một nhà ở hàng tư. Chẳng bao
lâu, chúng tôi cũng cho khiêng nhà hàng bảy vào đặt
nối liền với căn nhà hàng tư. Cả hai khu
vườn đều phủ một lớp cỏ gấu
lâu năm dày đặc. Hai ba người túm nhau đào và
nhặt cỏ gấu mỗi ngày chỉ được
bốn hoặc năm mét vuông!
Trong
khi mẹ con chúng tôi loay hoay đào cỏ, cha chúng tôi mải
mê làm nhà thờ suốt mấy tháng trời liên tục.
Ngoài đất vườn được chia đều,
đất ngoài xa ai chiếm bao nhiêu tùy ư. Những ông có
tẩm nh́n xa đi khoanh vùng những khu đất tốt
và rộng. Cha tôi cũng chọn được một
đám đất śnh, cây sậy đan kín và tốt quá
đầu người. Sau khi làm xong nhà thờ, mỗi ngày
cha tôi h́ hục đào sậy được một
khoảng nhỏ và kéo lên bờ. Quả thực, mẫu
đất śnh trâu đứng lún bùn chạm bụng ấy
cung cấp đủ lúa gạo cho cả gia đ́nh chúng tôi
ăn quanh năm. Các mảnh đất khác cung cấp hoa
màu, sản phẩm bán được đủ phụ
tiền chợ.
Trại
định cư B́nh Giả gồm các giáo dân di cư
từ Nghệ An và Hà Tĩnh vào, được chia thành ba
Giáo xứ: Vinh Hà, Vinh Châu và Vinh Trung, cũng thường
được gọi là Làng Một, Làng Hai và Làng Ba. Ngoài
các thú dữ ra, không có ǵ phải sợ, dân chúng sống
rất an b́nh, hoàn toàn không chút lo lắng về kinh tế.
Ngày ngày giáo dân đến Nhà thờ dự lễ ban sáng,
đọc kinh ban tối theo truyền thống đạo
đức của Giáo phận Vinh. Viện trợ vẫn
được chuyển tới đều đặn.
Lương thực và áo quần không thiếu. Chúng tôi
được cung cấp đầy dủ dụng cụ
nông nghiệp như cày, bừa, cuốc xẻng, vá (Bai) xúc
đất. Gia đ́nh chúng tôi (10
người) và gia đ́nh Dưỡng Dơn (3
người) được cấp chung một con ḅ
đực thiến khỏe mạnh. Đất dẻo B́nh
Giả cùng cỏ rác ḥa trộn kẹt vào giữa hai móng
chân ḅ cứ lớn lên dần theo nhịp chân bước,
chân ḅ chúng tôi bị lở liên tục chữa không hết!
Một người thiểu số trong vùng đề
nghị đổi cho chúng tôi một con ḅ cái. Chúng tôi đồng
ư đổi. Một vài tháng sau, xe ḅ của chủ mới
ấy chạy ngang nhà chúng tôi, con ḅ cũ của chúng tôi là
một trong hai con ḅ kéo chiếc xe ấy. C̣n con ḅ cái
nhận về, chúng tôi chăn giữ được
một thời gian ngắn, trong lúc chăn thả gần
b́a rừng, nó bỏ đi mất tích t́m măi không ra!
Dân
chúng bắt tay vào việc làm ăn. Nhà nhà thi nhau phát
rẫy, đào cỏ...Một hôm, các chị tôi đào
cỏ gấu khu vườn ở hàng bảy, tôi có
nhiệm vụ mang cỏ đi đổ. Gần đó có
một cái giếng bỏ hoang, tôi cứ đổ cỏ
xuống đó. Cỏ đổ xuống đă khá
nhiều, nhưng giếng vẫn c̣n sâu. Trên mép miệng
giếng có một khối đá to. Tôi đứng trên
khối đá chuẩn bị đổ, bỗng nhiên tôi có
cảm giác khối đá rung chuyển và trụt xuống
giếng, tôi rơi xuống theo. Tiếp đến, tôi có
cảm giác như rơi xuống nước và
người đă ướt trũng. Nhưng thực
tế, tôi rơi xuống trên một lớp cỏ dầy
như trên một tấm nệm vậy. Không có chút
nước nào. Nh́n thành giếng chung quanh, tôi chỉ
thấy thật nhiều con quấn chiếu bám vào thành
giếng thẳng đứng. Loại quấn
chiếu to gần bằng ngón tay và dài khoảng một gang.
Chúng
đ̣i leo lên. Chúng cứ leo lên một đoạn lại
rớt xuống! Nghe tiếng hét của tôi khi tôi bắt
đầu rơi xuống giếng, các chị tôi chạy
tới. Tôi từ từ bám vào vách đất leo lên.
Tảng đá ở mé
giếng vẫn c̣n nằm yên tại chỗ. Nghe
đồn ở giếng hoang ấy có ma. Có ma hay không, không
chắc lắm, nhưng chắc chắn xưa đă có
người sinh sống ở đó.
Đất
đỏ nhiều chất bổ dưỡng, dân chúng khai
thác trồng tỉa hàng chục năm liền không cần
phân bón. Thời gian thanh b́nh sung túc và con người
sống nghiêm túc, người ta tôn trọng nhau và tài
sản của nhau. Làm xong ngày, bà
con cứ bỏ cày bỏ quốc giữa đồng
mà về nghỉ, sáng mai họ ra làm tiếp. Bắp, khoai
thu hoạch chất đống ngoài đồng trống,
nay xe chở chưa hết, cứ để đó ra
về, hôm sau xe ra chở tiếp. Không ai thèm lấy của
ai. Những khách hàng đến thu mua thường là là
những người miền Nam. Họ nói tiếng
miền Nam, chúng tôi hiểu chữ được chữ
mất. Mấy bà di cư khen: “Sao mà họ hiểu
tiếng ta mà họ nói, ta nỏ hiểu tiếng họ
hề?”. Họ đưa xe cam-nhông tới, mua chở
đi hết đống này đến đống khác. Nghe
họ đếm bắp cũng rất vui. Họ
đếm như mấy nhà xổ số kiến thiết
vậy, bắp đếm rồi được
để riêng sang đống bên cạnh trước khi
cho lên xe. Đất śnh làm lúa, đất khô làm hoa màu:
bắp, khoai, các loại đậu. Về sau nhiều
người biết trồng lúa khô.
Tuy
làm ăn dễ dàng, mọi người đều nghĩ
chỉ ở B́nh Giả tạm một thời
gian rồi sẽ kéo nhau trở về quê cũ. Khi nh́n
thấy cha tôi trồng mấy cây mít trước sân, ai
đi ngang qua cũng đều cười: “Trồng mít
khi nào mới được ăn?”. Đối
với họ, thời gian chỉ đủ để thu
họach những cây ngắn ngày thôi. Chúng tôi đă
được ăn những trái mít đầu tiên của
xă B́nh Giả, những múi mít thật ngọt, trong mỗi
múi mít có một ít nước đường. Cha tôi hănh
diện về những cây mít ấy. Khi Mỹ rải
thuốc khai quang các cánh rừng và các đồn
điền cao su chung quanh B́nh Giả, tất cả
những cây có mủ đều đă chết, trong đó có
những cây mít quí của chúng tôi!
Cắp
sách đến trường
Cha
xứ Antôn Đoàn Duy Đông mở Trường tư
thục Vinh Châu (Sau đổi thành Trường Tấn
Đức). Những học sinh già đă từng
được học ở miền Bắc
được nhận vào lớp cao, cao trên hết là lớp
nhất tiểu học (Ngày xưa tính
ngược, lớp càng cao con số càng nhỏ. Lớp cao
nhất bậc tiểu học là lớp nhất, lớp
cao nhất bậc trung học là lớp đệ
nhất). Lớp đi thi tiểu học đầu tiên
của Trại định cư B́nh Giả, chỉ
được mấy học sinh đậu. Tôi bắt
đầu học a, b, c ở lớp sáu tiểu học.
Vở học giá cao (Hai hoặc ba
đồng), cha tôi thường lấy giấy bao xi
măng, cắt ra, đóng thành tập cho chúng tôi đi
học. Giấy xi măng phải dùng viết ch́ kẻ hàng
trước mới viết thẳng hàng được;
viết trên giấy xi măng, mực thấm tốn
hơn viết trên giấy trắng.
Đi
trâu giỏi mà học cũng không đến nỗi tệ.
Các năm tiểu học tôi thường đứng
nhất nh́ trong lớp. Nếu giáo viên không có con hoặc
cháu trong lớp, tôi đứng nhất. Ngược
lại, con cháu giáo viên sẽ đứng nhất, tôi
đứng nh́. Phần thưởng cuối năm, tôi
thường ôm về vài thước vải, đem
cắt
may được ít cái quần đùi (Quần
ngắn). Nhưng “miếng giữa làng bằng sàng trong
bếp”. Mỗi lần phát thưởng, tôi đều
được nghe lại câu văn chương ấy.
Ở
nhà, để tập viết, tôi lấy sách thuốc ra chép
lại. Tôi tập viết chữ in như trong sách. Ông
thầy giáo đến nhà thăm, cha tôi đem vở tôi viết
ra khoe. Ông khuyên: “Đừng cho nó viết chữ in.
Phải tập viết chữ thường, sau chữ
mới đẹp”. Lúc đó đă có viết bíc gọi là
viết nguyên tử, nhưng học sinh không
được dùng viết bíc hoặc viết máy, phải
dùng ng̣i viết thường, chấm mực, nắn nót nét
to nét nhỏ “chữ mới đẹp”. Mỗi ngày học
một buổi sáng, buổi chiều tôi đi chăn trâu.
Vào Nam, cha tôi vẫn nuôi trâu, con trâu duy nhất trong làng. Khi
ra đồng, trâu chúng tôi cứ ăn riêng một ḿnh, không
chịu ḥa nhập với đàn ḅ. Đàn ḅ cũng kính
trọng nó, không con nào dám đến gần! Trên
đường, nó đi hiên ngang lắm, đàn ḅ phải
nép qua hai bên đường cho nó đi qua
ở giữa. Thời ấy chưa có máy cày tay, chính con trâu này giúp
chúng tôi giải quyết ổn các đám ruộng śnh. Khi
anh em chúng tôi lần lượt đi vào các Ḍng: tôi đi tu
Ḍng Phanxicô, ba em trai tôi th́ một đi Ḍng Đông Boscô (Nay là linh mục
Phanxicô Đinh Hùynh Phùng, thuộc Giáo phận Xuân Lộc),
một đi Ḍng Phước Sơn, một đi Tu
hội Tông đồ nhỏ của Đức cha Phaolô
Nguyễn Minh Nhật. Hai em gái tôi, một đi Ḍng Chúa Quan
Pḥng, một vào Ḍng Salêgiêng nữ ở Tam Hà Thủ
Đức. Đám hậu sinh này nay chỉ tu tại gia
dưới quyền điều khiển của Mẹ
Bề trên là Bà Cố 94 xuân xanh.
Không
c̣n ai ở nhà chăn trâu, con trâu tội nghiệp đành
phải chịu số phận đau đớn. V́ quá to,
các nhà đồ tể trong Xă B́nh Giả sợ bán không
hết nên không mua, chúng tôi phải gọi
đến những đồ tể từ Tỉnh Phước
Tuy (Bà
Rịa) về giải quyết. Họ cho
người về mổ tại chỗ, rồi chở
thịt đi. Mẹ tôi ra chợ lánh mặt để
khỏi nh́n thấy cảnh tượng hăi hùng ấy
đối với con trâu đă từng gắn bó với gia
đ́nh chúng tôi lâu năm. Thông thường, khi giết trâu
hoặc ḅ, người ta dùng búa tạ đập vào
đầu mấy nhát, con vật ngă xuống, họ bắt
đầu đâm tiết. Nhưng không ai dám cầm búa
đập đầu con trâu to như con voi của
chúng tôi, họ phải cột nó dưới gốc cây,
nhờ một anh lính Nghĩa quân leo lên ngọn cây, chỉa
súng bắn xuống sọ nó! Tiếng súng nổ, nó
đổ quỳ xuống. Nghe tiếng súng, mẹ tôi
đă khóc ngoài chợ.
Năm
tôi đang học dở dang lớp tư tiểu học,
thầy Lê Quang Diễn, một thầy trong làng
được cử về
giúp xứ Vinh Tân, Tỉnh B́nh Tuy (Lagi, Hàm Tân). Anh
Đinh Tiến Hướng và tôi được gửi
đi ra du học ở đó. Một chuyến
đi lịch sử tôi nhớ măi. B́nh Giả cách B́nh Tuy
không xa, ngày nay đi Honda chỉ mất mấy tiếng
đồng hồ đă đến nơi. Thế mà năm
1958, chúng tôi phải theo chỉ thị ông Uư Kim Thu, người dẫn
đường: Tối hôm trước,
để pḥng hờ ngủ quên, chúng tôi ra ngủ nhà
người quen ngoài chợ (Nhà
ông Hiển). Sáng hôm sau, chúng tôi bắt xe đ̣ đi Long Khánh.
Tại nhà ga Long Khánh, chúng tôi mua vé và chờ lên xe lửa
đi ra ga Sông Phan. Đến ga Sông Phan, trời tối,
chúng tôi ngủ ở nhà ga giữa cánh rừng vắng. Ngày
hôm sau, chúng tôi nhờ xe
chở cây (xe be) cho quá giang ra đường
lộ. Tại đó, chúng tôi đón xe đ̣ đi tiếp
ra B́nh Tuy. Hai ngày hai đêm cho một chuyến đi
đoạn đường trên một trăm cây số.
Chúng
tôi ở nhà anh Nguyễn Hồng Hường, con
dưỡng Nguyễn Dơn. Anh làm Thư kư ṭng sự Ṭa
hành chánh Tỉnh B́nh Tuy, lương khá cao (3.000 VNĐ/tháng).
Anh Hường và chúng tôi
là con cô con cậu. Hai anh chị
Hường Phú nuôi
một đàn cháu (Nam, Kỳ, Hướng, Hoa, Ưu,
Sửu) từ B́nh Giả ra trọ học. Anh rất
đạo đức và sạch sẽ. Chúng tôi đi tham
dự thánh lễ hàng ngày
đều đặn. Sau thánh lễ , bao giờ anh Hường cũng ở lại Nhà thờ cầu
nguyện riêng rất lâu. Chị th́ tính xuề x̣a
đại khái hơn, nhưng rất khoẻ mạnh. Khi
anh Hường thấy ruồi đậu trên bát cơm,
anh gạt bỏ đi mấy hạt cơm ô uế,
chị liền lượm mấy hạt cơm ấy, cho
vào miệng và ăn ngay để chọc anh. Chị
cũng xoay xở làm nhiều nghề khác nhau như nuôi gà, mua
cam về nhà bán, bán quần áo ở chợ Thanh Xuân... Thời gian
học Trường Vinh Tân, tôi không xuất sắc lắm,
đủ khả năng mỗi năm một lớp. Tôi
viết chữ đứng khá đẹp. Anh Hường
gọi tôi vào và bảo: “Những người làm lớn
đều viết chữ nghiêng cả. Phải tập
viết chữ nghiêng!”. Từ ngày tập viết chữ
nghiêng, chữ viết của tôi lộn xộn, ba hồi
đứng, ba hồi nghiêng, chữ này đứng, chữ khác
nghiêng. Kiểu chữ ngoằn ngoèo! Biết đâu chữ
gà bươi là kiểu chữ của những
người làm lớn?
Sau
khi đậu bằng Tiểu học, tôi về B́nh Giả
nghỉ hè. Cha Gioan Lê Xuân Hoa, từ Chủng viện Chân Phước
Tự Tam Hà, Thủ Đức (Nay là Ḍng Salêgiêng
nữ) nhắn tin về: “Sao không thấy thằng Hoa lên
thi?”. Đâu có ai cho tôi biết Chủng viện thi ngày nào!
Ngay từ khi tôi c̣n học ở B́nh Tuy, cha Hoa đă nhờ
cha Thái ra đó “xem mắt”, cha Thái gọi tôi đến
gặp và hỏi han. Sau đó, cha Thái im luôn, không thấy nói
năng ǵ, có lẽ tôi không được ngài chiếu
cố? Nhưng khi về B́nh Giả, tôi được
biết cha Thái đă ghé về đó và chê tôi: “Nó nghịch
quá!”. Nguyên do là: Tại B́nh Tuy, dịp Giáng Sinh, Giáo xứ
Vinh Tân tổ chức văn nghệ, cha Thái được
mời tham dự, tôi đóng mấy vai diễn giúp vui. Cha
Thái đánh giá tôi qua sân khấu.
Anh
Trần Đức Danh và tôi, quần trắng áo dài đen,
được cha tôi dẫn lên Thủ Đức gặp
cha Gioan Lê Xuân Hoa (Nay là Đức Ông Xuân Ly Băng).
Chủng viện Chân Phước Tự đă tổ
chức thi tuyển xong từ lâu. Cha Hoa gọi xe ngựa,
cùng chúng tôi sang Chủng viện Phanxicô. Chủng viện
Phanxicô cũng đă tổ chức thi tuyển xong. Các ứng
sinh đă phải tập trung về đó một tuần
lễ để làm bài thi và để các cha có điều
kiện nhận xét và đánh giá. Sau cuộc trao đổi
giữa cha Hoa và cha Ḍng, hai chúng tôi được cha Ḍng cho
nhận vào thử một thời gian xem sao. Tôi không
biết cha Ḍng đó là cha nào, chỉ biết lúc ấy cha
Bề trên Antôn Trần Phổ đi vắng.
Như
thế, tôi may mắn thoát ṿng thi cử, v́ giữa
khoảng 300 thí sinh, Chủng viện chỉ chọn
lấy 50 kể cũng khó đậu. Chúa sắp
đặt mọi sự cho ai yêu mến Người. Tôi là
người duy nhất đi đến đích trong số
50 chủng sinh cùng lớp. Tất cả đă ra về,
tự ư hoặc bị cho về do hạnh kiểm hay do
học lực. Chủng viện có sức chứa nhất
định, mỗi năm nhận vào thêm một lớp
mới 50 chú, đồng thời cũng phải t́m cách cho
về 50 chú thuộc các lớp cũ. Tôi thấy nhiều
trường hợp khá kỳ lạ và cũng đáng
tiếc cho sự mất mát nhiều ơn gọi:
(Kẻ duy nhất từ nhỏ đă hướng
mắt lên trời, kẻ ấy được chọn)
Anh
Công cùng lớp với tôi, nhưng tuổi nhỏ hơn,
quanh năm đứng nhất lớp. Trong kỳ thi
cuối năm, anh không trả lời được
một câu vấn đáp thầy Ngọc đặt ra,
thầy kết luận anh học thiếu căn bản,
đề nghị cho ở lại lớp! Thế là anh rút
lui.
Chủng
viện chúng tôi dạy theo chương tŕnh Pháp, mọi môn
học đều bằng tiếng Pháp, trừ môn Việt
văn. Môn Pháp văn 40 điểm, môn Việt văn 20
điểm...Thầy Ngọc dạy Pháp văn, là giáo viên
chính của lớp. Thầy cũng tu cùng Ḍng, sau năm
Tập tu, thầy cùng các anh em khác được gửi
sang Pháp học Triết và Thần học. Chi tỉnh
Phanxicô Việt Nam thuộc Tỉnh Ḍng Paris. Phần đông
các cha giáo sư đều từ
Pháp sang dạy. Xuất tu, thầy Ngọc trở về
Việt Nam, được nhận vào dạy trong Chủng
viện. Thầy có một khoa sư phạm đặc
biệt: bắt chép phạt. Nhiều bạn học
của tôi là nạn nhân của khoa sư phạm
độc đáo này. Đă kém th́ khó có thể vươn
lên. Đă không thuộc bài một lần th́ kể như
vĩnh viễn không bao giờ thuộc bài được
nữa.
Chương
tŕnh học được quy định rất sít sao.
Chuông báo giờ chính xác, mỗi việc có một thời
gian nhất định: Thức dậy, thể dục,
rửa mặt, đi lễ, ăn sáng, giải trí, học
bài, lên lớp, làm bài, ăn trưa, nghỉ trưa, học
bài, lên lớp, giờ chơi hoặc công tác, tắm
rửa, làm bài, ăn tối, nghỉ ngơi, kinh tối,
đi ngủ... Học sinh nào không thuộc bài, thầy
Ngọc ra h́nh phạt: chép lại bài đó 50 lần, có khi
100 lần. Đến hẹn, nếu nạn nhân chưa
chép đủ để nộp, thầy bắt chép thêm 200
lần...Lấy giờ học bài để chép phạt th́
lại không thuộc bài mới. Xén giờ làm bài để
chép phạt th́ bài làm khó xong. Nhiều anh bị Chủng
viện xếp loại học kém phải cho ra về,
họ thuộc loại giỏi nhất lớp khi ra
học ở các trường ngoài đời.
Tôi
bị chép phạt một lần duy nhất. Tôi sơ ư
đánh rơi cái thước kẻ. Thầy Ngọc
bắt tôi chép 50 lần câu: “Tôi không được làm
ồn trong lớp”. Chép xong, tôi vẽ bên cạnh h́nh
một chú bé học sinh đang viết, các ngón tay thiếu
ngón, mồ hôi nhễ nhăi. Tôi lấy mực đỏ tô các
giọt mồ hôi từ trên trán xuống giấy vở.
Đúng ngày, tôi đem nộp, thầy phê dưới h́nh
vẽ của tôi: “Đáng kiếp! Không chút động ḷng
thương xót. Mong chép cho cùi ṃn cả tay!”. Giá như
thầy nổi giận cho tôi chép thêm vài trăm lần
nữa th́ khốn! Các bài làm Pháp văn của tôi, thầy
Ngọc thường xuyên cho điểm “Zêrô” chứ không
chấm. Lư do: “Lecture illisible” (Chữ viết không
đọc được). Vậy mà tôi vẫn không bị
liệt loại kém. Đúng là Chúa ǵn giữ
những ai trông cậy vào Người.
Học
Việt văn với cha Samuel Trương Đ́nh Ḥe
về Truyện Kiều, tôi nắm
bắt được con bài của ngài, các bài làm của
tôi luôn điểm cao. Chấm bài của tôi, cha Ḥe khen
hết lời. Liên quan đến Phạm Quỳnh, cha Ḥe
không đồng quan điểm với cha Thanh Lăng,
Trưởng khoa Việt văn ở Đại học
Văn khoa Sài G̣n. Hai cụ như bút chiến với nhau!
Sau này cha Ḥe sang Pháp, dạy ở Đại học Sorbonne,
Paris, làm Viện trưởng Viện Hàn lâm Viễn đông
bác cổ. Cha nói tiếng Tàu giỏi hơn người Tàu.
Cha đi ăn nhà hàng của Tàu thường
được chủ nhà hàng ưu đăi đặc
biệt.
Thời
gian học ở Tiểu Chủng viện, hai thời
điểm giao động nhất đối với tôi,
đó là trước và sau mỗi kỳ nghỉ. Mỗi
năm chúng tôi được nghỉ Tết hai tuần và
nghỉ hè ba tháng. Một tuần trước ngày về,
tôi cứ thao thức chờ ngày về, tối rất khó
ngủ. Nhưng về nhà được vài tuần
lại nhớ Chủng viện. Vào Chủng viện
lại nhớ nhà, mấy tuần sau mới ổn
định tinh thần. Thật là ṿng lẩn quẩn!
Một
số thời điểm tôi bị ho nhiều, cha Giám
thị Paul Joseph cho rằng tôi “sensible au vent” (Mẫn cảm
với gió), đêm đêm cha đến đóng các cửa
sổ pḥng ngủ gần chỗ tôi nằm hoặc khi tôi
đi xuống lớp học, cha lót dưới chiếu giường
tôi vài tờ nhật báo.

Một
dịp hè kia, tôi về B́nh Giả nghỉ. Tôi và anh bạn
Vũ Văn Lương rủ nhau ra rẫy chơi. Trong
đám rẫy gia đ́nh tôi có một cồn mối cao và
lớn, trên đỉnh cồn mối cũng có một cây
đu đủ khá cao. Tôi leo lên cây đu đủ hái trái
chín. Đang ở trên ngọn, tôi nghe một tiếng
“phựt” mạnh và cây đu đủ rung chuyển. Tôi
nghĩ là anh Lương leo lên ở dưới gốc, tôi
la to: “Đừng lên! Đừng lên!”. Thực tế, anh
đă đi chơi xa cách đó vài chục mét. Nghe tiếng
la, anh chạy tới. Cây đu đủ đă đứt
mấy cái rễ cuối cùng từ từ đổ
xuống. Tôi nhanh trí ôm chặt lấy ngọn cây thay v́
phản ứng tự nhiên là tuột xuống gấp.
Vừa khi ngọn đu đủ gần chạm tới
mặt đất, tôi đạp chân vào thân nó và nhảy
lên. Cây đu đủ rơi xuống, nẩy lên rồi
rơi xuống lần nữa và nằm im. Tôi rơi
xuống theo, kể như tôi rơi từ một
khoảng cách thấp nên không hề hấn ǵ. Kể
lại chuyện này khi về nhà, mẹ tôi cứ ḍ
hỏi: “Có bị đau ở đâu không?”. Tôi khẳng
định không đau ǵ cả. Mẹ tôi không tin, nghĩ
tôi sợ nên giấu: “Bổ cây đu đủ cao như
thế mà không đau là làm sao? Đau ở chỗ nào th́
nói!”...
Kinh
nghiệm ấy cho tôi an tâm mỗi khi ở trên ngọn cây
dừa hay một cành cây nào khác có lá. Khi xảy ra sự cố,
vội vàng buông tay hay tuột xuống, không chết cũng
găy chân găy tay, ít nữa cũng bị trầy sướt
ḿnh mẩy. Ở yên vị trí, lá cây sẽ cản giùm gió, lực
rơi sẽ nhẹ hơn. Xuống gần mặt
đất, bạn đạp mạnh vào cây và nhảy lên,
vừa triệt tiêu lực hút trước đó, vừa
để tránh bị cây đập vào người khi nó
chạm đất nẩy lên. Thân người rơi
xuống lúc đó không phải từ trên cao
nữa,
nhưng từ một khoảng cách mặt đất
rất ngắn.
Đi
thoăn thoắt trên mái nhà cao, chạy trên các đ̣n tay
sườn nhà chưa lợp, những chuyện như
thế không khó khăn ǵ đối với tôi. Từ cành
cây này nhảy đu chuyền sang cành cây khác cách nhau
khoảng hai hoặc ba mét, tôi thực hiện cách nhẹ
nhàng. Đuổi chuột trên gác nhà, chuột theo cột
thẳng đứng chạy xuống, tôi theo thang gỗ
rượt đuổi, tôi kịp xuống trước,
đứng chờ sẵn ở chân cột đón bắt
chú chuột xấu số! Nhưng cũng có lần gặp
nạn: Tại sân thể thao Chủng viện, tôi
đứng trên hai cây parallèles nhảy sang đu cây parafixe,
tay tôi đă bám được cây sắt tṛn bên cây parafixe,
nhưng khi thân xác tôi xít ngược lại theo đà, tay
tôi bị trượt, tôi té xuống nằm bẹp
dưới đất. Tôi như xây xẩm trong giây lát, có
cảm giác như hai cánh tay căng phù lên. H́nh như đó
chỉ là hiện tượng hoa mắt? V́ khi mắt ổn
định lại, nh́n thấy được, hai cánh tay
không có ǵ đặc biệt, chỉ đau nhức thôi! Tay
tôi bị bong gân, thầy Thômas
Hùynh Thông bó thuốc Nam một thời gian, tay tôi cũng
khỏi. Rất may, chỉ tay trái bị nên không ảnh
hưởng đến việc học hành.
Có
kỳ hè tôi không về nhà được. Lư do:
đường bị du kích Việt cộng chặn
lối. Cả Quận Đức Thạnh lúc đó (Nay là Huyện
Châu Đức), hầu như chỉ xă B́nh Giả là an
ninh, có bờ rào tre kiên cố bao bọc, các cổng ra vào
khóa chốt ban đêm, Nghĩa quân thay phiên nhau trực canh
gác... Quận trưởng và binh lính ở trong đồn
ở Ngăi Giao, mấy ṿng kẽm thép gai vây quanh, ḿn cài dày
đặc. Các cuộc hành quân ra ngoài thường bị
phục kích, lính chết
rất nhiều. Ông Quận trưởng nào hăng hái
cũng chỉ được một thời gian là tử
trận. Các làng mạc chung quanh thiếu an ninh, Việt
cộng từ rừng ra hoặc nằm vùng ngay tại
chỗ hoạt động thoải mái: ngày là dân, đêm là
du kích. Kể cũng tội nghiệp cho dân địa
phương, họ phải làm tôi hai chủ. Ban đêm bên
Việt cộng huy động họ ra đào
đường đắp ụ; ban ngày bên quốc gia
bắt họ ra lấp lại...Du kích chặn
đường tại B́nh Ba (Cách B́nh Giả 7
cây số), không ai được đi qua. Chiếc xe
Lambretta kinh tài cứ im lặng chở xuống rồi
chở lên, đợt này đến đợt khác, tính
tiền cả chuyến đi lẫn chuyến về mà
không hề cho hành khách biết đường bị
chặn rồi, không có thông thương! Loanh quanh trong
khu vực, chúng tôi van xin đủ cách, dù chỉ là mấy
chú học sinh nhỏ, mấy anh du kích chỉ làm theo
lệnh trên! T́nh cờ cha giáo sư lớp tôi, cha Rémy,
đi ngang qua trên chiếc xe hai ngựa, cùng với ông Tây
giám đốc đồn điền cao su B́nh Ba. Cha
xuống xe nói chuyện với chúng tôi. Sau đó, ông Tây
chở cha Rémy, cũng là Tây, đi gặp cấp trên
của nhóm du kích để xin can thiệp. Cuộc vận
động thất bại! Cấp lănh
đạo trả lời: “Nếu cho chúng tôi đi qua,
họ khó xử với đám đông c̣n lại”. Tôi quay
trở lên, t́m về Xóm Mới ở nhờ nhà anh bạn
học cho đến hết hè. Em gái tôi từ B́nh Giả
nghe tin tôi bị chận lại ở B́nh Ba, cô lấy xe
đạp mang mấy trái măng cầu xiêm ra B́nh Ba
tiếp tế cho tôi. Không được gặp anh
để trao măng cầu, cô bé đành quay trở
về, vừa đạp xe vừa khóc!
Có
năm tôi lọt được về quê nghỉ hè, khi
đi ra lại cũng gặp vất vả. Lần
ấy, hết hè, bà Bảng dẫn anh Hường con bà và
tôi trở về Chủng viện. Chúng tôi dự kiến
đi bộ trên hai chục cây số từ nhà lên Tỉnh,
rồi lấy xe đ̣ đi về Chủng viện.
Nhưng chúng tôi bị chặn
lại tại B́nh Ba. Chúng tôi đang đi bộ
dưới tán cây cao su, nghe tiếng máy bay trực thăng,
anh du kích la: “Tránh ra, tránh ra! Tôi bắn”. Trực thăng bay
qua trên cao, anh ta vác súng trường bắn lên mấy phát.
Bà Bảng hô hào chúng tôi chạy mau ra xa khỏi khu vực,
v́ mỗi lần như thế, trực thăng sẽ báo
về trung tâm, và một lát sau máy bay tới dội bom vùng
đó. Hôm đó không có máy bay tới dội bom. Chúng tôi quay
trở về B́nh Giả!
Hỏng chuyến này bày chuyến
khác. Hôm sau, bà Bảng nhờ một người
địa phương mà bà quen biết. Họ có chuyến
xe sắp chở cà phê đi về hướng Long Khánh.
Họ dặn chúng tôi cởi áo quần học sinh ra, tôi
mặc chiếc quần lót và áo lót, anh Hường mặc
chiếc quần lót, cởi trần ngồi trên buồng
lái. Chúng tôi làm như thể đi bốc vác hay theo xe đi
chơi ǵ đó. Chúng tôi lọt qua các chốt du kích an toàn.
Chuyến ấy chúng tôi phải trả tiền xe cao hơn
giá b́nh thường? Cũng chẳng biết b́nh
thường giá bao nhiêu, v́ đường đi về phía
Long Khánh bị chốt từ lâu, không hề có xe khách
lưu thông!
Sau
kỳ thi Brevet (Trung học Pháp), lớp tôi chỉ c̣n
lại bảy đứa. Một lớp bảy học
sinh mà phải trên mười cha giáo sư chia nhau dạy
các môn th́ hơi phí, các cha quyết định gửi chúng tôi
ra Nha Trang. Chúng tôi ở Tu viện Phanxicô trên đồi Xóm
Bóng, ngày ngày đi bộ sang học bên trường các
Sư huynh La San. Các Sư huynh cũng dạy chương
tŕnh Pháp. Hai nhà ở trên hai ngọn đồi giáp ranh nhau.
Hai ngôi nhà hiện nay cùng chung số phận: Nhà Nước
sử dụng!
Chưa
hết lớp Première ở La San, chúng tôi xin chuyển ra
học Trường Việt. Tại Trường bán công Lê
Quí Đôn do Thầy Cung Giũ Nguyên làm Hiệu
trưởng, tôi đứng nhất trong kỳ thi cuối
năm Đệ nhị. Chúng tôi vừa học vừa làm
giám thị và dạy học tại Kư túc xá Phanxicô do cha
Đaniel Nguyễn Thăng Cao làm Giám đốc. Chính cha
Đaniel Cao vận động cho tôi vào học lớp
Đệ nhất ở Trường công Vơ Tánh.
Trường công không nhận học sinh vào ngang. Năm
ấy, lớp Đệ nhất lại đông, v́ các nam
giáo sư bị động viên đi học quân sự,
Trường phải điều nữ giáo sư sang
dạy, đồng thời cũng cho lớp Đệ
nhất Trường công nữ nhập chung với lớp
nam. Hồi đó, các thầy cô dạy Tiểu học
gọi là giáo viên, dạy Trung học gọi là giáo sư,
dạy Đại học gọi là giảng sư.
May
mắn, tôi cũng được nhận vào Trường
công. Ông Hiệu trưởng cho biết: ông nhận tôi v́
nể cha Cao cứ chạy qua chạy lại nhiều
lần để xin cho tôi vào học. Tôi không phụ ḷng ông
và cha Cao: Bảng danh dự treo cao trước mặt
tiền Trường Vơ Tánh, tên tôi nằm yên một chỗ
suốt cả năm không bao giờ phải thay
đổi. Bằng danh dự tôi nhận được
hàng tháng xếp thành một chồng. Cha Cao hănh diện ôm
chúng ra khoe khi cha Tỉnh ủy ra thăm. Tốt nghiệp
Trung học, tôi mang xe đạp chở một chồng
phần thưởng về nhà. Trường công tuyên
bố giải nhất là phần thưởng của
Tổng thống, gần một thước Tự
điển; giải nh́ là phần thưởng của Phó
Tổng thống. Cô bạn gái lănh giải nhất, tôi
nhận giải nh́. Có phải v́ ga-lăng hay nữ thông
minh hơn nam? Đúng là cô ta xứng đáng hơn, cô
học gạo dữ lắm. So sánh giữa hai bài làm
của chúng tôi, cô giáo môn Pháp văn nói: Bài cô Ngọc
viết nắn nót, cẩn thận, c̣n bài của tôi
viết dễ dàng thoải mái.
Học
Văn chương Việt Nam ở Đại học
Văn khoa Sài G̣n, tôi học với cha Thanh Lăng, thầy
Giản Chi, thầy Nguyễn Cần và nhiều học
giả khác. Học Triết, tôi học với các giảng
sư Nguyễn Văn Trung, Lê Đ́nh Trị, Lư Chánh Trung,
cha Trần Thái Đỉnh...(Triết Tây), và các thầy Lê
Đăng Khoa, cha Bửu Dưỡng, cha Lương Kim
Định...(Triết Đông). Cha Giám sư Nguyễn
Hồng Giáo giúp chúng tôi học thêm môn Triết học
tại nhà. Cha Giáo cũng là Tiến sĩ Triết với
luận án được đánh giá xuất sắc (Maxima
cum laude) tại Đại học Louvain.
Xét
về Trường học, tôi đă học đủ
loại trường: Trường tư, Trường bán
công, Trường công, Trường Pháp, Trường
Việt, Trường các cha, Trường Sư
huynh...(Trừ Trường nữ). Nếu được
học Trường nữ hoặc Trường các Xơ,
chắc chữ viết của tôi sẽ đẹp hơn.
Nhà
thể thao
Đối
với tôi, tôi là nhà thể thao trên sân chơi và thể thao
trên chiếc xe hai bánh. Các loại xe tôi sử dụng, tôi
đều tự tập lấy. Từ nhỏ, tôi tập đi
xe đạp bằng cách đưa xe đến bên gốc
cây đầu dốc, tựa vào thân cây mà leo lên xe, buông tay
khỏi thân cây và nắm lấy ghi đông xe, xe cứ
thế theo triền dốc mà chạy. Té keo này bày keo
mới. Cứ từ từ bằng ḷng với một đoạn
ngắn rồi dần dần chạy được
đoạn xa hơn. Chân không tới bàn đạp th́
đừng ngồi trên yên xe, ngồi trên khung mà chạy, và
khi muốn đổi thế ngồi th́ thọc chân qua
dưới khung xe mà đạp. Thực ra, thế
đứng một bên hông xe đạp nhắp (Nửa ṿng)
kiểu đó chẳng cho phép ngồi.
Một
thầy Ḍng chỉ cho tôi chạy xe solex một đoạn
trong sân Chủng viện. Xe solex có máy gắn phía
trước đầu xe, khi kéo máy lên, chúng ta đạp
chạy như xe đạp, thả đầu máy
xuống, xe tự chạy không cần đạp. Mấy
ngày sau, tôi mượn xe solex ấy chạy thẳng từ
Thủ Đức về Tân Hưng G̣ Vấp thăm
người thân.
Vào
Đại học, tôi được cha mẹ cho tiền
mua chiếc Honda. Trước đó đă có người cho
tôi ngồi xe của họ chạy thử một lần,
có họ chạy theo sau giữ xe. Lần sau, chẳng
những tôi chạy một ḿnh mà c̣n có thể chở
được thêm một người khác nữa. Anh
cả tôi dặn nên mua xe Brigistone hoặc Honđa nữ,
các loại xe này dễ chạy. Nói thế, nhưng có
lẽ hai loại xe ấy thấp, vừa tầm với
anh, người nhỏ hơn tôi. Tôi không thích, nhưng
cũng làm theo lời anh tôi. Ráp xe xong, tôi tự lái chạy
thẳng về nhà. Lúc đó chúng tôi ở Cộng đoàn
Antôn Cầu Muối.
Xe
mới phải cho chạy rô-đa cho bền xe bền máy
sau này. Chạy rô-đa là dựng xe đứng yên và cho máy
nổ liên tục nhiều giờ mỗi ngày, có thể lên
số cho bánh quay tại chỗ, hoặc cho xe chạy với
tốc độ chậm chờ đến khi đủ
3.000 cây số mới cho chạy nhanh. Trên đường
từ Thủ Đức về Sài G̣n, tôi chạy chậm
và sát lề đường, chiếc xe Volwagen phía sau
chạy tới. Tôi thấy đầu xe ấy quẹo ép
vào lề trước mặt xe tôi như thể muốn
ghé đậu, nhưng khi đuôi xe quẹt được
vào xe Honđa mới toanh của tôi, tài xế cho xe quay ra
đường và chạy luôn. Xe tôi đổ xuống trên
xa lộ, tôi lăn lộn ba ṿng về phía trước theo
đà tự nhiên. Nhờ cú lộn đó, tôi chỉ rách tí
quần, trầy da đôi chút nhẹ. Nhưng chiếc xe
mới của tôi bị thương nặng hơn:
giỏ trước dẹp lép, đèn bể, bửng xe
bể. Cái máy cassette cột sau xe nội thương khá
nặng, lắc kêu lóc cóc ở trong. Một viên sĩ quan
Miền Nam thấy thế, đă dừng xe xuống giúp
tôi, lấy lại cho tôi những dây máy cassette và chiếc
micrô từ tay mấy chú nhỏ chạy ra định hôi
của.
Rô-đa
nửa chừng, chưa đạt mức cây số theo
tiêu chuẩn, tôi đă cho chạy hết tốc độ
trong một chuyến đi Vũng Tàu, cùng với nhóm Thanh
lao công của cha Trương Bá Cần. Tôi có thể
chạy nhanh hơn, nhưng tốc độ tối đa
của xe chỉ nhích hơn 100 cây số mà thôi! Tôi đi
sinh hoạt trong Thanh lao công một thời gian ngắn,
thấy không thích hợp, tôi ngưng tham gia.
Anh
cả tôi khuyên tôi mua Honđa nữ, thế nhưng anh
lại lên Bà Rịa mua chiếc Honđa ông mang về
chạy ở B́nh Giả. Kỳ nghỉ tiếp đó,
chúng tôi đổi xe cho nhau theo ư của tôi. Chiếc xe
Honđa ông này gắn bó với tôi suốt mấy năm
Đại học. Nó có bảng số độc đáo: “0000”.
Ai nh́n thấy số xe “bốn không” cũng bật
cười.
Xe
chạy tốt, thích hợp với sở thích tốc
độ của tôi. Trời mưa lất phất, trên xa
lộ, xe tôi chạy hết tay ga, bánh xe chỉ lướt
trên mặt đường chứ không chạm đất,
y như chạy bằng từ trường vậy. Tôi
không để ai chạy trước mặt ḿnh, phải
vượt lên. Cũng có phần nguy hiểm! Một
lần từ B́nh Giả về Sài G̣n, tôi đang chạy
b́nh thường theo quán tính của người tài xế,
chạy đường trường không cần chú ư
nhiều ở phía trước, tôi quay ra nói chuyện
với người ngồi phía sau, tự nhiên có linh tính
như rađa báo hiệu, tôi quay tức tốc về phía
trước th́ chiếc thùng phuy nằm ngay đầu xe,
tôi kịp lách xe vụt qua một bên tránh được
chướng ngại vật trong tích tắc. Hú vía và
mừng thầm, v́ với tốc độ tôi đang
chạy, đâm vào chiếc thùng phuy ấy, xe tôi đă nát và
người cũng...! Hai hàng thùng phuy đựng
đầy cát người ta đặt zic-zắc trên
cầu sông Đồng Nai hồi ấy kể cũng nguy
hiểm.
Tôi té
xe nhiều nhất do những vũng nhớt trên
đường. Những người sửa xe tải vô ư
không chùi sạch nhớt xả, Honda lọt vào đó là
trượt, giữ vững tay lái đến mấy
cũng nhào. Hai lần đi dưới mưa, xe tôi
trượt té v́ đường rầy xe lửa nằm
vắt xéo qua đường. Một lần xe tôi hôn sau
chiếc xe con v́ anh tài xế cho xe dừng th́nh ĺnh trên xa
lộ, tiếp đó, tay tôi bị run, chỉ trở
lại b́nh thường sau khi chạy được khỏang
mươi cây số. Một lần chở cha Phêrô
Đậu Văn Minh từ Sài G̣n đi B́nh Giả, xe tôi
đâm đầu vào đống cát trên đường, cha
Minh lao ra khỏi xe chui vào trong cát, phủi cát măi mới
nhận ra h́nh hài cha Minh.
Trong
một chuyến chạy từ Bảo Lộc về Đà
Lạt giữa trưa, có lẽ tôi ngủ trong tích tắc,
bỗng thấy ḿnh đi vào giữa đống bắp
nguyên trái đang được rải phơi trên
đường, biết thế nào cũng té, nhưng
phải hạn chế tối đa thương tích.
Một đàng tôi giữ vững tay lái, đàng khác tôi
đạp nhắp thắng mấy cái để cho xe
giảm tốc độ. Chuyện phải đến
đă đến, người và xe lăn xuống
ruộng. Tôi nghe một tiếng “bộp” trên đầu.
Đầu tôi đă đập xuống đất. Rất
may, chiếc nón bảo hiểm đă che chở tốt cái
đầu quí báu của tôi.
Nhưng
lần tôi bị thương nặng nhất phải
kể ra, đó là lần tôi chở cha Phi Khanh Vương
Đ́nh Khởi từ Đakao về Cầu Muối. Xe tôi
đă quay gần hết ṿng bùng binh sau Nhà thờ
Đức Bà, một chiếc xe nhà binh từ phía Dinh
Độc Lập vụt tới bất ngờ. Bánh xe
trước của tôi nằm dưới bánh xe nhà binh. Tôi
giữ chắc xe nên không văng ra. Hồi c̣n là học sinh
Trường Bán công Lê Quí Đôn Nha Trang, tôi đă bị
một trường hợp như thế. Nhưng lúc
đó là xe đạp, xe cán vào xe đạp của tôi là xe
rép sĩ quan, vành xe bánh trước của tôi cong giống
chiếc bánh tráng sau khi nướng, thợ không chịu g̣,
tôi phải thay vành xe mới! Lần này, tôi phải nhờ
xe bốn bánh chở xe Honđa của tôi về nhà, v́ cả
chiếc xe Honđa của tôi đă cong thành chữ “L”.
Sắt
cứng nên cong, thịt mềm nên co giăn được. Tuy
nhiên, bị thúc mạnh, ngoài chiếc quần bị xé rách
từ trên xuống dưới ngay giữa đường
phố, đùi của tôi cũng sưng phù, phải bóp
nước nóng ḥa muối hai tuần sau mới xẹp! Cha
Khởi ngồi sau bị nhẹ thôi, trầy da chút chút,
nhưng có lẽ không biết nhỡ ra có mệnh hệ nào
rồi sẽ để các xơ Mến Thánh Giá lại cho
ai, cha vội vàng đi chích ngừa phong đ̣n gánh.
Tôi
đem xe ra thợ nhờ sửa. Coi xe xong, thợ nói
sẽ thổi được. Tôi hiểu “thổi” là dùng
hơi dùng khí ép sao cho nó thẳng ra. Không ngờ đến
hẹn, tôi ra lấy xe về, th́ ra họ đă dùng lửa
hàn thổi đứt đôi khung xe của tôi và hàn nối
lại. Suốt thời gian dài, mỗi lần ngồi lên
chạy, tôi cứ sợ gặp ổ gà mối hàn nhả
ra và xe sẽ đứt làm đôi nên không dám chạy nhanh
như trước. Nhưng quả thực, mối hàn
rất bảo đảm, mấy chục năm sau, xe
vẫn c̣n tốt!
Thật
là bất công với chính ḿnh khi nói thể thao mà không
nhắc đến cầu thủ luôn mang số 2 trên sân cỏ.
Thời ở Chủng viện Thủ Đức, tôi
thuộc số cầu thủ của ba loại thể
thao: Bóng rổ, Bóng chuyền và Bóng đá. Bóng rổ tôi tham
gia một số trận. Bóng chuyền tôi tham gia nhiều
trận thi đấu hơn. Nhưng có lẽ sở
trường của tôi là Bóng đá, luôn được giao
vị trí hậu vệ khoác áo số 2. Trận thi
đấu nào đă nắm chắc phần thắng, tôi
vẫn bỏ vị trí lên tham gia tấn công. Mỗi
lần tôi lên sát cầu môn đối phương, khán
giả nhà luôn vỗ tay cổ động nhiệt
liệt.

Bóng rổ, hàng ngồi
từ trái: Chúc, Hồng, Hoa, Đa, B́nh, Hải
Phong
trào đá bóng thập niên 60 rất mạnh. Đội chúng
tôi thi đấu với hầu hết các Trường
lớn ở Sài G̣n và Thủ Đức, kể cả các
đội thanh niên của những làng xă chung quanh. Phần
lớn chúng tôi thắng. Khí thế tranh đua quyết
liệt, trận nào thua, chỉ chờ khoảng một
tháng sau chúng tôi mời đội thắng đấu
lại để phục thù. Lần kia, trên sân cỏ,
một cầu thủ chúng tôi nhảy cao đội
đầu, lúc rơi xuống cầu thủ đối
phương ghé cùi chỏ hất vào sau ót, anh cầu
thủ chúng tôi nằm quay đơ trên sân. Được
khiêng về pḥng, anh mê man nói sảng từ bốn
giờ chiều cho tới mười giờ đêm
mới tỉnh!
Tinh
thần háo thắng cũng góp phần làm căng thẳng
trận đấu. Có trận, những nhà cầm quân hai
bên đem thước ra đo các cầu thủ. Những
cầu thủ cao quá mức quy định một hai
centimét bị loại khỏi cuộc chơi. Các cầu
thủ xấu số khóc thút thít biến sân cỏ thành
đám tang trước khi xung trận! Dù tôi thuộc
cầu thủ đội lớn, nhưng vóc người
không cao, khi đội nhỏ chúng tôi bị đối phương
dẫn trước, tôi được yêu cầu vào
trận để cứu đội nhà. Các cầu thủ
thư sinh đối phương dẫn banh lên, nh́n
thấy cặp gị cứng cáp và vững chắc của tôi
đang b́nh tĩnh đứng chờ trước cầu
môn, họ không c̣n đủ can đảm lao vào!
Tôi có
khả năng ứng biến và làm chủ thế trận.
Khi cần sức mạnh, tôi không cho phép banh chạm
đất. Banh trên trời rớt xuống, tôi đá
bật lên ngay từ trên không. Khi thư thái v́ đă nắm chắc
phần thắng, tôi đá nghệ thuật nhiều
hơn. Tôi đá gót và đá gị lái thành thạo. Tôi
đuổi theo banh mà đối phương chạy sát
đàng sau, tôi chỉ cần hất gót
một cái, đối phương chưng hửng v́ tôi
chưa quay mặt lại mà banh đă được
bắn ngược lên rồi! Banh từ trên cao
rơi xuống, hai bên đều chạy tới đón, tôi
chạy quá điểm rơi của quả banh để
cản đối phương, nhưng một cú đá gót ra
sau đă
đủ để bắn ngược trái banh lên phía sân đối
phương. Cổ động viên đối phương
kết án tôi: “Số 2 chơi xạo!”. Khi
banh lọt qua tôi mà có đối phương bám

Bóng đá: Cầu
thủ số 2 ở giữa hàng đứng
sát, biết
chạy theo cũng không kịp, tôi đứng yên một
chỗ. Trọng tài nh́n thấy chỉ một cầu
thủ đối phương dẫn banh vào mà hậu
vệ không thèm đuổi theo, theo phản xạ tự
nhiên, ông thổi c̣i bắt việt vị.
Một
dịp nghỉ hè, tôi được mời tham gia
đội banh đại diện Quận Đức
Thạnh đi thi đấu với đội banh Quận
Long Điền. Đội banh Long Điền là
đội mạnh, họ có nhiều mạnh thường
quân ủng hộ, cả về tài chánh lẫn tiếng
cổ động viên. Trận đó, lần duy nhất
Đội Quận Đức Thạnh chúng tôi thắng.
Khán giả Long Điền hô: “Đề nghị số 2 vào Đội tuyển Tỉnh”, và
họ trách các cầu thủ nhà: “Tụi bay chỉ có chùi...
cho quân B́nh Giả!”. Cầu thủ Đội Quận
Đức Thạnh hôm đó hoàn toàn là dân B́nh Giả. Ông
Quận trưởng Đức Thạnh hănh diện. Ông
chiêu đăi chúng tôi một bữa tiệc mừng.
DẤN THÂN TU HÀNH
Người
ta nói Năm Tập là năm đẹp nhất của
đời tu, Tập sinh chết th́ lên thẳng thiên
đàng. Có lẽ thời xa xưa, các bậc đàn anh
trải qua kinh nghiệm đă có nhận định đó.
Năm Tập của họ thánh thiện , đạo
đức, ăn chay, đánh tội nhiều. Thứ sáu
hàng tuần, họ đứng trong pḥng, dùng dây áo Ḍng
quất mạnh vào người, cha Giám Tập đi đi
lại lại ngoài hành lang kiểm tra. Họ nằm ngang
cửa pḥng ăn cho anh em bước qua...
Năm
Tập chúng tôi không c̣n giữ các tập tục tốt lành
ấy. Có lẽ quan niệm tu tŕ sau Công đồng Vatican
II đă có nhiều canh tân. Tóc chúng tôi không c̣n cắt
trọc, chừa một vành tṛn quanh đầu
như các bậc đàn anh nữa. Áo chúng tôi không
đeo thêm bộ tràng hạt dài và to...Sống trong cùng
một Tu viện, nhưng chúng tôi ở một khu vực
riêng, ăn ở pḥng cơm riêng. Thánh lễ và các Giờ
Kinh, chúng tôi dự chung với cộng đoàn.
Không
c̣n bận tâm với chuyện học lư thuyết các môn
học đời, chúng tôi được hướng
dẫn về tu đức và những môn học liên quan
đến đời tu. Tâm hồn nhẹ nhàng thoải mái
hơn. Ngoài giờ học, chúng tôi chia nhau phụ giúp làm các
công việc trong nhà, nuôi thỏ, trồng rau... Thỏ
miền nóng đẻ liên tục, có con đẻ một
bầy 18 con nhỏ xíu, có con đẻ bất ngờ, không
báo trước để chúng tôi cho sẵn bát nước
vào chuồng, cô ả đẻ xong, khát quá xơi luôn
bầy con, chỉ chừa lại mớ đầu! Té
ra cũng
có loại mẹ không thương con ḿnh sinh ra! Nha Trang mùa
nắng cỏ khô cháy, cắt đủ cỏ cho vài
trăm con thỏ ăn hàng ngày cũng khá vất vả. May
thay có cây rau muống biển luôn luôn tươi xanh, mọc
từng đám trên băi cát dọc theo bờ biển. Mỗi
ngày tôi ra đó cắt hai bao bố đạp xe chở
về cũng tạm đủ cho bầy thỏ ăn.
Măn
Năm Tập, chúng tôi đi thẳng lên Đà Lạt
để kịp ngày khai giảng năm học 1973-1974
ở Giáo hoàng Học viện. Các thầy Ḍng Phanxicô khá
tiếng Pháp, theo học các cha giáo sư nước ngoài
không khó. Chúng tôi đăng kư bao nhiêu được
nhận hết bấy nhiêu, trong khi mỗi Giáo phận
chỉ gửi được năm thầy mỗi
năm. Chúng tôi học ngoại trú nên không đ̣i hỏi
pḥng ốc. Hai chiếc xe Lambretta đưa các lớp khác
nhau đi và về giữa Học viện Phanxicô Du Sinh và
Giáo hoàng Học viện, cách nhau khoảng năm cây số.
Lớp chúng tôi chưa học hết chương tŕnh th́
biến cố 1975 xảy ra...
Thời
thế thay đổi, nhịp sống chúng tôi cũng thay
đổi. Anh em Học viện Du Sinh do Hạt Ḍng nuôi (Khi
ấy chưa
thành Tỉnh Ḍng). Bây giờ, từ 1975, không ai nuôi
được ai, mọi liên lạc bị cắt
đứt, đi lại khó khăn, xin di chuyển
đến vùng khác một thời gian ngắn, chúng
tôi phải
làm giấy xin phép tŕnh Tổ kư, đưa lên Phường
kư, vác lên Thành phố kư, chờ hai tuần sau Tỉnh
trả lời. Được giấy phép đi vài
tuần lễ, đợi mua được cái vé xe
cũng đă hết ba hoặc bốn ngày. Ngày ngày chúng
tôi ra bến
xe xếp
hàng từ hai ba giờ sáng, bị làm nhục và hành hạ
đủ kiểu, bảy giờ nhân viên bắt
đầu bán vé, bán được dăm ba người họ
đă
ra tuyên
bố hết vé. Nhân viên Bến xe đă bán vé chợ đen
tại nhà riêng. Tại Bến, họ chỉ bán
tượng trưng! Dân tại chỗ luôn trực sẵn
thành hai hàng dài trước quầy bán vé để giữ
chỗ, họ bán lại chỗ cho những người
cần đi thực sự. Ai may mắn mua
được cái vé xe quí hiếm, vui mừng lên xe
ngồi, dọc đường xe hư dừng lại
sửa chữa ba bốn lần. Cha Giám hạt Agnêlô Vũ
Văn Đ́nh lên xe khởi hành tại Đà Lạt từ
sáng sớm, về đến Sài G̣n đồng hồ
điểm bốn giờ sáng ngày hôm sau. Không
muốn phiền anh em, vả cũng sắp đến
giờ thức dậy, cha đứng chờ ngoài cổng
Tu viện cho đến lúc chuông. Kể cũng
khỏe hơn đi bộ. Chậm mà chắc!
Làm
rau chuyên nghiệp
Chúng
tôi phải tạm nghỉ học để lo chuyện
sinh nhai. Cha Giám sư Vương Đ́nh Khởi đặt
tôi làm Tổ trưởng Tổ sản xuất của
Học viện. Ngày lao động, tối đi họp.
Sau khi Bắc Nam nối liền, hội họp và học
tập liên tục. Họp tổ, họp khu phố,
họp phường, họp b́nh bầu, họp toàn dân,
họp đại diện... Dân chúng tham gia đông
đảo, v́ sợ nhiều hơn là v́ nhiệt t́nh. Các
cán bộ hầu hết ở rừng ra, trên bảo ǵ
họ về nói với dân như vậy. Nói phét nhiều
hơn nói thật. Chẳng hạn, khi Phạm Tuân
được đi chung với mấy nhà du hành Liên Xô
trở về, anh cán bộ đưa tin, vừa chắt
lưỡi vừa nói: “Đồng chí anh hùng Phạm Tuân
bay lên vũ trụ chụp biết bao nhiêu là ảnh đem
về, các nhà khoa học nghiên cứu không biết bao
giờ mới hết! Ảnh chụp được cho
thấy dưới chân chúng ta ngồi đây (Anh chỉ tay
xuống đất), toàn mỏ là mỏ, đất
nước chúng ta sẽ giàu to!”. Khi khác anh ta nói: “Chúng ta bán
một cây trúc nuôi được cả Tiểu đoàn”.
Khi dân nói một điều ngoài bài học sẵn có,
chẳng hạn dân hỏi: “Hai đảo Hoàng Sa và
Trường Sa bây giờ ai ở?”; hoặc dân “Đề
nghị cho sinh viên đi ra nước ngoài học tập
để về xây dựng quê hương”, anh cán bộ
khất sẽ trả lời sau...Cuộc họp lần
sau đó, có lẽ đă được chỉ đạo,
anh cán bộ trả lời: “Lần trước có
người hỏi về Hoàng Sa và Trường Sa. Các anh
biết ǵ mà hỏi? Các bạn Trung Quốc giữ giùm cho
chúng ta. Khi nào chúng ta cần, họ sẽ trả lại.
Tôi có thằng em ở ngoài đó mới gửi thư
về... C̣n chuyện gửi người đi học
nước ngoài: Chúng ta cần học ǵ ai. Họ phải
đến học chúng ta chứ. Hỏa tiễn Liên Xô cung
cấp cho chúng ta, chúng ta điều chỉnh lại nên
bắn xa hơn và hạ được máy bay B52 của
Mỹ. Cả thế giới phải khâm phục”.
Chuyện bồi thêm thuốc súng để bắn xa
hơn có thể tin được. Nhưng coi ḿnh nhất
thiên hạ, bản thân tôi cũng khâm phục tài “Nói không
biết ngượng miệng!”.
Được
giao công tác điều hành sản xuất, tôi bắt tay vào
việc. Đất Đà Lạt không trồng
được lúa, khí lạnh quá lúa không có hạt! Sau 1975,
có khi nhiệt độ Đà Lạt xuống mức 2
độ. Sáng sớm, một lớp sương muối
trắng xóa phủ trên các mái nhà tôn hoặc trên các đám
cỏ và rau. Nếu không tưới ngay cho bụi
nước đá ấy tan đi, nắng lên, rau cháy
hết lá. Lá rau lang cũng khô. V́ thế, sáng thức
dậy, thấy hiện tượng sương muối,
chúng tôi vội vàng chạy xuống vườn tưới
ngay, sau đó mới về rửa mặt và vào nhà
nguyện. Nhờ những giáo dân Du Sinh chuyên làm rau chỉ
dẫn từng chi tiết một, chúng tôi làm theo. Làm rau
vụ đầu tiên, tôi cảm thấy chán nản. Làm nông
ở quê tôi khỏe hơn nhiều. Tôi quen làm hoa màu ở
B́nh Giả: cày luống, gieo hạt, cây mọc chưa
đầy gang tay, gạt cỏ lần thứ nhất, cây
tốt gần hai gang, làm cỏ lần thứ hai và
đồng thời vun gốc luôn thể, ngồi chờ
ngày thu hoạch. Làm rau: rải phân chuồng, lật đất
lên, moi lỗ thẳng hàng, cách nhau thật đều,
đặt cây con xuống, lấp gốc lại. Phải
tưới
liên tục giữ cho lá những cây mới
trồng đừng khô, hai tuần sau cây đứng, đến
lượt xăm đất quanh gốc, mồi phân hóa học.
Khi cây tốt, chúng tôi lại phải nĩa
đất dọc theo đường rănh giữa các
luống, rải phân xác mắm trộn phân hóa học lên
luống theo từng loại rau (ăn củ,
ăn lá hay ăn trái), xúc đất dưới rănh phủ
lên lấp phân, tưới nước đều
đặn, xịt thuốc sâu, thuốc dưỡng cây,
thuốc chống nấm...Ôi phức tạp làm sao!
Làm
rau, vốn đầu tư ban đầu khá cao. Sợ
chúng tôi không dám theo đuổi, những người
chỉ dẫn cứ trấn an: “Không hết bao nhiêu đâu!”.
Cần đến đâu, họ kêu chúng tôi đi mua
đến đó, thay v́ nói chúng tôi mua đủ một
lần. Trong khi đó, tôi cứ vào thầy quản lư xin
tiền hoài cũng ngại. Mỗi lần vào xin tiền
đi mua phân hoặc dụng cụ, thầy J.B. Thái lại
giở sổ ra, gọi tôi lại gần và chỉ: “Anh coi
này! Cứ bỏ ra không mà chưa thu vào được ǵ
cả!”. Chán thật! Mới bắt đầu làm chưa
đủ thời gian đă đ̣i thu hoạch rồi. Các
loại rau hầu hết đ̣i hỏi thời gian tối
thiểu ba tháng trở lên mới cho kết quả. Lứa
rau đầu tiên của chúng tôi là 3.000 cây bắp sú. Nếu
thất bại, mất số vốn đầu tư
lớn như thế, chắc chắn không ai trong cộng
đoàn dám cho đầu tư tiếp nữa. Chẳng may,
trời mưa liên tục, đất sét trên một băng
đất śnh không bao giờ ráo nước. Bắp sú
thối rễ hết một nửa! Số c̣n lại
nằm rải rác khó chăm, các giáo dân cố vấn bàn
với nhau bứng lên dồn chúng lại một phía. Chúng
tôi dùng giá xúc xắn cả đất lẫn gốc
chuyển về trồng vào chỗ những cây chết.
Đám rau bây giờ c̣n lại một nửa. May thay,
trời bớt mưa. Số cây c̣n lại sống cả.
Những cây bắp sú thật to và đẹp. Đến
ngày thu hoạch, nhà buôn vào trả giá: “450.000, 00
VNĐ”
(Bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Đó
là một số tiền lớn thời ấy! Lần
đầu tiên cộng đoàn Du Sinh làm ra số tiền
lớn như thế. Ai nấy phấn khởi. Tinh
thần lao động tăng cao. Có lẽ để
thưởng công, cha Giám sư Vương Đ́nh Khởi
cho tôi trở lại học tiếp ở Giáo hoàng Học
viện, bấy giờ ḥan ṭan do các cha Việt Nam
đảm trách, v́ các cha giáo sư nước ngoài
đều đă bị trục xuất ra khỏi Việt
Nam. Trước đây chỉ một ḿnh Anh Vũ Phan Long đi học.
Số anh em khác vẫn ở nhà tiếp tục lao
động.
Chẳng
bao lâu sau, chúng tôi mau chóng trở thành những người
làm rau chuyên nghiệp. Chúng tôi trồng đủ mọi
thứ rau: bắp sú, sú lơ, cà rốt, khoai tây, cải
củ, su hào, đậu ḥa lan, cà chua, cải thảo, xà
lách, dâu tây...và các loại bông. Khổ nỗi! Thời bao
cấp, Nhà nước không có đủ xe chuyên chở.
Một đám bắp sú thu hoạch được năm
hay sáu tấn, chúng tôi phải đăng kư bán cho Nhà
nước theo luật hợp đồng hai chiều (Nhà
nước bán lại cho các thứ lương thực
khác). Chúng tôi chờ đợi ba bốn ngày mới
được chặt năm hoặc sáu tạ.
Được báo tin, dù đang ngủ cũng phải
vội vàng thức dậy đi chặt sú cho kịp xe
đến bốc. Có khi chúng tôi phải gánh rau đi tập
kết ở một nơi cách xa vườn chúng tôi. Nh́n
thấy chúng tôi gánh những bắp sú to lớn, những
nhà vườn lâu đời phải thốt lên: “Mấy
ông thầy làm có sách!”. Bắp sú, cải thảo chúng tôi
trồng mỗi bắp trung b́nh nặng năm hoặc sáu
kư. Loại tám kư một cây cũng không ít.
Rau
đến ngày thu hoạch không thể để kéo dài lâu
trên vườn, nhất là xà lách. Càng kéo dài, chúng nó càng
thối, số lượng càng hao. Nhiều khi chờ xe
không có, nóng ruột quá, chúng tôi phải bán “chui”. Bán chui là bán
ngoài hệ thống: Khoảng từ 10 giờ đêm
đến 2 giờ sáng, trời mưa lất phất,
chúng tôi gánh rau chạy đoạn đường 3 cây
số từ nhà đến chợ để bán. Nếu
không may bị bắt, số rau ấy có thể bị
tịch thu không thương tiếc!
Ngoài
việc phân công cho anh em, chỉ đạo mọi kế
hoạch làm ăn, tôi c̣n phải lo giao dịch đối
ngoại, đại diện Tu viện đi tham gia các
cuộc họp, học tập ở mọi cấp từ
Tỉnh, Thành đến Phường, Khóm. Nhiều khóa liên
tiếp, làm Phó Phụ trách cộng đoàn Phanxicô Du Sinh, tôi
phải thay cha Phụ trách Phi Khanh Vương Đ́nh
Khởi lo việc nhà để cha đi lo việc các xơ
Ḍng Mến Thánh giá, theo ư của Đức Tổng Giám
mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh. Ơn gọi Mến Thánh
giá nơi cha Khởi mạnh hơn ơn gọi Phan sinh,
cha đi liên tục, tháng này qua tháng khác, năm sau tiếp
năm trước. Cũng thông cảm cho cha: cha có tinh
thần trách nhiệm cao, thương những ai đáng
thương hơn. Cha đi t́m tài liệu, nghiên cứu tài
liệu, quy tụ các Bề Trên cao cấp của các
Hội Ḍng Mến Thánh giá khác nhau, nghe ngóng tỉ mỉ
lời thỏ thẻ của từng chị em để
giúp viết lại Bản Hiến Chương lịch
sử Ḍng Mến thánh giá. Nghe quá nhiều và quá chú ư lắng
nghe những lời nhỏ nhẹ rung rinh tựa tơ
vàng, đôi tai cha không c̣n khả năng nghe những
giọng nói b́nh thường của anh em! Viết về
ḿnh mà nói nhiều về người khác ắt không nên. Tôi
quay lại chuyện làm ăn. Nghề làm rau vất vả
và mau mất sức. V́ sử dụng phân hoá học
nhiều nên đất mau chai, liên tục phải thay
đất mới: Đào và gánh đất nơi khác
về đổ trộn với đất cũ. Rau
sống trên phân nhiều hơn trên đất. Phân,
thuốc trừ sâu...đều hiếm, phải sáng
chế ra đủ kiểu cách để bù trừ. Chúng
tôi đi lùng phân chuồng khắp nơi. Có những
chuồng ḅ mái dột, chủ không cắt được
cỏ khô lót chuồng, bước vào phân ngập
đến đầu gối. Chúng tôi phải múc từng xô chuyền
đổ lên xe. Trên đường về, mỗi lần
gặp ổ gà, xe lắc một cái, phân nước
văng rớt xuống bắn tung tóe lên áo quần
người đi đường. Đó là những
dịp quư báu để có thêm nhiều kinh nghiệm về
phản ứng của người thế gian. Tuy
nhiên, những người Công giáo nhận ra chúng tôi, sự
phản ứng của họ không đến nỗi dữ
dội lắm. Có lẽ họ thấy áo quần chúng tôi
cũng đầy phân gấp mấy họ, họ dễ
thông cảm.
Chăn
nuôi gia súc
Cha
thánh Phanxicô cấm anh em nuôi súc vật trong nhà: “Tôi truyền
cho tất cả anh em, giáo sĩ cũng như giáo dân, khi
đi ra giữa đời hay lưu lại nơi nào, không
được nuôi súc vật, bằng cách này hay cách khác,
trong nhà ḿnh hay nơi nhà người khác” (L Ksd XV).
Nếu sống thời đại hôm nay, lệnh cấm
ấy có được duy tŕ không, nhưng các cộng
đoàn Phanxicô chúng tôi vẫn chăn nuôi một số con
như gà, vịt, heo, cá và ḅ...Tại cộng đoàn Du Sinh,
chúng tôi đă phát triển chăn nuôi khá mạnh.
Đúng
là giai đoạn vừa học vừa làm đúng nghĩa:
chúng tôi làm rau, hoa; chúng tôi chăn nuôi, chúng tôi tiếp
tục theo học chương tŕnh Thần học lưu
động. Ngay từ những ngày đầu thống
nhất Nam Bắc, các cha các thầy nước ngoài bị
buộc rời khỏi Việt Nam. Tại Giáo hoàng Học
viện, các cha Việt Nam thay thế, mở lại các
lớp học. Nghe thông báo ở đâu dạy môn chúng tôi
chưa học, chúng tôi đến học môn đó, dù
được dạy ở Giáo hoàng Học viện,
Chủng viện Minh Ḥa hay Học viện Boscô. Tôi
được gọi chuẩn bị khấn trọn vào
ngày 03-10-1976 cùng với anh Phanxicô Vũ Phan Long. Mọi
sự sắp đặt xong xuôi. Thánh lễ sẽ
được tổ chức tại Nhà thờ Giáo xứ
Du Sinh. Sát ngày khấn, đùng một cái, anh Long nhận
được giấy gọi đi quân dịch. Cha Agnêlô
Đ́nh áp dụng Giáo luật, anh Long phải ngưng
khấn hứa! Tôi khấn một ḿnh. Cuộc khấn
trọng thể không có một tấm h́nh lưu niệm
nào, phía gia đ́nh chỉ có hai đứa em tham dự. Tôi
nhận chức Phó tế cùng một số thầy khác
tại Giáo hoàng Học viện một tháng trước khi
chịu chức Linh mục, cũng không một thân nhân nào
tham dự.
Trong
t́nh h́nh khó khăn của thời gian Quân quản, chẳng
có ǵ rơ ràng. Cha Giuse Vơ Đức Minh là Thư kư Ṭa Giám
mục Đà Lạt. Cha cũng là cháu Đại
tướng Vơ Nguyên Giáp nên cũng được kính
nể thời đó. Cha Minh đại diện Ṭa Giám
mục liên hệ với chính quyền. Phía chính quyền
không kư văn bản nào chính thức, nhưng chấp
nhận ngầm các đề xuất của Ṭa Giám mục
qua cha Vơ Đức Minh. Đợt chịu chức linh
mục của bốn anh em Phanxicô chúng tôi cùng với sáu
thầy bên Chủng viện Giáo phận, cha Vơ Đức
Minh đi gặp Chủ tịch Ủy Ban Quân Quản, nghe
nói ông Chủ tịch trả lời như sau: “Về tôn
giáo, chúng tôi chưa nhận được chỉ thị
mới nào. Trước đến nay, các ông làm thế nào,
các ông cứ thế mà làm, nhưng đừng làm rầm rộ
bề ngoài làm ǵ”.
Nhận
được trả lời miệng như thế,
nhưng không giấy tờ, biết đâu lại là cái
bẫy? Người ta trở bàn tay không khó ǵ. Nhưng
Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm đánh liều.
Theo cảnh giác đề pḥng, Đức cha đă
chuẩn bị tinh thần để trả giá, sẵn
sàng dù phải vào ngồi tù. Ban đầu dự kiến
bốn thầy bên Phanxicô và sáu thầy Chủng viện cùng
chịu chức cùng ngày 25-01-1977 tại Chủng viện
Giáo phận. Nhưng để Phanxicô di chuyển
sang Chủng viện, chiếc xe Lambrretta của Phanxicô
ồn quá, có nguy cơ làm bại lộ vụ việc.
Đức cha quyết định tách ra: Sáu thầy
Chủng viện chịu chức ngày 25 tại Chủng
viện, bốn thầy Phanxicô chịu chức ngày 26
tại Tu viện Phanxicô. Ba anh Long, B́nh, Minh nhận chức
Phó tế chiều 25-01, một đêm
trước ngày chịu chức linh mục. Cuộc lễ
phong chức linh mục của chúng tôi cũng đơn
sơ giản dị: ngoài anh em trong nhà, chỉ có vài cha
đi theo Đức cha, vài đại diện của Giáo
xứ Du Sinh, hai xơ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ.
Thân nhân của bốn cha mới nằm ở số “không”.
Tôi
thuộc số linh mục được Đức cha
Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm phong chức trong thời gian Quân
quản sau biến cố 1975 (26-01-1077),
đó là đợt cuối cùng, v́ sau đó Chính quyền Lâm
Đồng ra lệnh cấm rơ ràng Đức cha không
được phong chức linh mục nữa. Họ
dọa nếu c̣n tiếp tục, họ sẽ bắt
Đức cha! Phải đợi mười năm sau Giáo
phận Đà Lạt mới có một đợt phong
chức linh mục khác, chính thức có giấy phép của
Chính quyền. Tôi đồng thời cũng là linh mục cuối
cùng (Sau 18 năm chịu chức)
được Chính quyền Tỉnh Lâm Đồng công
nhận (Trong văn bản gọi là công nhận
chức năng linh mục, không biết họ lấy
quyền phép ai để công nhận thánh chức trong
Hội Thánh?). Chính quyền Lâm Đồng coi đó như một phần
thưởng họ dành cho Đức cha trước khi
Đức cha ra Thanh Hóa nhận Giáo phận mới.
Khi
chưa được công nhận, chúng tôi thi hành chức
linh mục cách âm thầm, đi làm lễ tại một
số cộng đoàn nữ tu. Nhà Nước chỉ bán
cho 8 kg gạo mỗi tháng trong khi các linh mục chính
thức được mua 12
kg. Không sao, chúng tôi nấu ăn chung, người chỉ
được 8 kg mà khỏe vẫn ăn nhiều hơn
người được 12 kg mà yếu. Tại các
buổi họp và học tập liên quan đến tôn giáo,
Nhà Nước phân biệt rơ ràng giữa hai loại linh
mục: Lúc điểm danh, họ xướng: “Linh mục
Vơ Đức Minh – Có; Linh mục Vương Đ́nh
Khởi – Có”, c̣n đến lượt chúng tôi, họ
xướng: “Ông Đinh Huỳnh Hoa – Có; Ông Vũ Phan Long –
Có”. Họ gọi chúng tôi là “Tu sĩ có tŕnh độ”
để phân biệt với các Tu sĩ không linh mục
khác. Các đợt tĩnh tâm linh mục Giáo phận, trong
tờ đơn xin phép, Ṭa Giám mục phải ghi tên chúng
tôi vào danh sách thành phần phục vụ Tuần Tĩnh
tâm. Thực tế, chúng tôi chẳng phải phục vụ
ǵ. Chúng tôi được bố trí một pḥng riêng, nghe bài
giảng qua “loa” chứ không được thấy mặt
người giảng!
Trở
lại việc chăn nuôi. Các vật nuôi của chúng tôi
đa dạng, cũng có lúc chạy theo phong trào. Cha Hoàng Gia
B́nh và cha Đậu Văn Minh cũng có nhiều kinh
nghiệm về chăn nuôi, nhất là nuôi heo. Cha B́nh nghe
theo thiên hạ, trộn urê vào cám heo, heo mau lớn và da
đẹp bóng láng, nhưng đến ngày phải bán
gấp không th́ khốn. Heo đó làm thịt, nấu ra
nước gần hết, không được mấy tí nạc!
Cũng có lúc cha cho heo ăn lá cần sa, heo ăn cám
khỏe và chóng lớn. Khi hết lá cần sa
hoặc ngưng trộn lá cần sa vào thức ăn, heo bỏ
ăn, luôn nghếch mơm lên trời chờ
đợi mơ hồ, đứng không vững và teo
lại mau chóng. Nhưng kỷ niệm nên lưu lại
về nghệ thuật chăn nuôi của cha B́nh, đó là
chuyện “Bầy heo than”. Ngày kia, heo nái cha B́nh cho ra
đời bầy heo con rất đẹp. Con nào con
nấy khỏe mạnh và chạy nhảy tung tăng. Cha
B́nh thương heo, chăm sóc kỹ lưỡng. Ban
đêm, sợ heo lạnh, cha mang vào chuồng một thùng
gỗ lớn, rải dưới nền một lớp
trấu thật dày, cha đặt một cái chảo to
ở giữa (Loại chảo nấu cơm
cho trên 20 người ăn), trong chảo cha chất
đầy mạt cưa và củi. Cha châm lửa vào
chảo mạt cưa, đặt bầy heo con nằm chung
quanh chảo, bảo đảm heo không thể chạy ra xa
được v́ đă có thùng gỗ vây quanh. Sáng ra, cha B́nh
vào chuồng thăm heo, tám chú heo con đă là tám cục than
đen ś! Chảo nóng đỏ rực khiến lửa cháy
lan ra cả lớp trấu bên ngoài! Bầy heo non
dại đă hóa thành than trước khi chiếc thùng
gỗ cũng thành than!
Một
chuyện khác đáng nói về cha B́nh: Sáng sớm kia, cha
đi làm lễ cho cộng đoàn chị em Phan sinh Thừa
sai Đức Mẹ ở đường Cô Giang Đà
Lạt. Đến đầu dốc Ga xe lửa (Nay đă
được sửa sửa lại bớt dốc
hơn), sức mạnh nào thu hút, cha rướn ḿnh
đạp dốc tiến lên. Một nàng tiên ngồi xe
đạp từ trên dốc lao xuống. Hôm đó
sương mù dày đặc, hai bên không thấy nhau.
Bỗng “rầm” một tiếng xé tan màn đêm tĩnh
lặng. Trán cha bể chút xương lơm sâu vào một
lỗ. Môi cô nàng dập, máu ra lênh láng. Cả hai nằm sát
nhau. Mặt giáp mặt, cô gái tấn công trước:
“Trời tối thế này mà anh c̣n đeo kiếng!”. H́nh
như đó chỉ là một lời tỏ t́nh âu yếm?
Cha
Phêrô Đậu Văn Minh chăn nuôi có tiến bộ
hơn. Cha rất thương súc vật. Heo đẻ, cha
mắc vơng nằm ngủ với heo. Mỗi lần cho heo
con bú, cha bắt từng con đưa miệng chú vào
từng vú một và dỗ dành: “Bú đi con! Bú đi con!”.
Thấy chú heo bé nhỏ bỏ vú này, miệng eng éc chạy
đi t́m vú khác, cha bắt quay lại. Quá tam ba bận, cha
túm con heo cứng đầu ném vào vách chuồng xây bằng
đá chẻ, máu miệng máu mũi trào ra. Chú heo ngoan ngoăn
vâng phục, chỉ nằm im một chỗ, thở ra kḥ
khè: “Dạy con từ tuổi c̣n thơ” là thế.
Chúng
tôi đă nuôi thí nghiệm nhiều bầy ḅ khác nhau, bầy
này không đạt, chúng tôi thay bầy khác. Nuôi ḅ chủ
yếu để lấy phân làm vườn, và có thêm bê con
th́ cũng thêm kinh tế cộng đoàn. Thấy bầy ḅ
người ta ngày ngày dẫn đi ngang trước
cổng Tu viện béo úc núc, lúc nào cũng có năm, sáu con bê
con thật đẹp. Cuối cùng chúng tôi cũng đă mua
được nguyên ṭan bộ bầy ḅ mơ ước
ấy.
Từ
khi vào tay chúng tôi, bầy ḅ ốm dần, ít đẻ, vài
con bê hiếm hoi chào đời th́ phải chăm sóc y
tế liên miên. Thay phiên nhau, mỗi anh đi chăn ḅ
một tuẩn. Anh gốc Nghệ An, Hà Tĩnh th́
điều khiển ḅ bằng tiếng “tắc (Sang phải), ŕ (Sang trái)”; Anh
gốc Quảng Ngăi th́ dùng tiếng “ví (Sang phải), thá (Sang trái)”.
Khả năng ngoại ngữ của ḅ không cao, sau một
thời gian, nghe người chăn truyền lệnh, bầy
ḅ chạy lung tung, con này sang trái, con khác sang phải!
Được
giới thiệu, chúng tôi t́m mua một con ḅ Ấn
Độ, to cao nhất trong số ḅ hiện có ở
Đà Lạt. Ả cho chúng tôi một chú bê đực xinh
xắn khỏe mạnh, nhảy nhót tung tăng. Cha Minh
cưng chú lắm, lấy alcool 90 độ sát trùng rửa
rốn chú hàng ngày. Chúng tôi chẳng thấy con vi trùng nào dám
đến bám rốn chú, nhưng thấy rốn chú lở
loét và có gịi. H́nh như chú bê con không cảm thấy đau
đớn ǵ, chú vẫn vui đùa nhảy nhót. Gọi thú y
đến chữa, chúng tôi được
biết khoa học gọi hiện tượng đó là
“hoại tử”. Alcool làm da non cuống rốn hoại
tử! Chẩn đoán xong, thú y ra tay trổ tài điệu
nghệ: lau kỹ càng sạch sẽ vết thương,
chích cho chú một mũi thuốc. Rút kim ra, chú bê con lăn
đùng ra giẫy dụa, thở kḥ khè. Thú y vội vàng cho
là do chúng tôi cho chú bê ăn mày bắp nên bị sặc. Ông chích thêm mấy
mũi thuốc khác rồi hẹn ngày mai ông
sẽ đến
lại. Sáng hôm sau, ra chuồng thăm, chú bê đă an
nghỉ ngàn thu hồi nào! T́m dưới đất, chúng
tôi lượm được bốn cái vỏ thuốc
Atropin. Th́ ra, thú y chích kháng sinh nên gây “sốc” phản
vệ, ông biết lỗi nên giải thuốc
bằng bốn lọ Atropin mà cũng không cứu văn
được t́nh thế. Kinh nghiệm cho thấy:
Cưng con hóa ra hại con.
Theo
phiên, tôi cũng nấu ăn, chăn ḅ, dù có người
đề nghị cho tôi nghỉ, v́ lúc đó tôi làm Phụ
trách cộng đoàn. Một hôm, tôi đang canh giữ cho
đàn ḅ ăn trước cổng Tu viện, hai thầy
Ḍng Thánh Tâm Hố Nai đến thăm. Các thầy ghé
gần tôi hỏi: “Chú ơi! Có cha Bề trên ở nhà không
chú?”. Tôi trả lời: “Thưa có!”. “Giờ này có gặp
được không chú?”. Tôi đáp: “Được, xin
mời chạy thẳng vào trong nhà”. Tôi vào theo sau. Gặp
tôi ra tiếp, một thầy thốt lên: “Xin lỗi cha! Xin
lỗi cha! Chúng con có mắt mà như mù. Cha cho chúng con
một bài học”. Tôi chẳng hiểu tôi đă cho bài
học ǵ, chỉ thấy các thầy cứ tỏ ra áy náy
lương tâm suốt buổi tiếp chuyện hôm ấy.
Cơn sóng gió
Vụ
đổi tiền xảy ra trong lúc vắng chủ nhà (họ
Vương Đ́nh), cả nhà bối rối. Mọi
sự cũng trôi chảy êm xuôi. Nhưng trời bỗng
nổi sóng: Sau ngày đổi tiền, Công an lần
lượt mời nhiều giáo dân ra đồn Công an làm
việc. Cuộc điều tra xuay quanh chuyện nhà Ḍng có
nhờ ai đổi tiền giùm không. Ai hay đi lại
với nhà Ḍng đều được
chiếu cố. Trong thời gian điều tra, Công an
cấm không ai được liên lạc với nhà Ḍng.
Những lời đe dọa có kết quả. Những người
làm việc với Công an trở về im thin thít.
Người dám vào gặp các cha là một người
vẻ hốt hoảng sợ hăi cho biết: “Con bị Công
an đánh đập! Họ dí điện xỉu
lên xỉu xuống, đau quá nên con đă khai...”.
Chúng tôi họp cộng đoàn lại, quyết định
không để giáo dân phải khổ. Tôi sẵn sàng
nhận hết trách nhiệm. Các anh em khác nếu bị
điều tra, cứ dồn hết cho tôi. Tôi chấp
nhận vào ngồi tù mấy tháng.
Sự
việc không đơn giản. Đó là giai đoạn Nhà
Nước t́m mọi cách để chiếm đoạt
các cơ sở tôn giáo. Có thể kết tội th́ cho
chủ nhà đi tù, giải thể những người c̣n
lại, tịch thu nhà cửa và đất đai. Không có
tội th́ dàn dựng những t́nh huống để có
thể kết tội. Ban đêm chỉ cần cho
người giả dạng làm Fulrô vào Tu viện gơ cửa
xin gạo, xin sách...Đem gạo ra đương nhiên
mắc tội tiếp tế cho Fulrô. Ngay chuyện sáng hôm
sau nếu không mau mắn đi khai báo Công an, thế cũng
đă đủ lư do để bị kết tội! Thành
phố Đà Lạt đă giao cho Lâm Trường một
khu đất sát cổng Tu viện. Khu đất ấy
cũng là đất thuộc Giáo xứ Du Sinh. Họ
mở một xưởng cưa ở đó. Mặt
bằng không rộng lắm, mỗi lần chở cây
gỗ từ rừng về, họ phải chất
ngổn ngang choán cả lối đi. Từ lâu họ
đă ḍm ngó với vẻ thèm thuồng khu vườn
bằng phẳng của Tu viện Phanxicô. Phải chăng
đây là cơ hội?
Cha
Hoàng Gia B́nh, do lời khai của ông Trực, được
mời lên Công an Thành phố làm việc và bị giữ
lại luôn trên đó hai tuần. Số tiền cha B́nh
nhờ ông Trực đi đổi, cha nhận là của bà
con gửi nhờ xây mộ cho một người thân.
Tiền đă bị tịch thu, cha c̣n phải về nhà
đóng một cây thánh giá gỗ đi t́m cắm vào một
ngôi mộ vô danh nào đó, pḥng hờ khi Công an đi xác minh,
cha có mộ để chỉ. Sau khi lấy lời khai
của 12 cá nhân vừa giáo dân vừa lương dân, tôi
được mời với tư cách là người thay
chủ hộ. Cha B́nh được tạm cho về nhà.
Dân thường làm việc ở Công an Phường, tu
sĩ làm việc ở Công an Thành phố. Tôi
được mời cuối cùng, sau khi họ đă
nắm chắc cơ sở để buộc tội. Tôi
được mời lên Pḥng Công an chính trị. Một
người giáo dân buột miệng: “Bây giờ bắt
đầu chiếu tướng”.Với những chứng
cớ họ có trong tay, do khai thác được từ 12
người kia, họ đă coi tôi như một tội
phạm không thể chối căi.
Bước
vào đồn Công an giống như bước vào nơi ám
khí. Không khuôn mặt nào tỏ vẻ thân thiện. Mặt
nào cũng hằm hằm sát khí. Tôi thử bắt
chuyện, nhận được câu trả lời cộc
lốc: “Anh làm việc với ai?”. Anh khác: “Anh Hùng sẽ làm
việc với anh”. Quả thế, người chịu
trách nhiệm điều tra về tôi là anh Hùng, một Công
an tự xưng là người gốc Nghệ An. Anh
nhận là đồng hương với tôi, có thể giúp
tôi nếu tôi hợp tác và khai đúng sự thật
(Tin ư?).
Bắt
đầu làm việc, anh Công an tự giới thiệu
về ḿnh vài câu, tiếp đến anh vào đề ngay
bằng giọng khủng bố tinh thần. Anh ra lệnh
cho tôi: “Trước hết yêu cầu anh bỏ kính
xuống. Bây giờ anh đang làm việc với chính
quyền. Tôi là đại diện cho chính quyền. Anh
phải nghiêm túc”. Anh Hùng ngồi trên chiếc ghế
dựa b́nh thường, cách một cái bàn nhỏ, tôi
ngồi đối diện. Ghế dành cho tôi là một khúc
gỗ tṛn, thấp. Mới ngồi vào, tôi phải cử
động người cho hợp vị trí, anh Công an
mắng ngay: “Yêu cầu anh ngồi ngay ngắn, lịch
sự! Anh quen ngồi như thế với giáo dân của
anh rồi à? Tại sao lần trước đă gửi
giấy mời mà anh không lên? Nguyên chuyện đó chúng tôi
đă có thể cho xe đến bắt anh!”. Tôi trả
lời: “Tôi chưa nhận được giấy mời
nào cả. Chiều hôm qua nhận được giấy
mời, hôm nay tôi lên ngay”. Giấy mời lần
đầu, nhưng trên đó đă ghi: “Mời lần
thứ hai”. Chẳng qua, đó cũng chỉ là lời hù
dọa thôi. Lời người chạy về phao tin
bị đánh đập, dí điện cũng chỉ là
lời hù dọa. Chưa ai bị đánh đập hay dí
điện cả. Anh Công an giả bộ tỏ vẻ
thông cảm: “Hôm đó đă giao cho anh...cầm về (Anh ta
nghĩ ngợi...làm như không nhớ tên người
chuyển thư mời, thực ra làm ǵ có ai!) Rồi anh nói
tiếp: “Thôi được, bây giờ chúng ta vào
đề. Anh cho biết rơ ràng, ngày hôm đổi tiền,
anh ra khỏi nhà lúc mấy giờ, đi với ai, đi
con đường nào, trên đường ghé vào những
nhà nào, gặp những ai, anh trở về đường
nào, gặp những ai, mấy giờ, về đến nhà
anh làm ǵ? Anh phải nói đúng sự thật...”.
Tôi
ngồi kể hết đầu đuôi, anh Công an ghi chép.
Suốt ba ngày đầu, ban sáng họ lấy khẩu cung,
sau đó tôi phải ngồi chép lại ra giấy; sau
nghỉ trưa, Công an nhận xét về tờ khai từng
chi tiết một, kết luận: “Khai chưa đúng! Yêu
cầu viết lại cho đúng và đầy đủ”.
Chiều, tôi phải viết lại tờ khai. Tôi viết
đi viết lại sáu tờ khai về hành tŕnh đi đổi
tiền của tôi, sáu tờ khai h́nh thức viết khác
nhau, nhưng nội dung chỉ là một. Một đàng,
tôi dứt khoát khẳng định tôi đi một ḿnh
để tránh liên lụy đến người thứ
ba, tôi cũng không nhờ ai đổi...đàng khác, tôi
phải dùng lư luận bác hết những lời khai của
mười mấy người kia nếu chúng không phù
hợp với lời khai của tôi. Rất khó mà khai
khớp với nhau, v́ giáo dân nghe lệnh cấm của Công
an, không ai dám vào gặp hoặc nhờ người báo cho
chúng tôi biết họ đă khai những ǵ, khai như
thế nào. Ngay cả khi hai bên đối chất nhau
trước mặt Công an, bên nào cũng tự ái nên bảo
vệ lời khai của ḿnh trước đó, gây bất
lợi cho tôi. Chẳng hạn, tôi khai khi ra khỏi cổng Tu viện, tôi ghé rủ
ông Có, nhưng ông bận, ông bảo tôi cứ đi
trước, ông đi sau (Điều đó có
thật). Nhưng ông Có đă lỡ khai tôi không hề
gặp ông, không ai rủ ông đi hết. Khi Công an mời
ông lên đối chất với tôi, tôi gợi cho ông
nhớ lại một số t́nh tiết: hôm đó có ông Toan
ở nhà ông, hai ông đang làm thịt con ǵ đó. Ông Có
nhất mực giữ lời khai cũ. Công an kết
luận: “Thấy chưa, người ta là người dân
chân chất, có thế nào người ta khai thế ấy.
C̣n anh, ngay từ đầu anh đă gian dối!”. Sai hóa
đúng, đúng thành sai. Trong con mắt thù hận của
Công an, linh mục đồng nghĩa với gian dối,
lười biếng, ăn bám quần chúng, bóc lột nhân
dân và nhiều điều xấu xa khác!
Ông Có
là một láng giềng lương dân. Có thể ông
được hưởng lợi lộc vật chất
khi quan hệ với chính quyền. Ông có sạp bán
hàng ở thác Cam Ly. Khi mọi sự đă lùi vào dĩ văng
khá lâu, ông Có thú nhận: “Tôi nhớ hồi đi đổi
tiền, h́nh như cha Hoa có ghé nhà rủ tôi đi”. Lời
nói thật muộn màng ấy không c̣n giá trị và
chẳng giúp ích ǵ nữa! Một anh thanh niên giáo dân Du Sinh
đă lỡ khai: Trên đường đi đổi
tiền, anh đi xe đạp, gặp tôi đi chung
với mấy người khác, h́nh như là người Tổ
54 (Tổ 54 nằm trên đồi Du Sinh
giáo dân toàn ṭng, Tu viện Phanxicô trước đây
thuộc Tổ đó). Khi đối chất với tôi,
nghe tôi khẳng định đi một ḿnh, anh không
biết phải nói thế nào, anh đành nói anh thấy “h́nh
như vậy”. Dựa vào hai chữ “h́nh như” ấy, tôi xác
quyết với Công an lần nữa: “Anh Tuấn đi xe
đạp, tôi đi bộ. Anh đi ngang qua tôi, nếu anh
nh́n từ phía sau mà biết đó là mấy người
Tổ 54, chắc chắn anh biết tên họ, v́ giáo dân Du
Sinh không xa lạ đối với anh. Nếu anh đi qua
và anh quay lại, anh phải nhận ra mặt họ.
Vậy mà anh chỉ nói “h́nh như”, anh không nêu tên
được ai. C̣n tôi, tôi khẳng định: “Tôi đi
một ḿnh. C̣n ngày đổi tiền, người đi
người về đông đúc, anh Tuấn gặp tôi lúc
tôi đi ngang qua những người khác hoặc những
người khác đi ngang qua tôi, đó là chuyện b́nh
thường”. Trong các vụ án, lời khẳng
định bao giờ cũng mạnh hơn những
lời thiếu chắc chắn: “h́nh như, có lẽ...”.
Khó
gỡ cho tôi nhất, đó là trường hợp một
bà giáo dân Du Sinh đă khai bà đổi tiền cho tôi.
Một lời khai thẳng thừng như thế khó
bề chối căi. Sự kiện xảy ra như sau: Bà
Lập (Tuổi trên 70), ôm tiền sang Vạn
Thành nhờ bà Phiến đổi giùm. Hai người bà con
nhau. Bà Phiến mấy ngày trước sang bà Lập
mượn tiền, bà Lập không có tiền cho
mượn. Nay bà Lập lại đưa tiền sang
nhờ đổi, bà Phiến nói: “Chắc tiền cha Hoa
đây”. Bà Lập im lặng. Công an đă làm việc với
bà Phiến. Họ c̣n lên Đại học Đà Lạt
lấy lời khai của anh sinh viên tên Bắc, con nuôi bà
Phiến. Anh Bắc thú nhận khi ấy anh ở trên gác,
nghe các bà ở dưới nói đổi tiền cho cha Hoa.
Ra trước Công an, có lẽ bà Lập không c̣n hồn vía,
phần khác thấy quá nhiều người lên Công an, bà
nghĩ đàng nào tôi cũng có tội rồi, bà dồn cho
tôi thêm một tội để cứu người khác
chăng? Khi được mời lên đối chất
với tôi trước mặt
Công an, bà vẫn giữ lời khai của bà, bà tỏ
ra bực bội khi tôi bác bỏ lời khai ấy. Tôi
hiểu bà như muốn khuyên tôi cứ nhận đi,
về nhà bà sẽ bù lại cho. Bà chỉ nghĩ đơn
sơ như thế...Công an cũng kết tội tôi
trước mặt bà Lập như đă kết tội
trước mặt ông Có. Đối với họ, tôi
mới là người gian dối, c̣n ngoan cố nữa.
Trong vụ này, họ tin người nói sai hơn tin
người nói thật. Tôi biết chắc chắn như
thế.
Mặc
dầu Công an cấm tôi trong thời gian làm việc này
tuyệt đối không được liên lạc với
ai, họ c̣n cảnh cáo nếu tôi hăm dọa ai, hăy coi
chừng. Tôi viết một lá thư kể lại vụ
việc giữa bà Lập và tôi. Trong thư, tôi mạnh
mẽ nói: “V́ lợi ích của Ḍng và v́ danh dự của
linh mục, không bao giờ tôi nhận tội vô lư như
thế”. Thư được bí mật chuyển
đến các con bà Lập. Cả nhà mới vỡ lẽ:
cả tuần mẹ họ bần thần, bỏ ăn
bỏ ngủ, người ốm đi, bà cứ im
lặng, không ai biết chuyện ǵ. Bây giờ rơ chuyện,
chị em khóc lóc chạy vào xin lỗi Nhà Ḍng. Sau đó,
được sự hướng dẫn của các cha,
mẹ con dắt nhau lên Công an “phản cung”. Bà nhận bà
khai như thế v́ sợ hăi khi Công an đe dọa.
Mười
hai ngày làm việc với Công an chính trị. Hết nghe
lại viết, viết xong lại được lệnh
ngồi suy nghĩ cho kỹ. Thay v́ suy nghĩ, tôi ngồi gục
đầu lên bàn ngủ. Tôi liền bị la: “Anh kia,
gọi anh lên đây làm việc, chứ lên để
ngủ hả?”. Ngày họ làm việc, mỗi Công an thụ
lư một vụ. Chiều đến, họ làm việc
chung với nhau và nghe chỉ đạo. Nhờ nhớ câu:
“Khi ra trước Ṭa, anh em đừng lo nghĩ phải
nói ǵ, chính Thánh Thần sẽ nói trong anh em”, tôi thêm can
đảm. La mắng, sỉ nhục to tiếng, nói
những lời xóc óc khiêu khích ḷng tự ái, tôi thản nhiên
nh́n thẳng vào mặt Công an. Những ngày đầu
họ lấy thông tin tối đa, những ngày kế
tiếp Công an cấp cao hơn nhập cuộc. Anh Châu, Phó
Thủ trưởng, làm việc với tôi. Anh xuất thân
từ Đại học Công an, phân tích và phê b́nh các lời
khai của tôi cách chính xác và tỉ mỉ, lư luận sắc
bén. Anh nói với tôi như nói với cả một
giảng đường. Tôi thầm nghĩ: loại
người như thế có c̣n tính người không? Làm sao
chúng có thể sống với vợ con?”. Tôi nh́n thẳng
mặt anh và b́nh thản nghe anh to tiếng...Thỉnh
thoảng anh nh́n mặt tôi thăm ḍ, thấy tôi không tỏ
vẻ sợ hăi, tay cầm giấy của anh bắt
đầu rung rung. Tôi nh́n vào bàn tay rung ấy, anh mất
hứng bỏ ghế đứng lùi ra xa hơn để
nói tiếp. Tôi biết như thế, tôi đă làm chủ
được t́nh h́nh.
Tôi
được lệnh không được ra khỏi pḥng.
Nhưng khi tất cả Công an tập trung vào pḥng họp
phía dưới, tôi nhẹ nhàng bước ra đầu
cầu thang nghe ngóng. Họ đọc các lời khai
của tôi, họ đánh giá với nhau và khen cách lư luận
của tôi, họ nói: “Nó lư luận nghe đă không? Nó không
sợ ǵ cả!”. Tôi nghe ông Thủ trưởng Tuyên
chỉ thị: “Nói mạnh mà nó không sợ, phải
chuyển qua nói nhẹ”. Đúng như thế, ngày hôm sau,
tôi được mời xuống pḥng tiếp khách gặp
ông Thủ trưởng Công an. Ông rót nước trà mời
tôi uống và ngồi nói chuyện với tôi tử tế.
Ông khuyên tôi nhận tội. Tôi quả quyết tôi không có
tội. Ông không tin. Ông cho rằng: làm sao một
người giáo dân dám khai một ông linh mục như
thế. Họ khai, chắc chắn là tôi phải có tội.
Ông hiểu đúng, nhưng trong trường hợp
tôi, ông sai!
Họ
bắt tôi ở lại ngủ nhà Công an ban đêm. Nan
giường đóng thưa, tôi nằm thịt lọt
xuống giữa hai chiếc nan, sáng hôm sau thức dậy
thấy khá đau. Tối họ không cho mùng . Tôi không
ngủ được. Tôi nghe ở pḥng dưới bà
vợ ông Thủ trưởng có vẻ bênh vực cho tôi, bà
thủ thỉ với chồng: “Nhỡ ông ấy không có
tội th́ sao?”. Ông Tuyên đáp: “Làm ǵ có chuyện đó. Không
có làm sao người giáo dân họ lại khai?”. Ông hiểu
khá rơ về người giáo dân, đối với ông,
người giáo dân không bao giờ vu oan cho linh mục.
Nhưng trường hợp của tôi, sự việc không
đơn giản như thế. Mỗi lần muỗi
đậu vào người, tôi lợi dụng đập
một cái thật to. Suốt đêm tôi không ngủ, chắc
chắn ông bà Thủ trưởng và cô con gái nhỏ ở
pḥng trệt cũng không được ngủ. Tối hôm
sau tôi được cho về nhà ngủ. Anh em trong Tu viện
nghe nói tôi mất ngủ tỏ vẻ lo lắng, sợ tôi
không đủ tỉnh táo để ứng phó, họ khuyên
tôi về pḥng ngủ, dù lúc đó là ban ngày.
Tôi
thắc mắc làm sao mấy anh làm nghề Công an dữ
tợn như thế có thể sống với vợ con.
Tôi đă tự t́m ra câu trả lời sau đó mấy ngày
thôi. Hôm ấy tôi xuống pḥng dưới, đi ngang qua
trước cửa, t́nh cờ tôi thấy một chị,
có lẽ là vợ anh Châu, bế cô con gái nhỏ tới. Anh
Châu to tiếng với tôi trên pḥng làm việc, nhưng khi
bế cô bé gái từ tay vợ, anh ta cũng hôn con, âu
yếm nựng con như tất cả những
người cha b́nh thường khác. Bấy giờ tôi giác
ngộ: th́ ra họ cũng c̣n tính người. Khi làm
việc với tôi, chẳng qua họ áp dụng chiến
thuật thôi. Khủng bố tinh thần, trấn áp,
đánh đ̣n tâm lư, làm cho người khác hoảng sợ,
tất cả chỉ là chiến thuật. Từ đó tôi
càng bĩnh tĩnh hơn khi đối diện với Công
an. Anh Châu báo với tôi: “Chúng tôi sẽ đến khám nhà
anh”. Tôi không biết làm thế nào để đưa tin về
cho anh em ở nhà để họ chuẩn bị
đối phó. Bên kia đường có một gia đ́nh
Công giáo, nhưng khá xa, phải có ná thun bắn giấy qua
mới tới. May thay, nh́n ra cửa sổ,
tôi nh́n thấy cha B́nh mang cơm đến tiếp tế
cho tôi, tôi vội vàng chạy xuống gặp để báo
tin cho cha biết về chuyện Công an sẽ
khám Tu viện, bất chấp lệnh cấm, cấm
bỏ pḥng và cấm gặp ai trong thời gian làm việc
với Công an. Ai tiếp tế cơm cũng phải
giao cho Công an, chứ không được trao cho tôi trực
tiếp! Anh Châu bắt chợt gặp tôi
bỏ pḥng mà xuống nói chuyện với cha B́nh, anh
hỏi gằn giọng: “Anh đi đâu?
Vừa nói ǵ”. Tôi trả lời ngay: “Tôi xuống nhờ anh B́nh
mang xe đạp của tôi về cho anh em ở nhà dùng”. Anh
hỏi: “Xe đạp của ai?” Tôi nói xe của chung, tôi
để đây không dùng tới, gửi về cho anh em
dùng”. Anh hỏi: “Xe đâu?”. Tôi dẫn anh tới chỗ
để xe đạp gần đó. Khi bắt tôi ở
lại đồn Công an, tôi đă gửi xe đạp
ở đó thật. Nh́n thấy chiếc xe đạp, anh
không nói ǵ thêm.
Trong
đồn Công an, tôi viết trên những tờ giấy
nhỏ các hướng dẫn cho anh em ở nhà chăm sóc
vườn rau, cách pha thuốc diệt nấm... Tôi cố
t́nh để Công an bắt gặp và tịch thu các giấy
đó. Đúng như tôi suy tính, Công an thu giấy của tôi,
họ đọc và họ biết tôi cũng là
người lao động chuyên nghiệp. Nếu họ
kết tội tôi lười biếng, không chịu lao
động, tôi dám thách thức họ cho người ra thi
làm vườn với tôi, họ sẽ biết ai lao
động tốt hơn ai?
Công
an Pḥng chính trị làm việc không kết quả. Vụ
việc của tôi được chuyển qua Công an kinh
tế. Hai nơi cách nhau mấy trăm mét thôi. Tại
Pḥng Công an kinh tế, trong khi chờ đợi ngoài pḥng làm
việc, tôi nghe văng vẳng từ những căn pḥng
xa xa trong cùng khu vực những tiếng la thét ghê rợn.
Tôi có cảm tưởng trong các pḥng ấy người ta
đang tra tấn các tội nhân? Tôi nghe những
tiếng la hét (Xin nói nhỏ: có lẽ chỉ là máy phát thôi). Công an
kinh tế buổi đầu tỏ ra nhẹ nhàng, sau
thấy tôi không nhận tội, anh tỏ ra bực bội
hơn. Rốt cuộc, Công an kinh tế gửi công văn
lên Chủ tịch Ủy ban Thành phố, trong đó ghi: Dù
đương sự không nhận tội, nhưng xét
rằng...Đề nghị cho tịch thu số
tiền...Tôi lại phải làm đơn lên Chủ
tịch Thành phố tŕnh bày vụ việc, với những
lời tôi đă khẳng định ở Sở Công an
chính trị, ở Pḥng Công an kinh tế, lời phản cung
của bà Lập...Từ đó, không thấy giấy
mời nào nữa.
Như
thế, tổng cộng tôi đă làm việc 19 ngày, 12 ngày
với Công an chính trị và 7 ngày với Công an kinh tế.
Một kinh nghiệm quí báu trong đời đối
diện với Công an chế độ xă hội chủ
nghĩa. Trong thời gian ấy, cha Phi Khanh Vương
Đ́nh Khởi tạm rời các xơ trở
về, hầu
như mỗi trưa cha đều mang cơm lên Đồn
Công an
tiếp tế cho tôi. Đó là những ngày cha quan tâm
đến tôi hơn cả.
Nếu
các xơ Mến Thánh giá nhớ ơn và coi cha Khởi
như vị sáng lập thứ hai sau Đức cha Lambert
de la Motte, họ cũng không được quên ai đó
ẩn ḿnh, khiêm tốn, âm thầm kín đáo cộng tác gián
tiếp nhưng hiệu quả trong công tŕnh vĩ
đại này. Ai đó trong giai đọan khó khăn
của thời cuộc, bao hết các chuyện và
các việc nhà cho cha Khởi đi vác ngà voi!
Như
đă nói trên, tôi nhờ tự tập và nhờ sống
trong môi trường ao hồ từ nhỏ, và sau này
sống những năm ở Nha Trang, tôi bơi lội có
tŕnh độ. Thú nhảy cao và nhào lộn từ mơm tảng
đá xuống nước ở Ḥn Chồng cuốn hút tôi.
Vừa nhảy vừa nhào lộn trước khi rơi
xuống nước là môn thể thao lành mạnh, nhưng
đôi khi nguy hiểm. Lần kia, tôi lấy đà từ xa,
đến chỗ đạp chân để nhảy, đá
ướt trơn, tôi bị trượt chân nhưng không
thể nào dừng lại được, nín thở lo âu
chờ tai họa. May thay! Tôi đă rơi được
toàn thân xuống nước. B́nh thường, tôi nhảy
xa ra khỏi mơm đá từ hai đến ba mét, hôm đó
tôi rơi cách ra ng̣ai mơm đá chỉ vài gang tay, nhưng
như thế cũng đủ để đầu tôi an toàn!
Tôi thích tắm vùng nước sâu hơn tắm ở
những băi biển cát lài lài. Có tắm băi tắm, tôi
cũng ra thật xa hưởng ḍng nước trong. Khi
biển động, tắm gần bờ để
lướt sóng cũng tạm được. Ra xa,
nước sạch và phẳnng lặng, tôi có thể
nằm im bao lâu tùy ư, giang thẳng hai tay hai chân nghỉ
ngơi hoặc hai tay kê sau ót làm gối ngủ ngon lành.
Giữ được thế nổi không cần cử
động như thế rất có lợi, nhất là khi
đă mệt v́ bơi lâu ngoài biển.
Tôi
cũng từng đạp xe đi làm lễ ở cộng
đoàn Phan sinh Thừa sai Đức Mẹ ở Đà
Lạt (cách cộng đoàn chúng tôi sáu cây
số). Nhưng chưa bao giờ được diễm
phúc như cha B́nh. Trường hợp tôi gặp khác
thường một chút: Sáng sớm tôi đạp xe ra
đi lúc trời c̣n tối. Qua khỏi hẻm Ấp Ánh
Sáng, tôi thấy người ta chạy nháo nhác. Nghe tiếng
hô lớn: “Ai biết bơi ra cứu. Có người chết
đuối dưới hồ!”. Tôi vội vàng chạy
tới. Tại góc Hồ Xuân Hương và cầu Ông
Đạo phía đường Nguyễn Thái Học,
người tụ tập đông nghẹt. Những
người đi bán chợ đêm tập trung lại
đứng nh́n. Nhiều ông khuân vác hoặc gánh hàng thuê
đứng chống đ̣n gánh. Không ai xuống cứu.
Thấy tôi dừng xe đạp bước xuống,
mọi người đoán ra tôi là người họ
chờ đợi. Một chị đỡ ngay chiếc xe
đạp của tôi và nói: “Anh nhảy xuống đi, em
giữ xe cho”. Tôi nhảy xuống hồ nước
lạnh, lặn ra, mở mắt nh́n lên thấy bóng
người lờ mờ. Tôi đưa tay lên đỡ
ngay lưng nạn nhân, vừa bơi vừa đẩy
dần vào bờ. Tôi bê lên thấy người ấy
nhẹ tâng. Đó là một bà khá tuổi, có lẽ đi
chợ đêm, xuống bờ hồ rửa rau hoặc
rửa tay và trượt té. Tôi nắm hai chân bà dốc
ngược lên và lắc mạnh, không có nước. Bà
không chịu uống nước hồ. Tôi dặn những
người vây quanh đưa bà đi thay áo quần và
sưởi ấm cho bà. Họ cùng nhau khiêng đi. Tôi
nhận lại chiếc xe đạp. Một chú bé chạy
đến hỏi tôi: “Có sâu không chú?”. Tôi cho em biết
nước sâu lút khoảng ba người lớn! Nói
thế để cho chú bé biết chỗ đó sâu, nguy
hiểm, chứ tôi đâu đă xuống tới đáy
đâu mà biết sâu cạn thế nào!
Tôi
tiếp tục lên đường thi hành nhiệm
vụ.
Khi đó, đến nhà các xơ, tôi chỉ báo cho các
xơ rằng: “Hôm nay cho nghỉ lễ, tôi ướt
hết rồi, phải về thay áo quần”. Một xơ
hỏi: “Cha bị sao vậy?” – “Nhảy xuống Hồ
Xuân Hương vớt người chết đuối”. Không
xơ nào có sáng kiến lấy quần áo khô của các
xơ cho tôi thay, các xơ cảm thấy cho tôi về là
hợp lư... Trong số những người có mặt
tại Hồ Xuân Hương lúc ấy h́nh như có
người nhận ra tôi, hoặc do các xơ nói ra?
Những ngày sau đó, người th́ phong tôi là “Anh hùng
Hồ Xuân Hương”, người khác coi tôi như
tấm gương “liều ḿnh để cứu
người hoạn nạn”. Một cụ già khuyên ngược
lại: “Lần sau cha đừng làm như vậy nữa.
Ma nó kéo cha xuống đấy”. Phần cha Đinh Viết
Hoàng, cha biến nó thành một câu truyện tiếu lâm. Cha
thêm đoạn kết: “Khi cha Hoa ôm người chết
đuối lên, mọi người trên bờ vỗ tay. Cha
nh́n xuống, nhận ra đó là một bà già, cha vất bà
ta xuống đất, vừa chửi tục
vừa
nói: “... Tưởng là c̣n trẻ!”.
Bà
ấy không chết đuối. Bà sống. Một
người khác đúng là chết đuối thật:
Một chú giúp lễ Nhà thờ Du Sinh tên Việt. Chú mới
15 tuổi nhưng vóc to lớn khỏe mạnh, da đen.
Đi chơi với hai anh bạn khác, chú rơi xuống
Hồ Hy Vọng dưới chân đồi Du Sinh, một
anh bạn nắm được tay chú, nhưng chú nặng
quá anh bạn không làm sao kéo lên được, anh lại
sợ bị kéo xuống theo. Anh mới nói: “Mày thả tay
ra để tao đi kêu người lớn”. Hai anh bạn
chạy đi để lại chú Việt chơi vơi
dưới nước. Nghe nói một anh sợ quá chạy
đi luôn. Anh c̣n lại chạy lên đỉnh đồi
kêu cha mẹ chú Việt. Được tin báo, cha chú
Việt lên xe Honda chạy ra Phố t́m các nhân viên cứu
hộ Hồ Xuân Hương. Họ hứa cứ về
đi, họ sẽ vào. Mẹ chú Việt hớt hải
chạy thẳng xuống hồ, không c̣n nh́n thấy con,
chị liền ngất xỉu. Dân chúng lần lượt
chạy ra. Những người chuyên đánh cá ở
Hồ Xuân Hương nhảy xuống nước.
Nước quá sâu, không ai lặn xuống tới đáy nên lên
bờ ngồi nh́n tuyệt vọng!
Tôi
nghe bên Nhà Mô( Cơ sở sản xuất cây
giống Phan Sinh) các công nhân xôn xao. Tôi hỏi có chuyện ǵ.
Họ cho biết có người chết đuối ở
Hồ Hy Vọng. Hồ chỉ cách Tu viện Phanxicô vài
trăm mét. Tôi hỏi:
-
Chết đuối lâu chưa?
-
Một tiếng rồi!
-
Như vậy th́ chết rồi.Thời gian quá lâu.
-
Biết là chết rồi, nhưng gia đ́nh chỉ mong
đưa nó lên. Để nó ở dưới nước
lạnh tội nghiệp nó.
Nhân
viên cứu hộ hứa nhưng không vào! Cứu hộ
kiểu đó chỉ nhắm vớt xác lấy tiền
thôi! Tôi gọi mấy thầy Tập sinh cùng đi ra. Anh em
mang theo chiếc lưới. Thấy một chú bé chỉ
tay nơi chú Việt chết đuối, tôi nhảy ngay
xuống. Khi nổi người lên khỏi mặt
nước, tôi thấy đôi dép của tôi tuột
khỏi chân nổi lềnh bềnh, tôi lượm dép
quăng lên bờ. Về sau có người thắc mắc:
“Có phải cha quăng dép lên như thế là làm ám hiệu (làm
bùa) sẽ vớt được xác lên không?”. Chẳng có ám
hiệu ǵ cả, chẳng qua tôi quên tháo dép khi nhảy
xuống thôi.
Chiếc lưới
vô dụng, v́ không được cột đá, nó cứ
nổi lên, không chịu ch́m xuống đáy. Tôi lấy
hơi lặn xuống, xuống càng sâu nước càng lạnh.
Tôi nắm một nạm bùn đưa lên. Mọi
người trên bờ theo dơi đều biết tôi đă
xuống được tới đáy hồ. Không
đủ hơi để rà t́m ra xa ở dưới
đáy, tôi phải lặn xuống ngoi lên nhiều chỗ
khác nhau. Bỗng nhiên, tôi giật nẩy ḿnh một cái khi
chạm phải khối thịt. Tôi có cảm giác như
đó là một xác người lớn. Tự trấn an
chắc chắn đó là xác chú Việt thôi, tôi nổi lên
lấy hơi, đồng thời báo cho mọi
người biết đă t́m thấy. Đám người
trên bờ xôn xao: “Thấy rồi! Thấy rồi!”. Tôi
lặn xuống lần cuối, kéo xác lên, đưa vào
bờ. Những người
trên bờ đưa tay phụ tôi. Xác đă tím ngắt. Tôi
xốc người lên, t́m cách cho nước thoát ra. Chú
cũng không uống nước. Hô hấp nhân tạo
một lúc, không kết quả. Miệng chú đă mở. Có
người nh́n thấy thế đă nói: “Miệng mở
rồi cứu ǵ được nữa!”. Tôi xin họ
khiêng chú về nhà. Nghe nói sau đó cha Nguyễn Ngọc
Hiếu tiếp tục châm cứu một hồi lâu
nhưng không kết quả. Nhân đây cũng xin lưu ư
lời sách dạy: Chết đuối mà uống
nước dễ chữa hơn. Phổi ngừng thở,
tim ngừng đập, nhưng khi dốc hết
nước ra, tim phổi có thể hoạt động
trở lại. Nhiều trường hợp phải hô hấp
nhân tạo gần cả tiếng đồng hồ, kiên
nhẫn nhưng cứu được nạn nhân, chỉ
v́ năo họ c̣n sống. Chết đuối không uống
nước, gọi là chết đuối khô, năo không có oxy
nên mau chết. Năo đă chết quá năm phút th́ hết
cứu!
Linh
mục Đoàn Giáo phận Đà Lạt có truyền
thống đi nghỉ một hoặc hai ngày sau Lễ
Phục Sinh hàng năm. Thường các cha đi tắm
biển. Tắm biển Phan Rang, chỉ cách Đà Lạt
100 cây số, các cha có thể đi về trong ngày. Tắm
biển Phan Thiết, Nha Trang hoặc Vũng Tàu, phải mất hai hoặc ba ngày.
Tôi đi theo các cha Giáo hạt Đà Lạt. Đức cha
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đi theo nhóm này. Mỗi
lần có tôi cùng theo Đoàn đi tắm biển,
Đức cha cảm thấy an tâm. Tôi được
Đức cha giao nhiệm vụ “Để ư giùm các cha”.
Tôi luôn luôn làm tṛn trách nhiệm, dù không cần để ư
bao nhiêu. Tôi biết các cha khôn ngoan lắm, không dám liều
như giới trẻ. Những cha không biết bơi không
ai dám ra xa quá ngực. Các ngài tắm sát bờ, ngồi
xuống tắm th́ nước cũng ngang ngực vậy.
Có cảm giác nước ngang ngực như thế, các ngài
cũng thấy măn nguyện rồi. Các cha cũng
thương con chiên lắm, không nỡ bỏ chiên bơ
vơ. Có lúc tôi khuyên cha nào không biết bơi mang theo cái
chậu thau, múc nước biển lên bờ ngồi mà
tắm. Đề nghị nên đưa môn bơi lội
vào chương tŕnh đào tạo linh mục, ít là
để giữ ḿnh.
Long
đong phiêu bạt
Măn nhiệm kỳ làm
Phụ trách cộng đoàn, tôi được Tỉnh Ḍng
điều về cộng đoàn Phanxicô Xuân Sơn, một
xă kinh tế mới thuộc Tỉnh Đồng Nai (Nay
chia cắt Tỉnh, Xuân Sơn thuộc Tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu). Xă Xuân Sơn trên 15.000 dân trong đó giáo
dân Kitô hữu chiếm hơn một nửa. Cha Gioan
Nguyễn Gia Thịnh, Ofm, vừa là Phụ trách cộng
đoàn vừa là cha Quản xứ Xuân Sơn. Tôi về
phụ giúp cha Thịnh. Cha Thịnh dẫn tôi đi tŕnh
diện ông Bí thư xă. Cuộc xă giao thân thiện cởi
mở. Ông Bí thư tên Bảo chấp nhận cho tôi tạm
trú tại Xuân Sơn, nhưng ông không quên dặn ḍ:
“Phải cẩn thận lời ăn tiếng nói!”. Có
lẽ ư ông muốn nói, khi giảng dạy, đừng nói
lời ǵ đụng đến Chính quyền. Biết ǵ
th́ cứ im lặng là được.
Ngoài
công tác mục vụ, dạy lớp chủng sinh Hạt
B́nh Giả, tôi tham gia lao động. Anh em Xuân Sơn có
một vườn cà phê rộng và một số cây khác
trồng theo mùa. Tôi mua thêm một số cây sầu riêng,
sabochiê (cây trám) trồng xen trong vườn
để có sự đa dạng trái cây. Chỉ mấy ngày
sau, những cây giống tốt nhất (giống Thái
Lan) trong số cây mới trồng ấy đă không cánh mà
bay! Tôi được thêm kiến thức: Cây cối
vườn Nhà xứ cũng không phải là bất khả
xâm phạm. Tôi c̣n được nghe nhiều về các
vụ trộm cắp như cơm bữa xảy ra ở
Xuân Sơn. Tôi cũng được nhờ can thiệp
giải quyết những đối kháng giữa các bên liên
can, ngay giữa giáo dân láng giềng với nhau. Một bên
trồng bắp trong vườn mà kẻ khác thu hoạch
mất. Bên kia không trồng bắp mà bắp chất
đống trong nhà. Từ nghi ngờ đến đánh
nhau. Mủ cao su mất, chuối mất, hoa màu mất, dây
máy mất, trong vườn mất, ngoài đồng
mất... Đó là vấn đề nổi cộm
đối với tôi khi đến Xuân Sơn!
Mấy
cháu tôi từ quê Nghi Lộc, Nghệ An, vào Nam với ư
định sẽ xin t́m hiểu Ḍng Phanxicô. Họ ở nhà
bà con tại B́nh Giả, cách Xuân Sơn sáu cây số. Họ
ghé vào thăm tôi. Họ gặp tôi đang vác cuốc ra
vườn, họ tỏ vẻ ngỡ ngàng. Họ vào pḥng
tôi, mở tủ ra xem, họ than: “Cha trong Nam này khổ. Cha
ngoài Bắc, tủ như ri th́ đầy bia, cam, và
đủ thứ bánh”. Kể từ đó họ không
hề nghĩ đến chuyện đi tu Ḍng Phanxicô
nữa. Một trong hai nay đă là một cha Quản
xứ thuộc Giáo phận Vinh.
Tôi
ở Xuân Sơn được sáu tháng. Dịp chầu
giờ Giáo xứ Xuân Sơn năm 1989, theo thông lệ, giáo
dân chuẩn bị ngày chầu giờ bằng ba ngày Tĩnh
tâm trước lễ. Cha Thịnh nhờ tôi giảng
Tĩnh tâm hai ngày trong thánh lễ thứ năm và thứ
bảy. Bài đầu tiên, cha Thịnh cho tôi giảng theo
chủ đề: “Như men trong bột, người Kitô
hữu đem Phúc Âm vào thế giới”. Tôi giảng lư
thuyết dựa theo Phúc Âm. Tôi cho giáo dân biết họ có
một môi trường thuận lợi. Xă Xuân Sơn 15.000
dân, đó là khối bột; giáo dân 7.500, đó là men. Như
vậy men chiếm một nửa khối bột. Phần
áp dụng vào thực tế, tôi tŕnh bày cụ thể
hơn. Tôi nhấn mạnh hai điểm: Thứ nhất,
vấn đề học hành. Ai có khả năng, hăy cho con
em đi học, học càng cao càng tốt. Thực
trạng tại Xuân Sơn, có em đi học, bạn bè dèm pha:
“Mày đi học đến khi lấy được cái
bằng tú tài, hai bàn tay trắng. Tao ở nhà lúc đó đă
có một cơ ngơi rồi”. Một anh khác thấy
bạn ḿnh sắp cưới một cô vợ có bằng tú
tài, đă can ngăn: “Nó có bằng tú tài, mày lấy nó
về, nó đè đầu mày!”. Tôi kêu gọi hăy cho con cái
đi học tối đa. Tương lai của chúng là
mười năm hoặc hai mươi năm nữa
chứ không phải như bây giờ. Những ǵ tôi nói trên
đều là những chuyện có thực đă từng
xảy ra ở Xuân Sơn.
Điểm
thứ hai, vấn đề công bằng. Tôi kể lại
một số trường hợp lỗi đức công
bằng tôi nghe được hoặc tôi trực tiếp đứng
ra giải quyết. Kitô hữu chặn đánh nhau,
cắn nhau ngoài đường! Tôi nói: “Là Kitô hữu, chúng
ta phải biết tôn trọng tài sản của kẻ khác.
Chúng ta giữ đức công bằng không phải v́ có Công
an hay không có Công an. Chúng ta không phải sợ Công an, khi
thấy Công an th́ không trộm cắp, khi không có Công an th́
cứ lấy thoải mái. Chúng ta giữ luật Chúa.
Đừng để người ta phân biệt di cư
1954 và di cư 1982 (Xuân Sơn có trên 3.000 giáo dân di cư
tự do từ Nghệ An vào năm 1982. Hai khối di
cư cũ và mới đă từng đả kích nhau
về nhiều chuyện, trong đó có chuyện dân di cư
1982 bị chỉ trích trộm cắp quá nhiều)... Đến
thăm nhau mà khi ra về, chủ nhà thấy biến đâu
mất cái búa vừa để trên giường!
Ngoài
số người đi lễ đông đảo ở Nhà
thờ hôm đó, thầy Đạt (Nay đă là linh
mục), một thầy đă lớn tuổi từ Vinh vào
Nam học thêm. Thầy đă ghi âm bài giảng của tôi.
Thầy tâm đắc. Bản thân thầy phải nuôi gà để
kiếm sống khi vào Nam. Thầy cũng đă mất
nhiều gà... Thầy đem băng ghi âm về nhà và cho phát
trên loa phóng thanh bài giảng của tôi oang oang liên
tục trong mấy ngày liên tiếp. Mọi người
trong vùng đều được nghe đi nghe lại bài
giảng ấy. Anh Sáu, một Đội trưởng
của Đồn điền cao su Xuân Sơn, là một
lương dân, anh cũng rất mừng v́ bài giảng
của tôi. Anh đă phải than phiền v́ mủ cao su
bị mất cắp thường xuyên!
Bài
giảng ngày thứ bảy nói về Đức Mẹ, tôi
hướng về đạo đức nhiều hơn.
Sau thánh lễ sáng thứ bảy, tôi nhận
được tờ giấy của lănh đạo Xă Xuân
Sơn mời tôi ra Xă làm việc. Cơm sáng xong, tôi
đạp xe một ḿnh chạy thẳng ra Trụ sở
Xă. Trước tiên, Trưởng Công an Xă tiếp tôi. Anh
hỏi han tṛ chuyện với tôi khá nhẹ nhàng. Anh cho tôi
biết anh làm theo chỉ thị của lănh đạo.
Tiếp đến, tôi được ông Chủ tịch
Mặt Trận Xă gặp. Sau cuộc nói chuyện, ông
đưa chỉ thị: “Linh mục hăy trở về
địa phương”. Chủ tịch Ủy Ban gặp
tôi lâu hơn cả và cũng tỏ ra gay gắt hơn
cả. Anh cho tôi biết anh đă nắm kỹ bài giảng
của tôi. Anh nói: “Linh mục cũng thông cảm. Xă có
tới 15.000 dân mà anh em an ninh chỉ có 20 người th́ nó
cũng phải mất vài con gà, con vịt”. Anh c̣n
đưa ra lư lẽ biện minh buồn cười: “Bên
Mỹ cũng có trộm cắp. Chế độ
trước cũng có trộm cắp”. Tôi thầm nghĩ
có lẽ anh ta muốn nói: người ta có ăn trộm
th́ ḿnh cũng phải có ăn trộm? Tôi tŕnh bày thẳng
với anh quan điểm của tôi: “Tôi không trách các anh. Tôi
huấn luyện giáo dân của tôi. Người Công giáo khi
có Công an hay khi không có, họ vẫn phải tôn trọng tài
sản kẻ khác theo luật Chúa dạy. Tôi không thể
chấp nhận chuyện làm ra được một
đám bắp, tương lai người ta đặt vào
đó, cứ phải nằm canh ngày đêm ngoài đồng
như thế: mất sức! Người ta ghé về nhà
một lát, khi ra th́ đám bắp đă bị bẻ
sạch rồi!”. Tôi kể lại cho anh nghe mấy
trường hợp xảy ra thời gian làm theo Hợp tác
xă mà những người bà con của tôi từ miền
Bắc vào thăm đă cho
chúng tôi nghe. Một người đi nhổ đậu
phộng Hợp tác xă, ông nhổ lên, bươi đất
vùi xuống, con đi mót phía sau bươi lên, vặt
củ mang về nhà ḿnh. Người khác đi gánh lúa
Hợp tác xă, ông trổ một cái lỗ trên đ̣n xóc (Đ̣n xóc là một
khúc tre luồng để nguyên ống), trên
đường ông vừa gánh vừa tuốt lúa bỏ vào
đ̣n xóc. Tối về nhà, đổ ra, ông cũng
được mấy kư lúa.
Những
chuyện như thế không thiếu khi người ta t́m
mọi cách để sống c̣n. Chẳng hạn chuyện
khó tin sau đây: Ông anh rể tôi trong Nam sắp tổ
chức đám cưới cho con, ông em ng̣ai Bắc
được tin, vội vàng vào giúp v́ cho rằng ở
ngoài Bắc, ông đă có nhiều kinh nghiệm tổ
chức đám cưới. Đám đầu tiên, ông
mất 100 cái chén ăn cơm. Khách mời ăn xong, nhét
chén vào trong người mang về luôn (Có lẽ
để làm kỷ niệm?). Đến đám thứ hai,
ông phải thuê người canh gác, cũng vẫn mất
một số chén nhưng mất ít hơn. Ông ngạc nhiên
khi thấy ở trong Nam tổ chức đám cưới
không phải lo chuyện mất mát. Bà con họ hàng xúm nhau
lại giúp, ăn uống xong, họ giúp dọn dẹp
rồi ra về. Chẳng ai
thèm lấy trộm cái ǵ. Nói vào giúp, nhưng ông vào chỉ
ngủ thôi. Ông nói: “Trong Nam này sướng thật!”.
Tôi
nói cho ông Chủ tịch quan điểm của tôi: “Tôi thông
cảm với những người như thế, khi
họ đói quá. Họ phải t́m mọi cách để
sống. Nhưng ở đất Xuân Sơn này, ai chịu
khó làm việc, không sợ đói. Ông Chủ tịch chỉ
tay vào mặt tôi và nói: “Cái đầu của anh!”. Ư ông
kết án tôi có cái đầu phản động? Có sạn?
Chính
quyền Xă Xuân Sơn trục xuất tôi ra khỏi
địa phương. Họ dọa nếu tôi ở
lại, họ không chịu trách nhiệm về an ninh
của tôi. Tôi nói với cha Thịnh, Bề Trên của tôi:
“Thử cứ ở lại xem họ làm ǵ?”. Cha Thịnh
khuyên tôi: “Thôi họ đă căng như thế rồi, đừng
chọc tức họ. Anh cứ về gia đ́nh ở B́nh
Giả chờ, tôi sẽ t́m cách gặp họ xem sao”.
Mọi cố gắng của cha Thịnh đều
thất bại. Tôi ra đi, giáo dân bàn tán xôn xao. Chính
quyền mời Hội đồng Giáo xứ Xuân Sơn ra
nghe họ giải thích. Giáo dân thắc mắc tại sao các
ông đuổi cha Hoa đi? Cha dạy giáo dân của cha
chứ làm ǵ các ông mà đuổi? Chính quyền t́m mọi
cách để trấn an dân chúng. Nào là: “Giảng ở Nhà
thờ chỉ một phần thôi. Ra Xă, ông ta c̣n nói mạnh
hơn nữa”. “Ông ấy nói cũng đúng thôi. Nhưng nói
ra như thế Xă ta mất điểm”. Th́ ra, Xuân Sơn
nhiều năm liền được Huyện Châu Thành (Bà
Rịa) tuyên dương là Xă tiên tiến, Xă điển
h́nh!”. Để bảo vệ vinh dự dổm ấy, các
vị lănh đạo Xă bằng mọi giá bưng bít các
điểm tiêu cực của ḿnh. Có người cho
rằng mấy ông chính quyền Xuân Sơn cảm thấy bị
đụng
chạm. Số là lúc mới vào, họ nghèo
xơ nghèo xác, đi làm thuê làm mướn. Từ khi làm việc ở
Xă, ông nào ông nấy đă xây nhà lầu cả!
Về
B́nh Giả, tôi ở gia đ́nh. Tŕnh Công an Xă B́nh Giả, tôi
được tạm trú sáu tháng. Tại giáo họ Nghi
Lộc tôi lúc đó có hai cha khác cũng về gia đ́nh
tạm trú. Cha Nguyễn Sơn Miên, Sĩ quan tuyên úy quân
đội chế độ Sài G̣n, sau thời gian đi
cải tạo, cha không được về lại Giáo
phận Long Xuyên của cha, cũng không được
về Trụ sở của Giáo phận tại Sài G̣n, cha
đành phải về ở gia đ́nh người em. Cha
Đinh Vĩ Đại cũng ở tù ra, Nhà thờ Vinh
Thủy ở Phan Thiết cha coi sóc đă bị san bằng
để xây khách sạn. Cha về sống với gia
đ́nh chú thím và các em. Cả ba chúng tôi đều ở
trong Giáo họ Nghi Lộc, Giáo xứ Vinh Châu (Làng
Hai). Chúng tôi sống âm thầm, chỉ giúp cha Quản
xứ ít Thánh lễ và một số bài giảng. Tôi vẫn
tham gia dạy học cho các chủng sinh của Hạt B́nh
Giả.
Cũng
dịp Chầu giờ Giáo xứ Vinh Hà (Làng Một),
cha Quản xứ Phêrô Ngô Kỷ lại nhờ tôi giảng
Tĩnh tâm ngày áp lễ. Tôi biết điều đă
xảy ra ở Xuân Sơn, tôi giảng thuần túy
đạo đức. Đề tài được
đề nghị liên quan đến sự hiệp thông giữa
chủ chăn và giáo dân trong việc xây dựng Giáo Hội.
Một người bà con của tôi sau đó cho nhận xét:
“Cha giảng th́ hay, nhưng thiếu những ví dụ
cụ thể!”. Đúng thế, những ví dụ cụ
thể có thể đưa đến hậu quả
như ở Xuân Sơn. Thế mà, hậu quả cũng
không kém. Cha Kỷ được mời giải tŕnh
tại sao lại cho linh mục Hoa giảng. Cha trả
lời, có cha Hoa ở đó, không mời cha giảng, giáo
dân sẽ thắc mắc với tôi: “Tại sao không mời
cha Hoa giảng?”. Chủ tịch Mặt Trận Xă cho cha
Kỷ biết: “Trên Huyện cấm không được cho
cha Hoa giảng bất cứ ở đâu”.
Đến
lượt, tôi cũng được Công an Xă B́nh Giả
mời ra làm việc. Anh cán bộ Công an bắt tôi kể
lại: Ai mời giảng, giảng những ǵ, giảng
ở đâu... Tôi trả lời rơ ràng, không giấu
diếm: Tôi là linh mục, tôi có bổn phận phải
giảng dạy giáo dân. Nếu không được phép làm
sao tôi có thể giảng trong Nhà thờ của một ông
cha khác? Tôi đă giảng về sự hiệp nhất
giữa các chủ chăn và người giáo dân để
xây dựng Giáo Hội. Anh Công an đ̣i tôi ngồi viết
lại bài giảng và trả lời ai mời giảng. Tôi
xin cầm giấy về nhà viết. Anh đồng ư.
Nhận
thấy các cha khác tạm trú trong Giáo xứ cũng cùng hoàn
cảnh như tôi, các cha đă ở đó từ lâu và giúp
cha Quản xứ trong việc giảng dạy nhiều
hơn tôi, vậy mà không ai bị đặt vấn
đề cả. Nếu tôi khai báo theo đề nghị
Công an, biết đâu các cha ấy cũng bị liên
lụy. Có thể các ngài cũng sẽ bị cấm
giảng, và t́nh trạng tạm trú không chính thức của
các ngài có thể gặp khó khăn. Dù không phải là
điều quan trọng, bài viết giấy trắng
mực đen của tôi nhắc đến danh tánh vị
Quản xứ nhờ tôi giảng, đó cũng là một
h́nh thức tố cáo ngài, tôi không viết bài để giao
nộp cho Công an.
Những
ngày tiếp đó, anh Trưởng Công an Xă B́nh Giả cho
thuộc hạ đến nhà tôi nhiều lần. Ba ngày
đầu, họ cầm đến cho tôi giấy mời,
những ngày khác, họ chỉ đến mời miệng.
Tôi trả lời: “Những ǵ cần khai báo, tôi đă tŕnh
bày đầy đủ cả rồi. Các anh tự ghi
lấy. Tôi không viết ǵ nữa. Trong số các anh Công an
đến gặp tôi ấy, có anh là dân trong Xă, anh biết
tôi, và anh cũng kính nể tôi. Anh nói: “Con biết cha. Chúng
con cũng chẳng muốn làm chuyện này, nhưng anh Long (Trưởng
Công an Xă) bắt chúng con làm. Cứ thế, họ đă hoàn
thành nhiệm vụ, đến mời và về tŕnh
lại cấp trên điều tôi nói.
Tôi
báo về cha Guiđô Nguyễn Hồng Giáo, Bề Trên
của tôi, tŕnh cho ngài biết tôi đă bị Công an mời
bảy lần rồi! Cha Giáo gửi về cho tôi một
tờ giấy nhỏ với hàng chữ vắn tắt:
“Trong vùng đó người ta để ư đến anh
rồi, anh nên về Sài G̣n th́ hơn. Anh đi ngay càng
sớm càng tốt”. Tôi xin phép nán lại ít hôm để
dạy cho xong những môn học đang dạy dở dang.
Theo tôi được biết, các cán bộ chính quyền
Xuân Sơn, B́nh Giả và Huyện Châu Thành là một hệ
thống ăn rơ với nhau. Cấp dưới o
bế cấp trên, cấp trên bao che cấp dưới! Ai
đă bị nơi này đuổi, đi nơi khác cũng
bị đuổi thôi, dù không vi phạm tội ǵ. Tôi đi
rồi, trước sự thắc mắc của dân chúng,
họ cũng khôn ngoan t́m ra cách trả lời mang tính
đấu dịu: “Có ǵ đâu, ra nói một tiếng là
xong!”. Họ coi như chuyện ra đi của tôi là do phía
tôi, chứ đối với họ, không có ǵ quan trọng.
Họ đánh lừa được dân chúng. Sự gian
dối tinh vi là ở đó! Tôi đă chẳng ra
Xă nói chẳng những một tiếng, mà là cả buổi
đó sao?
Tôi
về sống với anh em tại cộng đoàn Phanxicô
Đakao, làm Phụ tá cho cha Boscô Nguyễn Văn Đ́nh
để giúp cho Ḍng Phan Sinh Tại Thế. Thời gian
ấy, tôi có dịp đi về các Tỉnh cùng với cha
Đ́nh hoặc thay cha Đ́nh đi kinh lư anh chị em Ḍng Phan
Sinh Tại Thế. Tại Sài G̣n, bộ mặt của
Việt Nam độc lập tự do và nơi có khách
quốc tế nhiều, chính quyền có vẻ thoáng hơn.
Làm ǵ người ta cũng biết, nói ǵ người ta
cũng nghe, nhưng không chạm đến họ bao nhiêu,
họ cũng làm ngơ.
Ngày
15-11-1992, một biến cố bất ngờ xảy
đến. Hôm ấy là sáng Chúa nhật, tôi làm lễ
thiếu nhi ở Nhà thờ Đakao. Kết lễ, tôi vào
Pḥng thánh. Cha Giáo bước vào Pḥng thánh và báo: “Anh Lam ở
B́nh Giả điện lên báo cha anh đă qua đời!”.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Cha anh Lam hả?”. Cha Giáo
đáp: “Không, cha của anh” (Cha đưa ngón tay
chỉ vào tôi). Trước đó, tôi không có tin ǵ về
bệnh t́nh của cha tôi cả. Tôi đoán có thể là tai
nạn xe hoặc té ngă, v́ cha tôi làm thợ xây. Tôi thắc
mắc: “Có thấy nói bệnh tật ǵ đâu, sao lại
chết?”. Cha Giáo giải thích: “Tôi không biết, chỉ
biết tin vậy thôi”. Tôi c̣n tiếp tục rửa
tội cho một em bé, rửa tội xong sẽ ra về
ngay. Trong lúc rửa tội một em bé mới sinh, một
sự sống bắt đầu, với một người
qua đời, một sự sống kết thúc, tự
nhiên trong cổ họng tôi phát ra một tiếng nấc
nhỏ. Tôi biết những người hiện diện
nhận ra...
Chiều
thứ bảy, cha tôi vẫn b́nh thường, dọn
dẹp trên sân, chơi đùa với cháu. Sáng Chúa nhật,
cha tôi thức dậy đi lễ. Bỗng nhiên cha tôi kêu
đau, các em tôi nghĩ là trúng gió nên xúm lại cạo gió.
Trước đây cha tôi đă có lần bị như
vậy, cạo gió một lát th́ khỏi. Lần này, cha tôi
nói: “Cạo mạnh mạnh lên, không thấy bớt đau
ǵ cả! Các em tôi tiếp tục cạo gió và thoa bóp tay
chân. Một lát sau, nét mặt cha tôi thay đổi. Một
anh láng giềng sang giúp, nh́n thấy thế, anh nói: “Cha em
hồi trước cũng vậy, đi mời cha xức
dầu đi!”. Em tôi chạy đi mời cha Minh ở
Cộng đoàn Phanxicô gần đó đến xức
dầu. Cha Minh chưa kịp đến, cha tôi đă
tắt thở. Thời gian mất khoảng nửa
tiếng. Có lẽ do tai biến hoặc do tim mạch.
Người ta nói nhiều đến linh tính, thần giao
cách cảm... Hôm ấy, trước khi được cha
Giáo báo tin, trong người tôi không hề có một cảm
giác ǵ khác thường cả, mặc dù trong nhà, có lẽ
cha tôi dễ lắng nghe tôi hơn những người
khác.
TRỞ VỀ DU SINH, ĐÀ LẠT
Là tài
xế xe hai bánh đáng tin cậy, tôi được cử
làm Thư kư kiêm tài xế cho cha Tổng kinh lư Samuel
Trương Đ́nh Ḥe. Cha ở Paris, được cha
Tổng Phục vụ cử về kinh lư và thay mặt cha
Tổng Phục vụ chủ tọa cuộc Tu nghị
Tỉnh Ḍng Việt Nam. Măn nhiệm kỳ ba năm, trong
đợt sắp đặt nhân sự sau Tu nghị
Tỉnh Ḍng năm 1992, tôi được điều
về lại cộng đoàn Phanxicô Du Sinh, Đà Lạt.
Thời gian mới này, sinh hoạt của tôi khá đa
dạng và phong phú.
Là
linh mục, tôi tham gia công tác làm lễ, giảng dạy trong
Cộng đoàn và những nơi khác: Giáo xứ Du Sinh, Các
Bà Truyền giáo, Các chị em Phan Sinh Thừa Sai Đức
Mẹ, hai Cộng đoàn Mến Thánh Giá Khiết Tâm. Tôi
nhận sự phân công cùng các cha khác giảng Tĩnh tâm tháng
cho các cha trong Giáo hạt Đà Lạt. Tôi gắn bó chặt
chẽ với Linh mục Đoàn Giáo phận trong mọi
sinh hoạt. Theo nhu cầu của các Chị Tu hội
Nữ tỳ Chúa Thánh Thần, tôi sang Vạn Thành dạy vài
môn họ nhờ. Tôi được Tỉnh Ḍng đặt
làm Trợ Úy tinh thần và mục vụ cho Ḍng Phan Sinh
Tại Thế Miền Lâm Đồng. Thời gian c̣n
lại, tôi tham gia lao động trong nhà. Khuôn viên Tu viện
Phanxicô Du Sinh chúng tôi khá thông thoáng, thích hợp với
bầu khí tu tŕ, có rừng cây nguyên sinh và nhân tạo, có
suối nước chảy ra từ tảng đá, có ao
hồ cá bơi lội tung tăng, có rau xanh cho anh em tẩm
bổ, có nhiều loại hoa cho anh em ngắm nghía, có
một cơ sở nhân giống các cây con cung cấp cho dân
chúng. Nhưng một công tác mới lạ đến
với tôi từ năm 1999.
Quản
xứ Giáo xứ Du Sinh
Tôi
không xa lạ với Giáo xứ Du Sinh. Thời cha Phaolô
Nguyễn Văn Hồ, Ofm, làm Quản xứ, mỗi
lần ngài đi vắng, một hai ngày hoặc một hai
tuần, cha Hồ đă thường nhờ tôi lên thay. Khi
cha Phanxicô Xaviê Vũ Phan Long được thuyên chuyển
đi sau hai năm làm Quản xứ không chính
thức,
cha Đaminh Nguyễn Ngọc Hiếu ở Suối Thông B
Huyện Đơn Dương chưa có người thay
thế để cha về làm Quản xứ Du Sinh, tôi
được cắt cử làm Quản nhiệm Giáo
xứ Du Sinh. Giai đoạn Quản nhiệm của tôi kéo
dài bảy tháng.
Trong
thời gian đó, nhân chuẩn bị kỷ niệm 40
năm thành lập Giáo xứ Du Sinh, tôi tiếp tục
thực hiện cho xây Cổng Tam Quan và khoảng 80 bậc
cấp bằng đá chẻ từ Cổng Tam Quan lên Nhà
thờ. Hai con rồng lớn hai bên cũng được
đúc trong thời gian này. Nghệ nhân đúc rồng, lănh
tiền xong, trốn đi luôn, không chịu sửa lại
theo đề nghị của tôi. Thấy chưa cấp
bách, tôi tạm gác để đó và dành ưu tiên cho
những công tŕnh khác cần thiết hơn. Hai con rồng
nhỏ cha Rôcô Trần Phúc Long cho đắp hai bên bậc
cấp lên Cung thánh được di giời ra ngoài và
đặt trên Cổng Tam Quan. Cuộc mừng kỷ
niệm 40 năm thành lập Giáo xứ (1955-1995)
diễn ra long trọng và tốt đẹp, đem lại
niềm vui cho nhiều người trong và ng̣ai Giáo
xứ.
Đức cha Phêrô từ Sài G̣n về, ngài ghé Bảo
Lộc, và vội lên Đà Lạt để kịp
đến Du Sinh chủ tế Thánh lễ cùng đông
đảo các cha đồng tế. Sau đó, tôi
đứng ra tổ chức cuộc lễ nhận xứ
của cha Hiếu. Măn thời gian bốn năm của cha
Hiếu, tôi được cử lên thay thế cha Hiếu.
Cha Hiếu được điều về Cộng
đ̣an Đakao, Sài G̣n.
Đảm
nhận trọn vẹn trách nhiệm một cha Quản
xứ, sự thực tôi không có ơn gọi ấy.
Điều này tôi đă nói ra công khai, nhưng v́ đức
vâng lời, tôi sẵn sàng đón nhận gánh nặng.
Từ tháng 03-1999, tôi đă nhận trách nhiệm rồi, v́
đó là hạn chót để anh em ổn định
vị trí và nhiệm vụ mới theo sự bố trí
của Tỉnh Ḍng. Trong khi chờ đợi Chính quyền
kư đơn Ṭa Giám mục nh́n nhận tôi làm Quản xứ
Du Sinh, cha Hiếu thỉnh thoảng phải từ Sài G̣n
lên cho có mặt, để tỏ ḷng tôn trọng chính quyền. Tỉnh Ḍng cho cha Hiếu nghỉ
Quản xứ Du Sinh theo nguyện vọng của ngài, v́
bốn năm làm cha Quản xứ Du Sinh, ngài phải
điêu đứng do những bất đồng trầm
trọng. Nhưng điều ngài về Sài G̣n, ngài có vẻ
không hài ḷng lắm. Ngài như muốn tiếp tục ở
lại làm Quản xứ Du Sinh? Hội đồng Giáo
xứ gồm 20 người từng cộng tác chặt
chẽ với ngài ủng hộ đắc lực
nguyện vọng đó. Giáo xứ ở trong t́nh trạng
bất ổn kéo dài. Nhiều đơn từ, nhiều
phái đoàn của nhóm ấy chạy lên Ṭa Giám mục,
họ chạy về Sài G̣n gặp cha Giám Tỉnh Ḍng
Phanxicô (cha Alexis Hải) để vận
động níu kéo cha Hiếu
ở lại coi xứ Du Sinh.
Tháng
09-1999, sau khi Chính quyền kư nhận tôi làm Quản xứ,
tôi lo chuẩn bị tổ chức Ngày lễ Đức
cha về đặt tôi làm Quản xứ, đồng
thời kết hợp với việc cám ơn và từ giă
cha cựu Quản xứ. Tôi muốn tiếp tục lưu
lại Hội đồng Giáo xứ để họ
cộng tác với tôi trong việc phục vụ Giáo
xứ. Nhưng sau nhiều cuộc họp, tôi nhận ra
không ổn. Tôi hoàn toàn bị khống chế, không thực
hiện được chương tŕnh của ḿnh. Họ
như muốn ép tôi tiếp tục thực hiện
những ǵ cha Hiếu đă dự kiến, trong đó có
nhiều công tŕnh không được sự nhất trí
của số đông. Tôi đành phải cho tổ chức
bầu lại Hội đồng Giáo xứ. Cuộc
chuẩn bị cũng như cuộc bầu bán này gặp
nhiều khó khăn. Cuối cùng, tôi đă có một Hội
đồng Giáo xứ mới, không lư tưởng lắm,
nhưng đáp ứng được hoàn cảnh cụ
thể của Giáo xứ.
Cuộc
bàn giao không êm thắm ǵ! Đức cha nhờ cha Tổng
Đại diện (Cha Giuse Vơ
Đức Minh) về giải quyết. Cả Đức
cha cũng phải đích thân về can thiệp. Nhận
thấy t́nh trạng hỗn loạn căng thẳng kéo dài
quá lâu, gần một năm trời, gây hoang mang cho bà con
giáo dân và thiệt hại đến tinh thần và t́nh
đoàn kết của Giáo xứ. Tôi nhận ra lẽ
phải không đủ để thuyết phục tinh
thần thế gian. Rơ ràng có sự chống phá để
chống phá chứ không mang tính xây dựng, tôi đành
phải mạnh tay, v́ lợi ích của Giáo xứ, biết
rằng sẽ có một ít người phải hy sinh danh
dự (Đó là điều đau đớn
nhất không thể tránh được!). Tôi đánh ra
được 20 trang giấy đánh máy, tường
thuật đầy đủ mọi hành vi và toàn bộ
diễn biến liên quan đến Giáo xứ trong suốt
một năm vừa qua. Tôi có đủ kiên nhẫn
chịu đựng lâu dài, nhưng c̣n lại số đông
giáo dân th́ sao? Họ quá hoang mang v́ t́nh trạng chia
rẽ phe phái trong Giáo xứ! Tôi phải công khai hóa để
mọi người hiểu vấn đề và cùng
cộng tác giải quyết.
Đầu
một Thánh lễ ngày Chúa nhật, thay cho bài giảng sau
Phúc Âm, tôi mời bà con giáo dân ngồi xuống lắng nghe.
Tôi đọc và giải thích 5 trang trong số 20 trang
giấy nói trên. Thời gian đă hết 45 phút. Tôi hứa
sẽ tiếp tục tŕnh bày hết 15 trang c̣n lại,
nếu t́nh trạng vẫn không ổn. Kết quả
đă đến khá nhanh. Không bao giờ tôi phải dùng
đến 15 trang c̣n lại ấy nữa. Số đông
giáo dân biết chuyện, đă tỏ ra bất măn với
nhóm nhỏ đă nhân danh họ làm những chuyện mà
họ không hề hay biết, khiến cả Giáo xứ
phải mang tiếng! Họ không để tôi phải
chống đỡ một ḿnh. Nhóm chống tôi bị cô
lập, không c̣n tiếp tục hành động kiểu
cũ nữa. Trong nhóm, có nhiều người đầy
thiện chí, họ bị lèo lái, chứ thực tế,
họ rất thành tâm. Họ phải sống trong mặc
cảm nặng nề một thời gian cho tới khi
hầu như cả nhóm đều dấn thân cộng tác
với tôi cách tích cực để xây dựng Giáo xứ.
Hầu như mọi người trong nhóm này lại là
những người thuộc số hăng hái nhất tham
gia công tác xây dựng Nhà thờ mới.
Giáo
xứ được ổn định, ai nấy vui
vẻ và b́nh an. Tôi thi hành chức năng Quản xứ
của ḿnh: Tổ chức Phụng vụ, củng cố
các Hội đoàn, họp
Hội đồng Giáo xứ đều đặn...
Tôi cũng phải quan tâm đến đời sống xă
hội của bà con trong khu vực.
Hoạt
động xă hội
Tận
dụng chương tŕnh Nhà nước và nhân dân cùng làm,
tôi vận động kinh phí hỗ trợ nhiều dự
án quan trọng. Nhiều con đường đất
lồi lơm và trơn trượt khu vực Du Sinh đă
được tráng nhựa hoặc đổ bê tông xi
măng. Con đường đầu tiên từ
Đường Huyền Trân công chúa chạy qua Cổng Tam
Quan dẫn lên đỉnh đồi Du Sinh có sự đóng
góp của Quỹ xă hội Tỉnh Ḍng Phanxicô. Tôi kêu
gọi mọi người trong xứ cùng đóng góp, v́
đó là con đường chung. Bà con trong Tổ 54 đóng
nhiều hơn, v́ họ là chủ đầu tư.
Chỉ sau ba tháng, dân đă có đủ số tiền
phải nộp. Dân Du Sinh được đánh giá là có
sự đoàn kết. Cán bộ Phường cho biết:
Nhiều nơi khác, dân đóng ba năm vẫn chưa
đủ, trong khi Du Sinh chỉ mới ba tháng
đă góp đủ! Công ty Lâm Viên về
thi công. Đường tráng nhựa xong, bà con phấn
khởi. Nhà nước cho làm thêm một con
đường thứ hai. Trong số 30% dân phải
đóng để thực hiện con đường
tiếp theo này, Thành phố cho không 100.000.000, 00
VNĐ (Một trăm triệu đồng). Như thế dân
sẽ đóng nhẹ hơn. Tôi sợ vận động
kinh phí không kịp, dự án bị rút lại th́ uổng,
tôi chạy làm đơn lên cả Đức cha Đà Lạt
“mượn” tiền, hứa sẽ trả sau. Đọc
xong bản tŕnh bày của tôi, Đức cha trả lời:
“Tôi rất thích các cha làm những việc như thế.
Nhưng đừng lên Ṭa Giám mục mà xin tiền. Thay v́
cho mượn, tôi coi đây như một sự đóng góp
của Ṭa Giám mục, v́ Du Sinh là một
Giáo xứ nghèo...”. Cám ơn Đức cha. Cám ơn Ṭa giám mục.
Đường Mẫu Tâm này, Công ty Công tŕnh đô thị thành
phố Đà Lạt thực hiện.
Kỹ
sư, nhà thầu và các công nhân của các Công ty về
thực hiện các công tŕnh kia tại địa bàn Du Sinh
đều cảm thấy thoải mái. Mỗi lần
gặp khó khăn trong thi công, họ đều chạy
đến nhờ tôi can thiệp. Tôi lên tiếng, giáo dân
không làm khó dễ... Tôi được đánh giá là linh
mục có uy tín. Một cô kỹ sư của Công tŕnh Đô
thị (một lương dân)
hỏi tôi tại Nhà xứ:
- Các
linh mục có được lấy vợ không?
-
Đi tu th́ c̣n lấy vợ ǵ nữa. Chúng tôi phải
giữ luật độc thân suốt đời.
-
Thế th́ buồn thật! Nhưng thích, v́ có uy tín,
được dân chúng kính trọng!
Đúng
là người ngoại đạo, hỏi những
chuyện đơn sơ và suy nghĩ theo thế gian.
Nhưng cô có vẻ chân thành. Những ngày về làm việc
trong khu vực Du Sinh, cô cũng như những người
khác đă có kinh nghiệm mới mẻ ấy. Một cô
đảng viên khác trước kia ở Miền Bắc
rất ác cảm với các linh mục. Vào Nam, cô sống bên
cạnh Tu viện chúng tôi. Cô nhận xét: “Các linh mục
trong Nam hiền lành, gần gũi với dân chúng, thấy
họ cũng b́nh thường”. Nếu các đảng viên
đều hiểu như thế, xóa tan mọi ác cảm,
tin tưởng nhau, đất nước này chắc
chắn sẽ khá hơn.
Hai
con đường huyết mạch ấy ấy hoàn thành,
bà con dân chúng ở các con đường nhỏ khác
thấy vậy cũng nôn nóng muốn có đường
nhựa hoặc bê tông xi măng. Họ đua nhau làm
đơn, họ hăng hái đóng góp... Những con
đường kinh phí cao trong khi dân hai bên đường
thưa thớt, họ tin tưởng vào lời kêu gọi
của tôi. Họ nói: “Cha có đứng ra th́ mới làm
nổi”. Cán bộ địa phương trong khu vực
cũng nói: “Linh mục nói một tiếng là
được”. Đường sá tốt, dân cảm
thấy không cần đi t́m đến ở nơi nào
khác, họ muốn ổn định cuộc sống.
Một phong trào thi đua xây nhà mới được phát
động. Nhiều ngôi nhà cũ trải qua nhiều
chục năm được thay thế bằng những
ngôi nhà mới khang trang. Những gia đ́nh bên ng̣ai có vẻ
nghèo khó, bỗng họ đào tiền đâu ra để
xây những ngôi biệt thự đắt giá. Có lẽ
đă đến lúc họ có thể bám trụ ở
mảnh đất Du Sinh này được.
Nước
sinh hoạt cho các hộ dân trên đỉnh Đồi Du
Sinh là vấn đề cấp thiết. Năm chục
năm qua, họ sử dụng nước bơm từ
Hồ Hy Vọng lên. Hồ Hy Vọng nay không c̣n đủ
tiêu chuẩn vệ sinh. Nước tù đọng, rác
rưởi và phân bón trên đường tuôn xuống,
nhiều người xuống đó giặt giũ. Một
cô từ nơi khác về làm dâu ở Du Sinh, mỗi lần
uống nước Hồ Hy Vọng, cô sặc sũa, ói
mửa. Cô bắt chồng hằng ngày đưa xe hai bánh
đi ra phố chở một hai can nước về cho
cô dùng. Nói đến xin đưa nước sạch
về, ai cũng nhất trí. Dân làm đơn nộp Nhà máy
cấp nước, được hồi âm: “Đây là
tổ chức kinh doanh, không có chuyện hỗ trợ.
Đóng đủ tiền, chúng tôi cho nước về”.
Sau khi biết kinh phí phải đóng, nhiều cuộc
họp dân đă được triệu tập về Nhà
xứ. Số tiền khá lớn! Nếu đổ
đồng đều cho mọi gia đ́nh, có những gia
đ́nh sẽ không đủ khả năng! Chúng tôi
đưa ra mức đóng góp vừa phải, phần c̣n
lại tôi và một số mạnh thường quân ủng
hộ. Đồi Du Sinh quá cao so với Bể chứa
của Thành phố, nước chỉ lên đến
nửa đồi, chúng tôi phải xây bể ở lưng
chừng đồi, đặt mô tơ đẩy
nước lên đỉnh đồi. Từ đó,
nước chảy về từng hộ dân. Như
vậy, ba cái cần đă được đáp ứng:
điện, đường, nước. Dân chúng hân hoan
nh́n thấy cuộc sống có nhiều bước đi
lên. Bộ mặt Du Sinh thay đổi hẳn. Trong mấy
năm tôi làm Quản xứ, để thực hiện các
công tŕnh trên, giáo dân Du Sinh đă phải đóng góp nhiều
hơn số tiền họ đóng góp trong cả sáu
đời cha Quản xứ trước, tức hơn
cả 50 năm cộng lại. Đóng góp nhiều,
nhưng không ai phàn nàn, v́ họ thấy những thành
quả thiết thực mà bản thân họ
được hưởng. Họ tin tưởng vào tôi,
v́ thấy tôi “làm cái ǵ ra cái đó”, theo như họ nói; “cha
làm xong cái này đến cái khác, chứ không làm tùm lum”, “Cha
làm cái ǵ cũng tốt đẹp cả”. Hễ phát
động quyên góp cho một dự án nào, bà con giáo dân
đều nói: “Cha đứng ra, chúng con mới đóng”.
Nắm
bắt thời cơ, nhận thấy thiên thời
địa lợi, biết giáo dân đóng tiền liên
tục cũng tội nghiệp, nhưng không c̣n cách nào khác!
Công tŕnh quan trọng nhất, đ̣i hỏi kinh phí cao
nhất, chính đáng nhất, đó là xây dựng lại
ngôi Nhà thờ Giáo xứ.
Khi
thiết lập Trại định cư Du Sinh, cha Thiên
Phong Bửu Dưỡng đặt tên đường theo
ngôn từ tôn giáo: Đường Âu Tinh, Đường An
Tôn, Đường Fatima, Đường Lộ Đức,
Đường Gioan ... Con đường Huyền Trân công
chúa bắt đầu từ Đường Trần Phú (Nay là Hoàng Văn
Thụ) chấm dứt trước Nhà thờ Du Sinh. Con
đường đất từ cuối Đường
Huyền Trân vào tới Học viện Phanxicô là Đường
La Vang. Ngày nay Đường Huyền Trân công chúa kéo dài vào
tới Nghĩa trang Du Sinh, Nghĩa trang của Thành phố.
Như vậy Đường La Vang đă biến mất
trên bản đồ. Tôi bị mắc lừa và học
được kinh nghiệm trong vụ Nhà Nước làm
con đường này.
Trước khi
thi công, các cán bộ Pḥng Dự án đầu tư xây
dựng Thành phố đến Tu viện Phanxicô gặp tôi
để làm việc. Họ tự giới thiệu và
giới thiệu nhau, tôi không quan tâm đến danh tánh,
chỉ nhớ một ông tên Thế. Một anh kỹ sư
khá trẻ cùng đi trong Đoàn. Họ tŕnh bày Dự án
mở rộng và đổ nhựa Đường
Huyền Trân. Theo nguyên tắc, đường phải
mở rộng đồng đều sang hai bên. Nhưng
đoạn đường đi qua đất chúng tôi,
đất chúng tôi ở phía cao, chỉ cần cho xe
gạt đất đi là xong, phía bên kia thấp hơn,
đ̣i hỏi vừa phải bồi thêm đất vừa
phải lu nén công phu tốn kém. Họ chọn phương
án lấn sang phía chúng tôi khoảng hai mét. Đoạn
đường chạy dọc theo vườn chúng tôi dài
cả trăm mét. Như vậy, số diện tích chúng tôi
phải hy sinh khá lớn. Họ hứa sẽ bồi
thường, nếu có giấy tờ chủ quyền.
Nói
đến giấy tờ chủ quyền, Tu viện chúng
tôi chưa được cấp. Bao lần đi học
tập với dân về luật đất đai, có
đợt học ba ngày liên tiếp. Đến khi ra khai
đất, dân chúng được khai đầy
đủ, tới phiên tôi, cán bộ hỏi:
- Anh
ở đâu?
- Tôi
ở Tu viện Phanxicô.
Nói
đến Tu viện, anh cán bộ ngắt ngay:
-
Khỏi! Tu viện không phải khai. Đất tôn giáo Nhà
Nước bảo hộ. Chỉ dân khai thôi.
Tôi ra
về, an tâm về chuyện giấy tờ đất
đai... Nay cán bộ đ̣i hỏi giấy tờ, tôi nói:
-
Chúng tôi chưa được cấp giấy ǵ cả.
Nếu đ̣i hỏi giấy tờ, phải chờ chúng
tôi có giấy tờ đă.
Anh
cán bộ nhanh miệng trấn an:
-
Như vậy th́ chậm tiến độ thi công. Không sao,
đất sử dụng lâu năm, không có tranh chấp th́
cũng được đền bù. Giấy tờ là
chỉ để cho mấy ông quản lư Nhà Nước
nắm rơ đất đai của dân thôi. Chủ quyền
chính là ḿnh đang ở trên mảnh đất này đây.
Tôi
đặt vấn đề số cây bạch đàn chúng
tôi trồng dọc bờ rào trên 30 năm nay th́ sao. Anh
kỹ sư trẻ trả lời:
-
Chúng tôi sẽ cho người đến cưa khúc như
thế này (Anh giang hai tay làm hiệu khoảng
một thước) và xếp vào bên lề
đường. Các tu sĩ chỉ cần cho người
ra khiêng về làm củi.
Được
những lời ngọt ngào hứa hẹn như thế,
tôi an tâm đặt bút kư chấp nhận cho tiến hành.
Chúng
tôi cho anh em ra tháo bờ rào thép gai lùi vào trong hai mét. Hai hàng
bạch đàn bấy giờ nằm ra ngoài
đường, không c̣n thuộc về đất chúng tôi.
Đường
thi công xong. Chúng tôi nhận được giấy mời
đi nhận tiền đền bù. Trên giấy có những
hàng chữ sau: “Đất không có giấy chứng nhận
chủ quyền, không được đền bù”. Họ
trả công di giời hàng rào số tiền 1.600.000, 00
VNĐ (Một triệu
sáu trăm ngàn đồng). Số đất trị giá vài
trăm triệu không hề được nói đến.
Tôi thấy bị lừa gạt (Cán bộ đi
lừa dân!), tôi không đi nhận tiền đền bù láo
lếu kia. Không biết bây giờ nó nằm ở đâu?
Tôi
hỏi về số cây bạch đàn th́ sao? Các anh đă
hứa cho người cưa rồi mà? Anh cán bộ
trả lời:
- Cái
đó phải làm đơn lên Ban quản lư cây xanh Thành
phố.
Lại
thêm một cú lừa. Tôi vẫn làm đơn, mang lên
nộp Ban Quản lư cây xanh. Mấy ngày sau, cán bộ cây xanh
đến Tu viện xác minh. Anh ta nói:
- Ai
trồng th́ trồng, bây giờ nó như thế, nó
thuộc cây xanh Thành phố. Chỉ có Chủ tịch
Ủy Ban nhân dân Thành phố mới có quyền kư cho
chặt mà thôi.
Cán
bộ ra về, có lẽ họ đă tŕnh đơn
của tôi lên Ông Chủ tịch Ủy Ban? Một thời
gian sau, cán bộ quản lư cây xanh trả lời:
- Cho
phép chặt, nhưng phải chừa 10 mét từ
dưới gốc lên.
Nếu mỗi cây chừa từ gốc lên 10 mét, chúng tôi
cũng chỉ được hưởng mấy cái
ngọn đầy lá thôi. Thấy không bơ công, chúng tôi hy sinh
để lại hàng cây v́ lợi ích của toàn dân!
Thế là của tư biến thành của công một cách
tự nhiên, không một lời cám ơn!
Giáo xứ Du Sinh
sở hữu mấy mảng đồi tổng cộng
trên 24.000m2: một mảng quanh khu vực Hồ Hy Vọng,
ngay từ đầu cha Bửu Dưỡng không cho ai canh
tác, v́ sợ ô nhiễm hồ nước sinh hoạt
của Giáo xứ. Những mảng khác được
giữ
lại để sau này cấp tiếp cho những hộ
mới trong hàng con cháu giáo dân sinh ra. Đất đồi
dốc và không được tốt lắm, nên không
được khai thác nhiều. Hơn nữa, đa
số phụ nữ và con cái Du Sinh hưởng lương
trợ cấp của chồng, cha, khi những
người này là công chức hoặc quân nhân, một
số bà chăn nuôi heo thu nhập cao. Thỉnh thoảng
mới có một ít người ra đào bới vài
khoảng đất nhỏ để trồng khoai lang,
bắp, chè...
Sau
1975, v́ nhu cầu cứu đói và nhất là từ khi Nhà
Nước phát động phong trào đi kinh tế mới
mang tính bắt buộc, ai không đủ đất làm nông
nghiệp th́ không được ở lại Thành phố,
bà con giáo dân vội vàng chia nhau khai thác các mảng
đất ấy. Khi đó, trồng khoai chuối lấy
bột làm miến cho kết quả cao hơn cả. Du Sinh
bấy giờ nhà nhà trồng khoai chuối, nhà nhà làm
miến. Anh em Tu viện Phanxicô chúng tôi cũng đă
từng đóng cối xay bột, nhiều phên phơi,
sản xuất miến cung cấp cho thị trường.
Năm
1984-1985, cha Quản xứ Nguyễn Ngọc Hiếu thu
hồi lại đất của Giáo xứ, kêu gọi giáo
dân làm công tác. Cha cho trồng cây cà phê trên số đất
đă thu hồi, hy vọng kết quả sẽ đóng góp
cho ngân quỹ của Giáo xứ. Cà phê Giáo xứ chưa
kịp thu hoạch th́ cà phê rớt giá! Những nơi
trồng cà phê chuyên nghiệp như Bảo Lộc,
Buônmathuột cũng điêu đứng, nhiều
người đốn bỏ cà phê trồng cây khác! Nhà
nước vẽ Dự án quy hoạch Đồi Antôn
ngốn trọn diện tích đất cà phê của Giáo
xứ. T́nh trạng tối sáng chưa ngă ngũ,
vườn cà phê không được chăm sóc nên xuống
cấp! Dù sao, Giáo xứ đă bảo vệ
được một số đất như thế làm
tài sản chung của Giáo xứ. Nếu không phải
đất Giáo xứ, dân chúng đă xâm chiếm hết
từ lâu!
Ban
đầu, các cán bộ đo đạc cắm mốc
nửa vườn phía sau Nhà xứ. Họ nói: “Phần phía
trên sẽ làm sổ giao cho Nhà thờ. Một thời gian
sau, họ về cắm mốc lên sát đường
đi. Tôi hỏi: “Lần trước cắm cọc ở
giữa vườn, sao bây giờ lại cắm tuốt
trên này?”. Một anh trả lời: “Quy hoạch lại, quy
hoạch mới này là quy hoạch chính thức”. Như
thế, chúng ta đủ biết các nhà quy hoạch của
chúng ta làm rất tùy tiện, vẽ theo hứng, nhằm
lấy được càng nhiều đất của dân
càng tốt.
Trong
Dự án Đồi Antôn, ngoài đất Giáo xứ, c̣n nhà
và đất của 23 hộ dân khác, giáo dân cũng như
lương dân. Mỗi lần cán bộ về đo
đạc, vẽ bản đồ địa chính, họ
đều mời Hội đồng Giáo xứ đi theo
để xác minh phần đất của ḿnh. Họ cho
chúng tôi một bản phôtô trên đó ghi “Nhà thờ” hẳn
hoi. Thế mà, khi giấy báo được gửi về,
Giáo xứ không được nhắc đến và không
được đền bù đồng nào, chưa hề
có một sự thỏa thuận nào với Giáo xứ. Chúng
tôi gửi đơn khiếu nại lên các cấp Chính
quyền. Một Ban Thanh tra Tỉnh được
thiết lập. Chúng tôi được mời lên làm
việc. Họ đ̣i giấy chủ quyền, chúng tôi tŕnh
bày: “Khi lập Trại định cư Du Sinh, không
biết Chính quyền Sài G̣n lúc đó có cấp giấy
tờ ǵ không. Nếu có, những giấy tờ ấy
cũng đă bị cháy trong biến cố Mậu Thân. Hai
bên giao tranh ngay trên ngọn Đồi Du Sinh, ai nấy
chạy thoát mạng. Khi trở về, Nhà xứ và 97 nhà dân
cháy rụi! Sau 1975, chúng tôi đă kê khai nhiều lần,
nhưng chưa được cấp Sổ chủ
quyền!”. Không chịu cấp Sổ, nhưng khi muốn
lấy đất lại đ̣i Sổ, thật vô lư. Chúng
tôi đă làm chủ số đất trên nhiều chục
năm, không hề có ai tranh chấp. Chúng tôi đem tŕnh
một tờ phác thảo nói trên do các cán bộ đo
đạc cấp trên đó có ghi “Nhà thờ”. Bản đó
chưa có chữ kư chính thức, không được
đánh giá cao. Các cán bộ có thể dựa vào đó
để coi như không có giá trị pháp lư!
Một
thời gian sau, chúng tôi nhận được một
tờ giấy báo: Đất không đủ điều
kiện để được bồi thường,
nhưng được hỗ trợ 30% giá đất nông
nghiệp. Lúc đó đất nông nghiệp đă có giá
mới: 76.000, 00 VNĐ (Bảy mươi sáu
ngàn đồng), nhưng Ban đền bù lại áp theo
giá
cũ (36. 000, 00 VNĐ) cho chúng tôi,
với lư do họ cho là lợi cho dân: Theo giá đề bù
cũ, hoa màu được đền bù cao hơn.
Đúng là cán bộ thương dân kiểu cán bộ:
Tất cả cây cối, hoa màu trên đất Giáo xứ
được đền bù cao nhất cũng chỉ
100.000.000, 00 VNĐ (Một trăm triệu đồng).
Trong khi đó, theo giá mới, với số đất trên
24.000 m2, số tiền đền bù đất c̣n cao
hơn nhiều lần so với số 100.000.000, 00 VNĐ
kia. Thế gọi là lợi
hơn cho dân?
Như vậy chúng tôi
được ban phát chưa đến 10.000 , VNĐ (Mười
ngàn đồng) một mét vuông trong khi giá đất theo thị
trường thực tế giá từ 1.000.000, 00
VNĐ (Một triệu đồng) đến
2.500.000, 00 VNĐ (Hai
triệu năm trăm ngàn đồng) một mét vuông. Chúng
tôi không chấp nhận và dứt khoát không đi nhận
số tiền đền bù tượng trưng đó. Các
cán bộ liên tục đe dọa: “Không nhận đền
bù, tiền sẽ nộp vào công quỹ!”, “Không nhận, hai
tuần nữa, chúng tôi cũng cho xe về thi công!”...
Nhưng chúng tôi thà bị tước đoạt bằng
sức mạnh chứ không kư giao đất dễ dàng
như thế. Nếu bị tước
đọat, sau này có cơ hội, chúng tôi sẽ có thể
đ̣i lại được.
Trong
các buổi tiếp xúc cử tri, tôi đă tranh đấu
mạnh mẽ để bảo vệ đất của
Giáo xứ, đồng thời tôi cũng bênh vực cho
cả số 23 hộ dân bị quy hoạch kia nữa.
Họ rất mừng v́ tôi nói thay cho họ. Họ hứa
luôn đứng sau lưng tôi. Nhiều đại biểu
Hội đồng nhân dân nhất trí với tôi. Họ nói:
“Phải bồi thường cho Nhà thờ, v́ nếu không
có Nhà thờ làm bờ rào bảo vệ, dân chúng đă
chiếm hết rồi. Bây giờ các ông làm quy hoạch, các
ông cũng phải đền bù cho họ vậy”. Tại
Hội trường Phường 5 Thành phố Đà
Lạt, hôm đó có đầy đủ Đại biểu
Hội đồng nhân dân của các cấp Tỉnh, Thành
phố, Phường, các Ban ngành và đông đảo các
thành phần dân chúng, tôi thay mặt bà con trong khu Quy hoạch
Đồi Antôn đọc một bài phát biểu gây
tiếng vang lớn và tác động mạnh lên những
người hiện diện hôm đó.
Tôi tố
giác những sai trái của các cán bộ làm quy hoạch và Ban
đền bù. Tôi yêu cầu các Đại biểu Hội
đồng nhân dân chỉ đạo cho các Ban ngành
để họ khỏi làm mất ḷng dân. Các cán bộ
bất chấp những quy định của một
Dự án quy hoạch: Nào là đền bù hơn hoặc
bằng, nào là hỗ trợ di giời, nào là t́m công ăn
việc làm, nào là giúp học nghề... để ổn
định cuộc sống nơi ở mới. Các hộ
liên hệ trong Dự án quy hoạch Đồi Antôn
đất nông nghiệp được đền bù 36.000, 00
VNĐ
mỗi mét vuông, được mua lại một lô
đất cũng trong khu Quy hoạch đó với giá
800.000, 00 VNĐ một
mét vuông. Sau khi đă giao hết nhà, hết vườn,
hết đất, khi mua lại một lô đất
trống, chẳng những dân chỉ c̣n hai bàn tay
trắng, mỗi hộ c̣n phải nợ Ngân hàng thêm từ
200.000.000, 00 VNĐ đến 300.000.000, 00
VNĐ
(Từ hai trăm đến ba trăm triệu!). Liên quan
đến đất Giáo xứ, tôi tuyên bố: “Cấp
Sổ hay không, đó là việc của Nhà Nước, chúng
tôi không tự cấp giấy cho ḿnh được.
Nếu chưa có sự thỏa thuận mà cứ ngang nhiên
về thi công, tôi không chịu trách nhiệm về những
hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra. Lúc
đó, nếu các ông chạy đến nhờ tôi can
thiệp, tôi dứt khoát đứng ngoài cuộc để
dân chúng thi hành quyền dân chủ và bảo vệ quyền
lợi của họ. Để bảo đảm tôi
đă nói công khai tại Hội trường này hôm nay, tôi
xin gửi lại cho các ông tờ phát biểu”. Ông Chủ
tịch Mặt Trận Phường mau mắn chạy
tới nhận Bài phát biểu của tôi đưa lên Bàn
Chủ tọa. Tôi nh́n thấy một hàng dài các vị
Đại biểu trên Bàn Chủ tọa nh́n nhau, vẻ lúng
túng. Đại diện các vị trả lời chất
vấn không thuyết phục và cố ư tránh né vấn
đề. Ít ra, tôi đă công khai hóa được
nhiều chuyện mờ ám trong các quy họach, giải
tỏa và đền bù.
Ngày
hôm sau, ông Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
Tỉnh (Ông Dũng) cùng Phó Chủ tịch
Ủy Ban đoàn kết Công giáo Tỉnh (Ông Căn)
đi xe con đến Nhà xứ gặp tôi để t́m
hiểu thêm vấn đề. Ông Dũng nói: “Xin linh mục
cho biết rơ hơn, bởi v́ ở Hội trường có
thể nghe chưa rơ hoặc Thư kư ghi không đủ”.
Tôi tŕnh bày cho các ông đầu đuôi và tôi cho họ
thấy lập trường cương quyết của
tôi. Ra nh́n vườn cà phê của Giáo xứ, ông Dũng nói:
“Đất nông nghiệp giá 76.000, 00 VNĐ/m2 th́ Trung
ương đă kư rồi. Nhưng đất nông
nghiệp ở đâu vùng sâu vùng xa kia, c̣n đất trong
Thành phố này th́ có thể tính theo khung giá khác”. Tôi nói:
“Nhưng ông Ḥa Chủ tịch Tỉnh đă kư rồi!”. Ông
Dũng trấn an tôi: “Kư th́ kư lại mấy hồi”. Cách
hiểu như ông Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân Tỉnh như thế kể cũng có
thể chấp
nhận được.
Thế nhưng, các cán
bộ Ban đền bù vẫn tiếp tục tính tóan theo
kiểu cố hữu của ḿnh! Họ tính lại theo giá
mới đất nông nghiệp, giá đền bù có
được nhích lên, nhưng Giáo xứ cũng chỉ
được hỗ trợ
chưa đến 20.000, 00 VNĐ (hai chục ngàn
đồng) một mét
vuông. Giá như thế vẫn c̣n quá xa với giá thực tế, chúng tôi không
nhận tiền. Dự án cù cưa kiểu bán cá ấy treo
hết năm này qua năm khác. Dân chúng kêu, các cán bộ
giải thích: “Dự án chậm thi công chứ không phải
treo”. Một cách giải thích ngụy biện! Tôi
được thuyên chuyển, đất Giáo xứ vẫn
c̣n đó, trách nhiệm bây giờ thuộc cha Quản
xứ mới và Hội đồng Giáo xứ. Tôi chỉ
cố vấn khi được hỏi đến. Tôi nói
và hầu như họ đă nhất trí: “Không một linh
mục Quản xứ nào, không một Hội đồng
Giáo xứ nào muốn suốt đời mang tiếng “dâng
đất”, “hiến đất”, “giao đất”, tài
sản chung của Giáo xứ trị giá cả chục
tỷ để lấy mấy trăm triệu”. Lập trường
dứt khóat của tôi là thế.
Khi tôi
rời khỏi Dà Lạt, một số hộ cảm
thấy không c̣n chỗ dựa, đă đi nhận
đền bù và tháo giỡ nhà. Những hộ không có
miếng đất nào khác, phải ở nhà thuê chờ ngày
tái định cư.
Linh hướng Nữ tu
Anh em
trong Ḍng, nếu qua một nhiệm kỳ mà không thuyên
chuyển đến một Tu viện khác, công tác
thường được cộng thêm chứ không
bớt. Khi tôi nhận làm Quản xứ Du Sinh, tôi vẫn
tiếp tục đảm nhận các trách nhiệm đă
được giao phó từ khóa trước. Đáp
ứng lời mời gọi của Đức cha Giáo
phận, tôi nhận thêm sứ mạng làm linh hướng
cho Nhà tập Ḍng Mến Thánh giá Đà Lạt. Tiếp
đó, cha Tổng Đại diện kiêm Quản hạt
Đà Lạt nhờ tôi làm linh hướng Hội các Bà mẹ
Công giáo Giáo hạt Đà Lạt. Vai tṛ sau cùng này
chỉ mới được bắt đầu, chưa có
ǵ đáng nói. Chuyện linh hướng cẩn nói
đến hơn.
Ban
đầu ư Đức cha chỉ nhờ tôi lo cho lớp
Tiền tập thôi, khoảng trên 24 cô. Nhưng khi bắt
tay vào việc không lâu sau, xơ Tập sư xin tôi lo cho các
Tập sinh nữa, v́ theo xơ Tập sư, Nhà tập
cần linh hướng
hơn. Tôi cho Đức cha biết chuyện, ngài không
ngăn cản ǵ. Có lẽ ngài âm thầm theo dơi, nếu có
ǵ nguy hiểm cho các Tập sinh thánh thiện của ngài,
ngài sẽ can thiệp. Nhưng ngài im lặng để tôi
làm suốt tám năm.
Mỗi
tháng tôi dành hai ngày cho công tác mới này. Công việc
đều đặn: Sáng thứ hai sau Chúa nhật thứ
hai trong tháng, tôi xuống Bảo Lộc, ghé Lộc An dâng
lễ trưa cho Cộng đoàn Lộc An (cũng là MTG
Đà Lạt)- Ăn trưa- Mượn xe các xơ
chạy vào Nhà chính Tân Thanh, Cộng đoàn Trung ương
nơi đóng đô của Xơ Tổng Phụ trách
của Hội Ḍng, cũng là nơi huấn luyện
Tập sinh- Nghỉ trưa- Gặp cá nhân các Tiền
tập và các Tập sinh- Tham dự các Giờ Kinh- Cơm
tối- Gặp chung các Tiền tập và Tập sinh-
Nghỉ đêm- Dâng lễ sáng cho cả Cộng đoàn-
Tiếp tục gặp cá nhân- Ăn trưa- Nghỉ
trưa- Đi giúp một Huynh Đệ Đoàn Phan Sinh
Tại Thế- Khoảng 17 giờ: Về Lộc An trả
xe và đón xe về lại Đà Lạt, mang theo một bao
sầu riêng do các xơ biếu nếu gặp mùa thu
hoạch.
Cộng
đoàn Trung ương (Nhà mẹ) của
Ḍng Mến Thánh giá Đà Lạt khá rộng, v́ xưa đó
là Chủng viện Thanh Hóa di cư. Trước kia, các xơ
cũng là Mến Thanh giá Thanh Hóa, chuyển thành Mến Thánh
giá Đà Lạt thời Đức cha Batôlômêô Nguyễn
Sơn Lâm với sự thỏa thuận của Đức
cha Giáo phận Thanh Hóa (Đc Phêrô Phạm
Tần). Trong khuôn viên Nhà mẹ c̣n có Nhà Đệ tử (khoảng
130 nữ sinh), các đệ tử ngày ngày sắp hàng đi
học ở các Trường Phổ thông chung quanh, lớp
đi lớp về nhộn nhịp. Nhà mẹ có lúc 250
miệng ăn. Các bà khéo nuôi, có lẽ cũng dễ nuôi?
Nữ tu “thực” thua miêu.
Thời
gian đầu, các Đệ tử tham dự Thánh lễ
chung với các xơ, về sau Đệ tử có Nhà nguyện
riêng, tiện lợi cho sinh hoạt đặc thù của
tuổi trẻ và nhất là dễ sắp xếp phù
hợp với giờ giấc đi học Trường
ngoài. Dự lễ chung, gặp hôm cha say sưa giảng dài
một chút, các em nhịn ăn sáng, vội vàng
đi học cho kịp giờ. Cũng may, nhân viên gác
cổng Trường cũng biết thông cảm, em nào
đến Trường trễ giờ mà xưng là
Đệ tử Nhà Ḍng, họ cũng mở cổng cho
vào. Đi tu cũng có lợi. Xét cho cùng, cũng không
phải do lỗi các em.
Linh
hướng đúng nghĩa là hướng dẫn linh
hồn, hướng dẫn đường thiêng liêng.
Nhưng thực tế, linh hướng các Tiền tập
và Tập sinh, công việc đ̣i hỏi nhiều hơn
chuyện linh hồn. Cha linh hướng phải biết
hướng dẫn cả về tâm lư, giáo lư, nhân bản.
Cha linh hướng đóng vai tṛ một nhà tư vấn và
có khi phải chia sẻ kinh nghiệm tu tŕ của ḿnh.
Số Tiền tập và Tập sinh Ḍng Mến Thánh giá
Đà Lạt tại Tân Thanh xê xích giữa 68 đến 78
xơ con, tùy theo năm. Thật đáng mừng cho các Ḍng tu
nam nữ ở Việt Nam, ơn gọi luôn dồi dào trong
khi nhiều nước trên thế giới đang khát
ơn gọi! Mỗi lần xuống
Bảo Lộc, tôi chỉ gặp riêng cá nhân được một
lớp, khoảng 24 xơ. Nếu một vài xơ lớp
khác cần gặp riêng, tôi có thể đón tiếp sau khi
đă gặp hết lớp theo phiên của ngày hôm đó,
hoặc nếu hết giờ, tôi gặp họ sau nghỉ
trưa.
Có
những tâm hồn đơn sơ thấy rơ. Sự trong
sáng và sự thánh thiện chân thật tỏa chiếu ra
trên khuôn mặt, trong lời ăn tiếng nói, trong cách chia
sẻ đời sống. Cũng có những tâm hồn có
nhiều vấn đề. Các khó khăn của tu sĩ
thường xoay quanh đời sống cầu nguyện
và đời sống cộng đoàn. Các nữ tu khó
khăn hơn nam tu trong lănh vực t́nh cảm, mối
tương giao trong đời sống chung. Chỉ một
xung khắc cá nhân, kể cả một ác cảm tự
nhiên, cũng có thể dẫn đến thảm họa
nếu không khắc phục được! Tính tự ái
cũng dễ gây cản trở cho việc ḥa giải
nếu không t́m kiếm những giá trị siêu nhiên. Có
trường hợp xảy ra bất đồng, hai bên
đều cảm thấy nặng nề, hai bên đều
muốn giải ḥa với nhau, nhưng bước tới
giải ḥa lại là một bước khó khăn xét
về tâm lư. Tinh thần sợ hăi cũng làm suy giảm tính
hồn nhiên của con người thánh hiến. Sợ
Bề Trên, sợ Giám tập, sợ các xơ lớn...
sợ những thứ chẳng có ǵ đáng sợ dẫn
đưa người tu sĩ đến chỗ nhút nhát,
tránh né, đề pḥng! Sự sợ hăi ấy phát sinh
một phần do các nhà huấn luyện dùng lời đe
dọa hơn là đồng hành với ứng sinh. Ơn
gọi nhiều, chúng ta không tiếc khi mất đi
một vài người. Nhưng quí trọng ơn gọi
vẫn là điều nên làm và phải làm. Đe dọa sa
thải ứng sinh v́ lư do này hoặc lư do khác có thể
dễ ổn định trật tự trong nhà. Nhưng
đó chỉ là biện pháp cai trị. Người
đồng hành cần giúp ứng sinh hiểu cuộc
sống tận hiến và lượng định đúng
ơn gọi để quảng đại dấn thân. Hồn nhiên, vui
tươi, cởi mở, tốt lành, siêu thoát... là
những yếu tố góp phần xây dựng một
Cộng đoàn tu tŕ và đem lại sự b́nh an cho các tâm
hồn muốn hiến ḿnh cho Nước Trời.
Tám
năm làm linh hướng, tôi chưa nói được
nhiều niềm vui trên Thiên đàng. Đọc tiểu
sử cuộc nói chuyện giữa thánh Biển đức
và thánh Scôlastica, tôi cảm phục hai anh em thánh thiện: Hai
anh em ruột ở hai Tu viện gần nhau bên Núi Cassinô,
họ chỉ gặp nhau mỗi năm một lần
trước Mùa Chay. Lần gặp nhau cuối cùng, họ
đă trải qua một ngày để ngợi khen Thiên Chúa
và cầu xin hạnh phúc trên trời. Đêm mưa lớn
như thác lũ cuồng phong, không ai rút về lại Tu
viện được, họ tiếp tục nói chuyện
về hạnh phúc trên trời cho đến sáng. Ba ngày sau,
thánh Scôlastica qua đời. Một tháng sau, thánh Biển
Đức qua đời. Hay thật! Say mê Thiên đàng và
rủ nhau đi lên đó trong ṿng một tháng quả
đúng là những vị thánh. Linh hướng cho các linh
hồn là hướng dẫn các linh hồn về trời
chắc chắn như thánh Biển đức, quả
thật tôi chưa làm được.
Tám năm làm linh
hướng, tôi đă chu toàn sứ mạng bất
đắc dĩ khi phải từ giă Đà Lạt về
Thành phố Sài G̣n nhận công tác mới. Linh hồn là
giống thiêng liêng, nhưng kinh nghiệm đă cho tôi
thấy được nhiều sự thiêng liêng nơi các
Nữ tu Mến Thánh giá Đà Lạt. Đức cha Đà
Lạt có vẻ đă tin tưởng tôi, ngài nhờ
một cha Phanxicô khác tiếp tục vai tṛ linh hướng
thay chỗ tôi.
Tôi
cho khởi công xây dựng lại ngôi Nhà thờ Du Sinh trong
giai đoạn này. Nhưng trước khi kể lại
công cuộc xây dựng trên, tôi nhớ lại những
sự cố bệnh tật đă trải qua.
Không bệnh hay không
thể bệnh?
Thời
trai trẻ, ngoài những tiếng ho thông thường theo
thời tiêt, tôi không phải nằm bệnh viện hay
uống thuốc. Nhưng bệnh tăng dần theo
tuổi tác, không bệnh này th́ bệnh khác.
Sau
1975, đầu bếp Tu viện dọn lên bàn ăn món
thịt thỏ không lột da. Không biết thịt nấu
chưa chín hay sao mà dai như đỉa. Tôi ỷ bao tử
tốt, nhai không nhỏ th́ nuốt. Hôm đó tôi nuốt thay
cho nhiều anh em. Ngày hôm sau, bụng tôi hành hạ tôi
khốc liệt. Thay v́ uống thuốc xổ cho nó ổn
ngay, tôi áp dụng lời khuyên của bác sĩ Alexis de
Carrel, một nhà bác học được giải
thưởng Nobel về Y học. Ông chủ trương chỉ
dùng thuốc khi nào cơ thể không c̣n sức kháng cự
nữa. Theo ông, cơ thể chúng ta Thiên Chúa dựng nên
rất kỳ diệu, các cơ quan trong con người có
một hệ thống liên lạc với nhau rất hoàn
hảo. Bao tử gặp thức ăn khó tiêu, nó
điện lên năo, năo điện về gan, gan cho mật
tiết chất tiêu hóa gửi về bao tử... Các thứ
bệnh thông thường, cơ thể tự điều
chỉnh lấy, không cần uống thuốc. Tôi cứ
để bao tử tự điều chỉnh. Bụng tôi
đau quặn suốt ba ngày. Cuối cùng, cơ thể tôi
cũng tự chữa được. Nhưng hậu
quả th́ tai hại hơn: Cứ khoảng một tháng hay
tháng rưỡi, cơn đau lặp lại như một
kỷ niệm. Mỗi lần đau, tôi quằn quại,
không ăn uống ǵ được trừ một ít
nước đường. Sau năm hoặc sáu ngày,
ngưng đau, cân lại, trọng lượng
cơ thể tôi giảm tối thiểu bốn kư. Số kư mất
này cũng được phục hồi lại
đầy đủ sau một thời gian
ăn uống b́nh thường. Nhưng rồi chẳng
được bao lâu, cơn đau khác lại đến.
Tôi quyết định xin đưa đi bệnh viện
Tỉnh Lâm Đồng và sẵn sàng cho mổ, v́ nếu
cứ thế này, không làm ăn ǵ được, dù lúc
bấy giờ, những trường hợp mổ
thường nhiễm trùng hoặc tử vong. Các bác sĩ
ở rừng ra hầu hết qua thực hành hơn là qua
đào tạo, trong rừng họ cứ xát
nước muối rồi mổ, khỏi cần thuốc
mê hay thuốc tê, mổ chết bỏ! Nhiều
trường hợp, khi ra làm ở bệnh viện, các ông
mổ, kéo ruột bệnh nhân ra, sau đó không biết làm
sao nhét vào lại, các ông phải chạy đi t́m sự giúp
đỡ của các bác sĩ chế độ cũ mà các
ông đă sa thải.
May
cho tôi, lần đó, sau khi các y tá chích thẳng
vào bụng tôi một mũi thuốc (có lẽ
thuốc giảm đau?), họ hỏi tôi: “Có thấy
bớt đau không?” Tôi trả lời: “Đỡ đau
hơn”. Thế là họ không cho mổ. Tôi
về nhà. Thiên hạ đồn tôi sắp chết, lên Nhà
thương, bác sĩ chê, đă cho về! Một bà giáo dân
Du Sinh chạy t́m cho tôi cô y sĩ tên Tư mà bà quen biết.
Cô Tư là médecin do Pháp đào tạo, là người
Việt Nam đầu tiên được nhận vào Tổ
chức Unicef của Liên hiệp quốc. Cô nghe tin tôi
bị bác sĩ chê, cho về nhà, cô tự nghĩ tại sao
lại bỏ người ta như thế? Cô rất
tự tin ở tay nghề của ḿnh. Cô vào khám và cho tôi
thuốc. Tôi vẫn không hết bệnh. Bất cứ ai
bày cho uống thuốc ǵ, Tây hay ta, tôi đều uống:
Bột ṣ Chánh Điền, nghệ mật ong,
nước cải ngọt, lá vú sữa trắng nấu
uống thay nước trà, trứng gà rửa sạch cho
vào ly, nặn nước chanh cho ngập trứng. Sau 24
tiếng, vỏ trứng tan ra ch́m xuống đáy ly,
khuấy đều cả trứng cả nước chanh
và uống (chỉ bỏ vỏ lụa dai thôi).
Bồ công anh mọc trong các vườn rau rất
nhiều, tôi hái luộc ăn hết rổ này đến
rổ khác. Bao tử tôi lành, khó biết nhờ thuốc nào
mà lành.
Về
sau, chính tôi lại được nhờ đi giúp cô
Tư. Cô theo Tây học, không tin chuyện ma quái, nhưng
sự cố cô gặp có thực. Nếu lộ ra ngoài, công
việc làm ăn của cô sẽ bị ảnh
hưởng. Cô ở với hai người con, con gái
đă lớn, con trai c̣n là thiếu niên. Cô thường
bị “hồn” nhập. Mỗi lần bị nhập, cô
nói tiếng của một người đàn ông nào khác, cô
quăng kính (kính cô bể nhiều lần). Cô gái
lớn khi đưa nước mời tôi đă xác
nhận: “Bộ ly này 12 cái, mẹ con nhai và nuốt chỉ
c̣n lại mấy cái này. Mẹ con ăn thủy tinh mà không
sao cả”. Tôi nh́n thấy trên bàn c̣n ba cái ly. Tôi mặc áo các
phép làm phép nhà cho cô. Lúc gần xong, bỗng nhiên cô lên cơn.
Cô con gái như đă quen cảnh này, cô đỡ mẹ
nằm lên giường. Hai chân cô xoắn vào nhau như cái
bánh dây thừng. B́nh thường, chân người chỉ
gác lên nhau chứ không thể xoắn ṿng với nhau
được như vậy. Cô giật kính của cô và định
vất đi, cô con gái giữ lại được. Cô
đ̣i nước, tôi đưa ly nước thánh c̣n
lại cho cô uống. Uống hết nước, cô giơ
cao cái ly và hỏi: “Con ăn
cái ly này được không?”. Tôi không dám để cô
ăn. Thấy hiện tượng hơi bất ngờ,
tôi bán tín bán nghi. Tôi không tin chuyện hồn nhập.
Nếu có, chỉ là chước quỉ mà thôi. Tôi
đối thoại với tên quỉ nào đó một lát.
Nó nói nhiều điểm sai Giáo lư Công giáo, chẳng
hạn, nó nói: “Ta không phải là thánh, cũng không phải là
quỉ. Ta là hồn...” Tôi hỏi: “Bây giờ ngươi
ở đâu? Nó trả lời: “Ta đi lang thang đây
đó” trong lúc đôi mắt cô Tư nh́n lên trên (như
muốn nói nó lang thang trên không khí). Tôi nhớ câu Giáo lư
về bốn sự sau, tôi hỏi: “Ngươi có biết
bốn sự sau là ǵ không?”. Nó lắc đầu. Nó nói
như tiên báo một điều quan trọng tôi không
thể tin, v́ chuyện đó không thể xảy ra. Có
thể cô có một ám ảnh nào đó và nói ra trong khi
mất tự chủ?...
Thời
gian học Thần học, khi chơi bóng rổ, trong lúc tôi
không để ư, anh bạn đồng đội ném banh
cho tôi bất ngờ, tôi chưa kịp
đưa tay ra đón banh th́ trái banh nặng đă thúc vào
đầu ngón tay trỏ của tôi, thấy không đau
lắm, tôi chỉ bóp chút rượu thuốc sơ sơ.
Một đốt ngón tay bị cong. Gần hai chục
năm sau, khi đánh máy chữ (thời
chưa có vi tính), ngón tay trỏ của tôi hơi bị
đau. Sẵn dịp ghé Bệnh viện chỉnh h́nh, tôi
sắp hàng vào khám thử. Bác sĩ quyết định
mổ, v́ bác sĩ nói ngón tay tôi bị đứt gân. Hai
phương án để chọn, mổ theo phiên hoặc
mổ ngoài giờ. Mổ theo phiên th́ không biết
đến bao giờ, cứ việc về nhà chờ khi
nhận được tin báo th́ lên. Mổ ngoài giờ th́
được hẹn ngày mổ ngay. Tôi chấp nhận
mổ ngoài giờ, giá cao hơn nhưng nhanh hơn.
Sau
khi chụp h́nh hết tim, phổi, lấy nước
tiểu... theo đúng tŕnh tự khoa học, tôi sẵn sàng
vào pḥng mổ. Tôi cứ nghĩ, mổ một chút
đầu ngón tay th́ không có ǵ quan trọng, chỉ cần
ngồi tại bàn, bác sĩ cho chút thuốc tê rồi
mổ. Thế nhưng, ca mổ của tôi long trọng
hơn nhiều. Vào pḥng chờ, thay y phục, nằm trên
băng ca có bốn bánh xe, hai chuyên viên bệnh
viện đẩy vào pḥng mổ. Chuyển từ
băng ca qua bàn mổ, hai tay duỗi thẳng ra hai bên bàn
mổ.. Một y sĩ chích nơi cổ tôi một mũi
thuốc tê. Tôi xin được mổ sống, không
cần gây tê. Cô y sĩ không chịu. Cô nói: “Đâu có
được, bác sĩ bắt phải chích!”. Một lát
sau, cô hỏi tôi có thấy tay tê chưa. Tôi chẳng
thấy cảm giác ǵ khác thường. Cô dặn tôi
để ư có thấy thuốc chạy dần dần
dọc theo cánh tay không. Tôi trả lời không. Cô nhích người
tôi lên, lay động người tôi mấy cái. Lúc đó,
tôi để ư thấy cảm giác thuốc bắt
đầu chạy dần ra đầu ngón tay thật.
Trước đó, tôi giang hai cánh tay ra ngoài giường
mổ khá lâu không sao, nhưng từ khi thuốc tê thấm
vào, tôi cảm thấy hai cánh tay nặng trĩu và mỏi.
Tôi hỏi: “Không có cái ǵ kê tay cả sao? Cô trấn an: “Có
chứ! Một lát sẽ có”. Có lẽ cảm giác nặng
tay là dấu hiệu để bắt đầu
được? Một ê kíp bác sĩ tiến ra: Bác sĩ
Mỹ, Trưởng khoa, mổ chính, hai bác sĩ khác
phụ trong đó có cô bác sĩ Bảo Trâm, người
đă hướng dẫn tôi làm thủ tục, hai cô lo đưa dụng cụ
mổ, một anh trực bên hông tôi, cô y sĩ chích thuốc
tê luôn túc trực phía trên đầu tôi. Người ta kéo
màn che chắn không cho tôi nh́n thấy họ mổ, tôi xin
đừng che màn để tôi có thể nh́n xem mổ
như thế nào, họ không chịu. Có lẽ họ
sợ tôi thấy sẽ xỉu. Theo y khoa, khi đang mổ
mà bệnh nhân xỉu, dù t́nh trạng họ trước
đó cũng đă hôn mê rồi, mọi sự phải
dừng lại để cấp cứu bệnh nhân đă
rồi mới mổ tiếp.
Bác
sĩ chà đi chà lại khá lâu hết cả cánh tay tôi
để sát trùng, một lớp thuốc màu vàng, h́nh
như có nghệ. Sau này lớp thuốc đó bong ra, da ngoài
cánh tay tôi cũng bong theo. Bác sĩ Mỹ nắm đầu
ngón tay tôi, rạch một đường khá ngọt,
họ thấm máu. Bác sĩ Mỹ chỉ vào gân ngón tay và nói
với các đồng nghiệp: “Thấy chưa? Gân
đứt đây nè!”. Dùng dao mổ sắc rạch như
thế th́ gân chưa đứt cũng phải đứt! Ông dùng kẹp
kéo dây gân phía trong ra, gân tuột rút lại. Ông kéo đến
lần thứ ba mới được.. Tôi có cảm
tưởng nó giống như một sợi dây thun. Không biết
họ nối ra sao, thắt hai đầu lại với
nhau hay dùng chỉ cột chúng lại. Có lẽ cũng có
chỉ, v́ sau này, nơi nối ấy luôn có chút ǵ đó màu
xanh xanh ở phía trong da. Ông dí một cây inox vào giữa
hai đốt ngón tay và dùng búa nhỏ đóng
để cố định ngón tay. Cảm giác đau
chỉ có khi đụng phần thịt, c̣n đầu cây
inox đă xuyên vào xương rồi, họ
đóng
vào sâu mấy tôi cũng không đau. Cô y sĩ chuyên gây mê
hỏi tôi: “Có đau không?” Tôi trả lời: “Hơi
đau!” Cô gợi ư cô chích thêm thuốc tê. Tôi cản: “Thôi!
Khỏi chích thêm. Tôi chịu được”... Bác
sĩ bó băng ngón tay tôi và quấn băng nguyên cả bàn
tay trái tôi. Tôi được đẩy về pḥng hậu
phẩu. Một lát sau, bác sĩ đến thăm, thấy
tôi khỏe mạnh b́nh thường, ông cho tôi trở
về pḥng bệnh. Tôi nằm lại bệnh viện ba
ngày rồi trở về nhà Đakao. Không biết Bệnh
viện có lầm không? Kinh phí cho ca mổ ngón
tay tôi
ngang với ca mổ và bó bột một xương
đùi bị găy. Khi ấy có một bệnh nhân
khác tên Ḥa găy đùi cũng đang chờ
được mổ. Trong phim chụp, các tên riêng không có
dấu!
Tôi được
cấp một số thuốc Ampicilines để uống
theo toa bác sĩ. Không biết do thuốc hay do không kiêng
cữ (thịt ḅ, tôm cua), người tôi
bị sưng phù lên. Sáng sớm kia, trong nhà chưa ai
thức dậy, tôi ra bàn rửa mặt. Tôi lấy một
thau nước, cảm thấy choáng váng nhẹ, nghĩ là
không sao... Khi tỉnh lại, tôi thấy ḿnh đang nằm
dài trên nền xi măng. Thau nước úp trên bụng. Tôi
ngất và té lúc nào không biết, chắc rất nhẹ nhàng
v́ không để lại dấu vết ǵ cả. Có lẽ
nhờ được dội thau nước mát lên
người nên mau tỉnh? Tôi lên bệnh viện báo
lại bác sĩ Bảo Trâm về hiện tượng
sưng phù của tôi, bác sĩ nói da tôi có vấn đề.
Cô khuyên tôi đi khám da liễu. Chạy qua pḥng khám da
liễu, nh́n thấy một pḥng người chờ
đông đúc, không biết chờ có nổi không, tôi bỏ
về. Hôm sau tôi lên bệnh viện gặp một xơ
Mến Thánh giá Chợ Quán. Xơ làm việc ở pḥng chi
dưới (chân cẳng). Xơ giới thiệu
tôi cho một bác sĩ quen tại Tầng chữa chi
dưới. Bác sĩ chích cho một mũi và cho tôi mấy
viên thuốc. Mọi sự đều qua tốt
đẹp. Tôi hết sưng mau chóng.
Ở
Đà Lạt, cánh tay trái tôi đau, đau ít rồi đau
nhiều đến nỗi mỗi lần thay áo rất khó
khăn. Tôi nghĩ là bong gân hay sái cơ ǵ đó, v́ tôi
nhớ lại trước kia có lần chiếc xe Viva
nặng nề của tôi đổ, tôi cố níu lại và
nghe một tiếng “phựt” nhẹ nơi cánh tay. Không
thấy đau đớn ǵ nên không cần thoa bóp. Phải
chăng mấy năm sau cái đau ấy hồi sinh? Tôi
thoa bóp đủ loại thuốc vẫn không hết. Tôi
chạy Viva qua bệnh viện dân tộc xin khám thử
xem
sao. Hy vọng nếu sái cơ, các y sĩ thoa bóp cho
sẽ khỏi. Đo huyết áp xong, cô bác sĩ cho tôi
tờ giấy và dặn: “Anh qua chụp nội soi”.
Chụp nội soi xong (h́nh như đo
điện tâm đồ?), tôi cầm phim quay lại pḥng
khám ban đầu. Xem phim xong, bác sĩ nói: “Anh lên Bệnh
viện Tỉnh, bệnh này anh đừng làm khổ y học
dân tộc làm ǵ, ở đây không chữa được
bệnh này”. Tôi hỏi bệnh ǵ, cô cho biết: “Bệnh
cao huyết áp”. Tôi lấy xe chạy tiếp ngay lên Bệnh
viện Tỉnh Lâm Đồng kịp trước khi
hết giờ làm việc. Tại đây, sau khi
đo
huyết áp tôi xong, bác sĩ trực nói: “Bây giờ bác
nhập viện”. Hôm đó là chiều thứ bảy, tôi c̣n
phải lo lễ cho ngày Chúa nhật hôm sau, tôi xin bác sĩ
cho tôi về, có nằm bệnh viện th́ thứ hai tôi
sẽ lên lại. Bác sĩ trả lời: “Nếu vậy,
bác cầm mấy viên thuốc này, bác ra chỗ có b́nh nước
ngoài kia, bác uống thuốc và ngồi chờ một lát,
bác sĩ sẽ khám lại và cho bác về”. Tôi làm theo
chỉ dẫn của bác sĩ. Khi quay vào, cô y sĩ đo
huyết áp tôi lần nữa, cô nói: “Bây giờ bác kư
giấy xin xuất viện, bác sĩ cho bác về”. Tôi
chỉ vào xin khám thử, chưa nhập viện mà phải
xin giấy xuất viện. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng
thôi, cứ theo lời bác sĩ mà làm. Tôi hỏi huyết áp
tôi bao nhiêu. Cô y sĩ cho biết: “Lúc năy mới vào, áp
huyết 19, bây giờ xuống 16 rồi, bác về
được, thứ hai lên lại”. Bác sĩ cũng kê
cho tôi toa thuốc mang về uống và báo: “Bệnh này
phải uống thuốc suốt đời rồi
đây!”. Đúng thế, từ ngày hôm ấy, tôi ư thức
ḿnh không phải là người khỏe nhất thiên hạ,
đành khiêm tốn uống thuốc suốt đời
vậy! Mỗi này tôi nuốt một trái tim (lodipin-5).
Ngày
kia, một ḿnh sửa sang lặt vặt trong Pḥng áo Nhà
thờ, tôi đứng trên đầu chiếc thang xếp
nhôm. Bỗng nhiên, chiếc thang duỗi chân ra và lung lay, tôi
biết chuyện không ổn nhưng không biết bám vào
đâu. Không một chỗ nào có thể tựa vào
được. Chiếc thang đỗ xuống, mông tôi
ngồi ngay trên thành tựa lưng của chiếc ghế
phía dưới. Mông ê ẩm và sau đó đau nhức.
Thường xương cụt bể hoặc cong sẽ
gây đau nhức lâu dài và khó chữa, nhất là khi trở
trời. Tốt nhất nên đi bệnh viện khám và
chữa sớm. Rất may, chụp h́nh xong, bác sĩ cho
biết, xương cụt, xương sống không sao.
Nhưng bác sĩ phát giác ra thứ bệnh khác: Tôi đă
bị gai ba đốt cột sống, đang chuyển
sang đốt thứ tư! Lại uống một toa
thuốc khác. Uống hết toa thuốc, thấy cũng
hết đau. Không biết t́nh trạng sẽ ra sao? Gai
đă găy hết chưa? Tương lai sẽ cho biết.
Cũng
ngày kia, gió mạnh lật bay một tấm tôn trên nóc pḥng
giáo lư của Giáo xứ Du Sinh. Pḥng này ở trên gác.
Đến giờ học, nắng chiếu xuống các em
thiếu nhi. Tôi mang búa mang đinh lên đóng tấm tôn
lại. Đang đi ở mái dưới, chẩn bị
bước lên mái trên, bỗng nhiên mái tôn dưới chân tôi
phát một tiếng nổ “ầm!”, mọi ngươi
chung quanh đều nghe. Mái nhà sập xuống, tôi cứ
đứng yên để ḿnh ngoan ngoăn rơi theo. Tôi rơi
đứng thẳng người xuống, ba tấm tôn
cũng rơi thẳng xuống đất quanh tôi. Mái nhà
dừng lại lưng chừng. Cây đ̣n tay găy ngay chỗ
nối, khi nó cong gập lại dưới chân
tôi, đầu trên đ̣n tay tuột ra khỏi bờ
tường xây... Dưới đất, nhiều cuốc
cào và sắt cũ được cất giữ ở
đó. Nếu tay tôi bám vào tôn hay vào đâu đó, có lẽ
tôi đă bị cưa đứt... Tay tôi giữ thẳng
theo người nên kể như an toàn. Chân không đạp
vào cuốc cào phía dưới. Chỉ một vết
cắt nơi bàn tay.. Có lẽ tôn cắt. Nó chọn nơi
nhiều thịt ở cuối ngón tay cái để cứa.
Thấy vết thương lớn và há miệng như
miệng cá chép, tôi biết không xong! B́nh thường, tôi
tự chữa được, nhưng vết thương
này, tôi phải nhờ bệnh viện. Tôi giữ miệng
vết thương khép lại, nhưng máu vẫn chảy
ra lai láng. Có lẽ thời gian v́ huyết áp cao, tôi uống
Aspirin đề pḥng máu đông nên máu loăng,
khó cầm máu!
Nghe
tiếng nổ, giáo dân tụ lại, nhiều người
thấy tay tôi máu chảy nhiều nên hốt
hoảng. Họ t́m băng và bó chặt vết
thương, rửa sạch máu quanh vết thương.
Một đàng mừng v́ tai họa đă qua, đàng khác,
tôi biết vết thương này không đến nỗi
chết, tôi không tỏ vẻ lo lắng ǵ, vẫn nói
đùa và b́nh thản. Chứng kiến cảnh
tượng, có người (một bà
mẹ trẻ) thốt lên: “Cha hay thật! Máu ra nhiều
như thế mà vẫn tươi rói, c̣n nói đùa.
Phải chi con được một đứa con như
thế!”. Té ra, có những bà mẹ mong được
một ông cha tuổi gấp đôi làm con ḿnh?
Tôi
nhờ người chở lên bệnh viện. Các y sĩ
tháo băng cũ, rửa vết thương, khâu cho tôi
năm mũi chỉ. Tôi nhận thuốc về uống (Y
sĩ khâu cho tôi là anh Phước, một giáo dân Du Sinh).
Mỗi ngày, chị em cô Loan y sĩ đến chăm sóc
vết thương và thay băng cho đến khi tay tôi
lành hẳn.
Có
lẽ một cơn bệnh đặc biệt khác
cũng đáng nói: Đêm cuối cùng cuộc Đại
hội Giới trẻ thế giới năm 2008
được tổ chức tại Sydney, nước Úc,
chúng tôi ngủ ngoài trời. Đêm đó trời lạnh
sáu độ. Đang đêm thức dậy, mặt tôi không
đắp chăn nên lạnh buốt, tôi cảm thấy
ớn ớn, tôi dậy đi dạo quanh. Sau ngày bế
mạc do Đức Thánh Cha Bênêđictô chủ sự, tôi
đi Melbourne, cách Sydney 950 cây số. Xe nhà chạy
hết chín tiếng đồng hồ. Các cháu bên Úc thấy
tôi thỉnh thoảng ho đôi tiếng, chúng nói tôi bị
cảm rồi, chúng đưa thuốc cho tôi uống. Tôi không
ảnh hưởng ǵ về sức khỏe, ăn uống
vẫn b́nh thường, mỗi ngày ăn một nhà bà con
khác nhau. Ăn tối nhà nào th́ ngủ lại nhà đó. Tôi
trở về Sydney bằng máy bay. Tôi chỉ mang theo tờ
passeport phôtô, chưa có dấu xác nhận. Nghe nói đi máy
bay phải tŕnh passeport, tôi không biết tính thế nào. Thà
đi xe từ sớm, c̣n ra sân bay theo giờ cô em họ tôi
đă đặt vé trước (cất cánh 9
giờ), nếu không lên được máy bay, khi đó
mới quay về đi xe th́ quá muộn. Người ta
chỉ cho tôi nhờ cha xứ kư xác nhận bản phôtô
của tôi. Ở Úc, giấy tờ cha xứ kư
được Nhà Nước công nhận, không cần công
chứng. Luật sư cũng có thể kư thị thực
như thế. Hôm đó tôi ăn cơm tại nhà anh
Trần Đức Danh, bạn học với tôi ngày ở
Chủng viện và bây giờ là cháu rể tôi, cùng với
Đức Cha Ngân và mấy cha Lạng Sơn, thêm mấy xơ Mân Côi. Anh Danh là
một luật sư, thế là anh kư giấy cho tôi, dù khi
ấy cũng có cha xứ hiện diện trong bữa
ăn. Mọi sự tốt đẹp. Chuyến bay từ
Melbourne về Sydney suôn sẻ.
Trở
về Việt Nam, tôi ho nhiều. Ra tiệm mua thuốc,
được hỏi: “Ho có đàm không?”. Tôi trả
lời “Có”. Cô bán thuốc cho biết: “Ho có đàm th́
phải uống kháng sinh”. Tôi không nhớ để lưu ư
cô bán thuốc trước kia tôi đă bị một
lần sưng phù v́ uống kháng sinh. Nhưng uống
bốn ngày đầu vẫn không sao. Một bà đạo
đức mang thêm cho tôi mấy loại thuốc khác, bà bảo
tôi uống, thuốc hay lắm. Có lẽ cũng là kháng sinh? (Amoxybiotic). Uống thuốc mới này sang
ngày thứ hai, người tôi bắt đầu sưng
phù. Ăn mất ngon, tôi chỉ ăn một ít rau và trái
cây. Một sáng thứ hai, tôi làm lễ tại Nhà thờ
Giáo xứ Đakao. Cuối lễ, tôi thấy người
hơi chóng mặt một chút, nhưng tôi tự trấn an,
chỉ c̣n mấy phút nữa là xong, tôi tiếp tục
đứng tráng chén b́nh thường. Tay làm việc,
nhưng h́nh như tôi đă mất ư thức. Khi ư thức
trở lại, tôi thấy ông Khíu đỡ bên trái tôi, chú
giúp lễ xoa sau lưng. Tôi quay mặt ra sau, chú giúp lễ
nói: “Cha mệt!”. Có lẽ giáo dân phía dưới nhận ra
tôi sao đó, họ ra hiệu cho ông Khíu, người
dọn Pḥng thánh và chú giúp lễ lên đỡ tôi. Kết
lễ, tôi xuống bái bàn thờ, tự nhiên mồ hôi trán
tôi chảy ra nhiều. Nhưng tôi vẫn có thể tự
đi vào Pḥng áo cách b́nh tĩnh.
Tôi
vẫn cứ cầm cự như thế ngày này qua ngày
khác, có xông cho mồ hôi ra một lần, uống
nước nhiều cho nó thải chất độc ra
ngoài. Sáng thứ bảy sau đó, tôi làm lễ an táng
trước Pḥng tưởng nhớ, chiếc quan tài
nằm ngay trước mặt. Cuối lễ, tôi cũng
cảm thấy choáng đôi chút. Bước ra phía
trước bàn thờ cúi chào, bỗng mồ hôi trán tôi
chảy xuống ṛng ṛng. Chưa bao giờ tôi gặp
hiện tượng lạ lùng ấy! Từ đó,
người tôi sưng to dần, da bắt đầu
chuyển sang màu tím khắp người. Trời nóng, tôi
vẫn phải mặc áo ấm! Cuối cùng, cha Nguyễn
Thanh Minh, Phụ trách Tu viện Đakao kêu Taxis đưa
tôi đi bệnh viện Hoàn Mỹ. Ban sáng, sau
khi khám, tôi
nghe cô y tá nói chiều bác sĩ sẽ cho tôi về. Chiều
đến, bác sĩ nói tôi bị nhiễm trùng máu, phải
nằm lại bệnh viện ít ngày. Người tím
hết từ trên xuống dưới (nghe nói đó là
dấu hiệu vi trùng đă vào gan?), tôi vẫn tự đi
lại khỏe mạnh. Khi đưa xe lăn tới cho
tôi ngồi để nhân viên đầy lên pḥng bệnh, tôi
xin để tôi tự đi, nhưng cô nhân viên nói: “Bác
sĩ không cho đi, phải ngồi xe!”. Những ngày ở
bệnh viện, tôi được truyền mấy chai
nước biển, hai ba chai nước màu vàng (nghe
nói cũng là kháng sinh). Da tôi đỏ lại dần dần. Tôi
ăn bắt đầu thấy ngon miệng, thèm ăn rau.
Ăn ở cantin trong bệnh viện, chẳng có rau,
chỉ có mấy lá hành! Các cháu tôi thay phiên nhau đưa
cơm tiếp tế, chúng kiếm nhiều rau như tôi
mong ước. Các con Anh Cả tôi lên Sài G̣n học,
sau khi tốt nghiệp ra trường, chúng đều
ở lại Sài g̣n lập nghiệp làm ăn trong các ngành
nghề y sĩ, xét nghiệm, vi tính…Trên tờ giấy
xuất viện, bác sĩ ghi nhiễm trùng máu, nhưng chua
thêm chữ tiếng Pháp trong ngơặc (épidermie,
nghĩa là bệnh ngoài da hay nhiễm trùng da?”. Nhiễm trùng
ǵ cũng được, miễn là khỏi bệnh. Tôi
trở về nhà khỏe mạnh, ăn không thấy no, bù
lại những ngày nhịn ăn?
Bệnh
chưa đến nỗi chết! Tạ ơn Chúa.
Với thời gian và tuổi tác, các thứ bệnh đua
nhau xuất hiện. Chữa được đến
đâu hay đến đó. Bệnh nào chữa không hết,
đành phó thác cho Chúa vậy. Khỏe hay bệnh, con
người đều kết thúc cuộc đời
giống nhau.
XÂY DỰNG NHÀ THỜ
MỚI
Trước
t́nh trạng xuống cấp trầm trọng của ngôi
Nhà thờ Giáo xứ, qua nhiều cuộc họp bàn, góp ư
sửa chữa hay làm lại. Cha xứ và giáo dân nhất trí
làm lại chứ không chỉ sửa chữa. Công việc
bắt đầu được tiến hành.
Mọi
sự đều mới lạ. Biết rơ những khó
khăn trước mắt, nhưng tin tưởng vào Chúa và ḷng
mong đợi của tất cả bà con giáo dân Du Sinh, ai
nấy nhất trí đánh liều một phen.
Những
khó khăn trong thời gian chuẩn bị
Nhờ
có sự nhất trí cao của toàn thể giáo dân, nhiều ư
kiến đóng góp tích cực, trong đó có người
đề nghị mỗi người đóng 500.000, 00
VNĐ (Năm trăm ngàn đồng), c̣n ai có
thể ủng hộ nhiều hơn càng tốt, các
cuộc họp đều kết thúc tốt đẹp
trong bầu khí phấn khởi. Không có quyết định
nào dứt khoát, nhưng hầu như mọi người
sau này căn cứ trên con số đề nghị đó
để đóng góp. Tuy nhiên, không hề có một sự ép
buộc cụ thể nào. Sự đóng góp hoàn toàn tự
nguyện, v́ ai cũng cho rằng Nhà thờ là của chính
ḿnh, nên ḿnh phải đóng góp. Nhiều người vẫn
nghĩ: “ Tiền bỏ vào Nhà thờ không sợ mất
đi đâu cả, bỏ vào Nhà thờ như bỏ vào
Ngân hàng vậy”.
Các
Trưởng Giáo khu đi thu từng nhà. Nhiều
người đóng ngay. Một số xin khất khi nào có
sẽ đóng. Số người c̣n lại ấy tùy nghi
đưa đến đóng cho Cha Quản xứ hoặc
cho Trưởng Giáo khu…Người th́ sau khi đặt Viên
Đá đầu tiên, người th́ khi đă xây dựng
gần xong, người th́ măi nhiều tháng sau ngày Cung
Hiến mới đóng, thậm chí ai không đóng
được cũng chẳng sao! Tuy tinh thần cao,
nhưng khả năng kinh tế hạn chế, số
tiền giáo dân Giáo xứ Du Sinh chỉ trả
được 1/5 kinh phí (khoảng 750.000.000, 00
VNĐ).Đó
là số tiền tổng kết sau khi hoàn thành Nhà thờ.
C̣n lúc khởi sự mức đóng góp cũng như số
tiền hy vọng có được nơi các ân nhân ở
xa vẫn c̣n rất khiêm tốn.
Ngay
trong số giáo dân, khi nghe tŕnh bày h́nh phác hoạ Nhà thờ
tương lai, có người hoài nghi về sự thành công.
Những câu nói thành tâm được thốt lên: “Nhà
thờ đẹp đấy nhưng tiền đâu mà làm?;
“ Cha Hoa mà làm được Nhà thờ ấy tôi đi
đầu xuống đất”; Biết khó khăn
nhiều về tài chánh, nhưng chúng tôi, Quản xứ và
Hội đồng Giáo xứ vẫn quyết tâm làm,
đặt tin tưởng vào Chúa (Nhà của Chúa mà), và chuẩn bị
tinh thần kiên nhẫn để chịu đựng
một công tŕnh dự tính sẽ kéo dài từ bốn
đến năm năm. Thế là chúng tôi tiến hành các
thủ tục xây dựng.
Bắt tay vào việc
mới thấy thủ tục xây dựng c̣n khó khăn và
nhiêu khê hơn nhiều so với khó khăn về tài chánh!
Khó khăn đến từ cả phía Giáo quyền lẫn
phía Chính quyền dân sự.
1. Phía Giáo quyền: Hồi năm
2000, khi tŕnh bày với Đức Giám mục Giáo phận,
Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, về việc
đại tu ngọn Tháp Nhà thờ, Đức cha cũng rất
do dự: “ Đối với những Nhà thờ khác, tôi có
thể kư ngay, nhưng đối với nhà
thờ Du Sinh, tôi phải tham khảo ư
kiến Ban Tư vấn”. Sự dè dặt của
Đức cha cũng là chính đáng. Nhà thờ Du Sinh có
lối kiến trúc đặc biệt và đă nổi
tiếng khắp nơi rồi. Hễ làm hỏng công tŕnh
đó đi, thiên hạ sẽ trách móc Đức cha.
Cuối cùng, ngọn Tháp cũng đă hoàn thành, không
t́m ra gỗ tốt để bảo đảm dàn mái
bền vững lâu dài, chúng tôi gia cố thêm bảy khối
bê tông cốt
sắt những nơi yếu và cho đúc toàn bộ các mái. Ngói nung
cũ mục nát đă được thay thế bằng
ngói men xanh, có người gọi đó là ngói vĩnh
cửu. Kinh phí lên đến 76.000.000, 00 VNĐ
(Bảy mươi sáu triệu đồng) . Năm 2000, đó là
một số tiền khá lớn, vượt xa dự
kiến ban đầu. Nay tŕnh bày với Đức cha
về việc làm lại hoàn toàn ngôi Nhà thờ Du Sinh,
Đức cha càng lo lắng hơn nữa. Ngài lo lắng v́
thấy Du Sinh là một Giáo xứ nghèo, khó có thể làm
lại được ngôi Nhà thờ mới theo như
bản vẽ. Ngài lo lắng v́ nếu phá Nhà thờ cũ
đi rồi mà để bê ra đó, ngài phải chịu
trách nhiệm trước những lời chỉ trích? Ngài
lo lắng v́ phá ngôi Nhà thờ cũ đi mà làm lại không
được như cũ, ngài cũng phải mang
tiếng. Trong ư nghĩ, Đức cha chỉ h́nh dung ra
một sự sửa chữa những chỗ hư
hỏng thôi.
Sau
khi tŕnh bày để ngài h́nh dung ra ngôi Nhà thờ mới, kèm
theo bản chú thích những đề nghị sửa
đổi trong kiến trúc gồm 14 điểm (Bỏ
cột phía trong, nới rộng bề ngang, thêm hành lang chung
quanh, thêm hai ngọn Tháp phụ cho cân đối, thêm pḥng
trệt, tách Nhà thờ ra khỏi Tháp, thay các cột gỗ
bọc xi măng bằng cột bê tông cốt thép, giữ
lại nét kiến trúc cũ vv…), Đức cha cho cha Gioan
Phan Công Chuyển, Trưởng Ban Xây Dựng Nhà thờ
của Giáo phận Đà Lạt, đến tận nơi
để kiểm tra lại t́nh trạng của ngôi Nhà
thờ cũ. Cha Chuyển kiểm tra xong, đă phê: “ T́nh
trạng Nhà thờ xuống cấp trầm trọng
đúng như Cha xứ tŕnh bày. Nhưng kinh phí chưa
đủ 1/5 công tŕnh, e sẽ kéo dài và giáo dân không có chỗ
cử hành việc thờ phượng!”
Và
Đức cha ra điều kiện: “Phải có
trước một nửa kinh phí mới được
bắt đầu” (nghĩa là được phá ngôi Nhà
thờ cũ). Một đàng với tư cách Quản
xứ, tôi viết Thư ngỏ gửi đi khắp
nơi để vận động thêm tài chánh, đàng khác
tôi cho tiến hành thủ tục bên Chính quyền.
2. Phía
Chính quyền: Khâu thủ tục hành chánh c̣n phức
tạp gấp bội, đến mức có lúc tôi cảm
thấy muốn bỏ cuộc. Giấy phép lúc bấy
giờ bắt đầu từ cấp Mặt Trận
Phường lên cấp Thành phố và cuối cùng
đến cấp Tỉnh. Chữ kư của Chủ
tịch Uỷ Ban nhân dân Tỉnh là chữ kư quyết
định. Nhưng để giấy tờ lên
đến Chủ tịch Tỉnh, các đơn từ,
giấy tờ, bản vẽ, bản thiết kế…phải
nhân ra thật nhiều và phải đi qua nhiều Pḥng, Ban
khác nhau: Ban Tôn giáo Thành phố, Ban Tôn giáo Tỉnh, Uỷ Ban
Mặt Trận các cấp, Pḥng Chống cháy chữa cháy,
Uỷ Ban Môi Trường, Pḥng Xây Dựng Thành phố
rồi Pḥng Xây Dựng Tỉnh, nơi nào cũng lưu
lại một Bộ Bản Vẽ Thiết Kế Xây
Dựng gồm 12 tờ khổ lớn 1, 2 m. Thậm chí có
nơi xin giữ lại hai Bộ. Khi nhận
được chồng Bản Vẽ với lời thôi
thúc của ông Chủ tịch Hội đồng Giáo
xứ: “Cha kư ngay cho để chiều nay chúng
con đi nộp cho kịp”, tôi phải bỏ ngủ
trưa để kư và ghi tên đầy đủ trên 100
lần. Từ kinh nghiệm đó, tôi phải đi
khắc mộc tên của ḿnh để sau này gặp
trường hợp như thế, đóng mộc tên cho
nhanh.
Điều
kiện làm lại Nhà thờ đ̣i hỏi phải có
Sổ chủ quyền đất. Do trước đây
chưa cha Quản xứ nào ở Du Sinh làm Sổ chủ
quyền đất Nhà thờ, mọi sự đều
phải đi lại từ đầu. Để có
được Sổ chủ quyền này. Chúng tôi phải
làm việc lâu dài và vất vả với đủ các Ban
Ngành ( Liên Ngành) và chờ đợi tới hai năm. Trong
vấn đề khó khăn này, Anh Tài Bà Hoè và các Ông trong
Hội đồng Giáo xứ(Ông Phêrô Trần Hữu
Cảnh Chủ tịch, Ông Giuse Đỗ Huy Cường
Phó Chủ tịch kiêm Thư kư...) có công rất lớn. Giáo
xứ làm được bốn Sổ đỏ chứng
nhận chủ quyền: Sổ Nhà
thờ và Sổ Nhà xứ đất nối liền nhau
tổng cộng trên 17.000 m2; Sổ Nhà nguyện Mân côi trên
800 m2 và Sổ miếng đất Nhà Dục Anh cũ, 1.300 m2.
Theo suy nghĩ
đơn sơ lúc đầu, chúng tôi nghĩ đơn xin
chỉ mất một vài tháng là được trả
lời. Thế nhưng, bắt đầu nộp
đơn năm 2004 và nhận được Giấy phép
xây dựng năm 2006. Sự kéo dài như thế không
chỉ làm tinh thần hăng hái lúc đầu của tôi
cũng như của giáo dân sút giảm, nhưng c̣n gây
thiệt hại về tài chánh rất nhiều. Vật giá
không ổn định, vật liệu xây dựng liên
tục đi lên. Như thế, chi phí để xây dựng
cùng một ngôi Nhà thờ ở hai thời điểm cách
nhau hai năm đương nhiên khác nhau xa! Ném lao phải
theo lao vậy.
Trong
tất cả mọi t́nh huống, tôi cố giữ sự
b́nh tĩnh như không có ǵ xẩy ra. Ư thức ḿnh
là
người chủ chốt điều hành và thực
hiện công tŕnh, nếu tôi tỏ thái độ nản chí, các
cộng tác viên của tôi sẽ mất tinh thần, và giáo
dân cũng thất vọng. Trong trường hợp
xấu ấy, việc vận động tài chánh sẽ
gặp khó khăn. Có lẽ không ai nhận ra tôi có tâm
trạng thế nào khi trải qua một giai đoạn
nhiêu khê như thế, dù đă có những người quen
chạy việc giúp đỡ. Khi được mời
lên Phường nhận Sổ chứng nhận chủ quyền,
hôm đó tôi thấy ở Phường các nhân viên đông và
bố trí Pḥng làm việc khác thường. Các dăy bàn
được sắp xếp theo h́nh chữ U, các nhân viên
ngồi theo vị trí rất nghiêm túc và trật tự. Tôi
có cảm tưởng có một cuộc cải tổ
về hành chánh ở Phường, theo kiểu một
cửa một dấu chăng. Sau khi đă trao các Sổ
đỏ cho tôi, Anh cán bộ nhà đất đồng
thời đưa cho tôi một quyển sổ khác và nói: “Xin
linh mục cho biết cảm tưởng”. Tôi đă
trả lời ngay: “Tôi xin đă hai năm nay mới
được, cảm tưởng ǵ bây giờ?”. Thấy
tôi chần chừ không muốn viết, Anh nói: “Thôi linh
mục không viết, để chúng tôi viết cho linh
mục kư”. Sau khi họ viết xong, Anh cán bộ trao cho tôi
kư. Tôi kư ngay mà không biết họ viết những ǵ trong
đó, h́nh như họ tự khen ḿnh th́ phải. Dù sao kư
nhận lời mèo khen mèo dài đuôi cũng không mất mát
ǵ, trái lại c̣n làm mát ḷng nhiều người nữa!
Từ khi
được cấp Sổ đỏ chứng nhận
chủ quyền đất, công việc tiến hành nhanh
hơn xét về thời gian. Chính quyền Tỉnh Lâm
Đồng và Thành phố Đà Lạt cũng đánh giá
cao tính văn hoá và nghệ thuật của Nhà thờ Du Sinh
nên cũng nhiều đắn đo. Có lẽ họ
thấy rơ t́nh trạng xuống cấp của ngôi Nhà
thờ cũ, và cũng may, Bản phác hoạ ngôi Nhà
thờ mới do một kiến trúc sư đáng tin
cậy và quen thuộc của họ, kiến trúc sư
Vũ Xuân Hùng (lúc tôi nhờ vẽ, Ông là Quyền
Trưởng Pḥng Giao thông công chánh, sau lên làm Chánh Văn Pḥng
của Thành phố). Bản vẽ phác của Ông Hùng dùng kèo
sắt và lợp tôn. Từ ngày nhậm chức Chánh văn
pḥng, Ông bận rộn công việc nên không thể tiếp
tục vẽ thiết kế. Chúng tôi nhờ Chị Phạm
Thị Oanh thiết kế. Cuối cùng, tất cả
đều nhất trí phê duyệt dự án của chúng
tôi.
Những may
mắn trong xây dựng Nhà thờ Du Sinh
Nhà
thờ Du sinh là một trong những kiến trúc độc
đáo của Thành phố du lịch Đà Lạt, đă
được báo chí trong và ngoài nước nói đến
nhiều, được đưa vào danh sách các
điểm tham quan trong sách hướng dẫn du lịch
tiếng Anh và tiếng Pháp, được giới
thiệu trong tập san “Tiếp Thị Gia Đ́nh” và
cuốn “Hai Trăm Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam”…Do đó,
nói đến sửa chữa hoặc làm lại th́ ai
cũng ái ngại.
Năm 2004, dù
Nhà thờ có kiến trúc lạ mắt, nhưng chất
liệu xây dựng không bảo đảm lâu dài: Nhà thờ
dài 44m, rộng 10m, trong ḷng có hai hàng cột gỗ vuông, các cột
gỗ thông dọc theo hai bên tường mối mọt
ăn rỗng hết, nhưng không cách nào ngăn chặn
được v́ có lớp xi măng bọc bên ngoài.
Nhận thấy không thể kéo dài lâu hơn nữa,
giáo dân cùng với tôi họp lại và quyết định
tiến hành xây dựng mới ngôi Nhà thờ. Trước
hết phải làm bản phác họa ngôi Nhà thờ mới.
Tôi đề ra một số gợi ư về ngôi Nhà thờ
tương lai, vừa duy tŕ những nét độc đáo
của ngôi Nhà thờ cũ,vừa thêm những cái mới,
kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng phác họa bản thứ
nhất, tôi đưa về cho giáo dân góp ư
chỉnh sửa, kiến trúc sư vẽ lại bản
thứ hai. Sau khi giáo xứ họp lại lần nữa,
tôi giải thích cho mọi người hiểu từng chi
tiết một của ngôi Nhà thờ mới theo bản
vẽ và ai nấy đều có thể h́nh dung trong trí h́nh
ảnh ngôi Nhà thờ tương lai của Giáo xứ, tất
cả đều nhất trí với bản vẽ.

Đức
cha Phêrô lo lắng nhiều về việc xây dựng
lại Nhà thờ Du Sinh này. Để nhẹ tiền và
đáp ứng đ̣i hỏi của Đức cha (Phải
có nửa kinh phí mới được phá Nhà thờ cũ), theo
dự
kiến ban đầu, chúng tôi cứ cho xây phần bên
dưới có hệ thống chịu lực để sau
này có thể thay bằng mái ngói mà không cần
phải làm lại phần móng, nhưng trước
mắt,
chỉ tạm làm kèo sắt và lợp tôn. Sau một
thời gian vận động cùng với số tiền
tôi tích lũy từ trước, số tiền bấy
giờ đă được 500.000.000, 00
VNĐ.
Theo
bản chiết tính, kinh phí sẽ là 3.200.000.000, 00
VNĐ (Ba
tỷ hai trăm triệu đồng), nhưng vẫn
phải gia giảm thế nào để coi như
chỉ xây gọn lại hết 1.500.000.000, 00
VNĐ
thôi (Một tỷ rưỡi đồng). Với số
tiền đă có, cộng thêm số tiền dựa trên
lời hứa của một số ân nhân khác,
khỏang 200.000.000, 00 VNĐ nữa, thế là,
với kinh phí giả thiết này, chúng tôi
được phép coi như đă gần
đủ một nửa kinh phí.
Cuối
cùng, nguyện vọng của chúng tôi cũng đă
được toại nguyện. Vấn đề c̣n
lại là t́m thêm kinh phí. Nhiều cuộc họp góp ư đă
diễn ra. Khó khăn nhất trong lúc này là t́m kinh phí: kinh phí
tại chỗ và kinh phí vận động ở xa, xa tít
bên kia nửa trái đất…
Các
Thư ngỏ đă được gửi đi, nhiều
đợt Thư ngỏ khác nhau tuỳ theo nội dung thông
tin theo nhịp tiến độ thi công. Nhiều ân nhân
ở xa hài ḷng khi được chúng tôi cung
cấp thông
tin đầy đủ và đều
đặn giúp họ có thể theo dơi tiến độ của
công tŕnh. Giàu óc tưởng tượng, dù
ở xa, nhờ những tờ thông tin ấy, họ vẫn
có
thể h́nh dung ra ngôi Nhà thờ như thế nào vào từng
thời điểm. Họ thấy rơ tiến độ
thi công nhanh không ngờ. Tôi gửi đi nhiều
đợt thư ngỏ, vừa thông tin vừa gợi ư
các ân nhân tiếp tục hỗ trợ. Ở đây chỉ xin ghi lại
lời kêu gọi đầu tiên:
Giáo phận Đà Lạt
Giáo hạt Đà
Lạt
Giáo xứ Du Sinh
Xin Chúa chúc lành và ǵn giữ
anh chị em,
Xin Người ban cho anh
chị em được b́nh an
LỜI KÊU GỌI
HỖ TRỢ
LÀM LẠI NHÀ THỜ
DU SINH
Kính thưa quư vị ân nhân,
Nhà
thờ Du Sinh, Đà Lạt, do Cha Thiên Phong Bửu
Dưỡng xây dựng tạm năm 1955 cho một số
anh chị em giáo dân thuộc nhiều họ đạo,
nhiều Giáo phận khác nhau từ miền Bắc di cư
vào.
Cha
Thiên Phong Bửu Dưỡng là con cháu các vua triều
Nguyễn. Sau thời gian tu chùa và đạt đến
chức Sư Ông trong Phật giáo, cha gia nhập đạo
Công giáo, vào Ḍng Đa Minh và trở thành linh mục. Cha mơ
ước xây dựng tại Du Sinh một ngôi Nhà thờ
theo kiến trúc Á Đông, nhưng các Bề Trên thuyên
chuyển, cha vâng lời đi nhận công tác mới quá
sớm, giấc mơ của cha chưa thành. Ngôi Nhà thờ
vẫn c̣n đó cho tới nay. Sau gần 50 năm, ngôi Nhà
thờ này đă xuống cấp trầm trọng: Các cột
gỗ mối mọt, tường nứt, móng hổng chân,
mái tôn rỉ sét!!! Được sự nhất trí của
Đức Giám Mục Giáo phận, chúng tôi tiến hành làm
lại toàn diện.
Công
tŕnh vượt quá khả năng của anh chị em giáo
dân Du Sinh.
Vậy
xin quư ân nhân rộng tay trợ giúp.
Xin
Chúa trả công bội hậu cho quư vị.
Đà Lạt, ngày
19 tháng 03 năm 2005
Kư tên
Lm Phaolô Đinh
Huỳnh Hoa
Quản xứ
Các
Thư sau thường để thông tin về t́nh h́nh
hiện tại trong từng giai đoạn xây dựng, báo
cáo kinh phí đă chi và kinh phí đang thiếu… Thư ngỏ
được tung đi khắp nơi: các cha xứ và các
Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, các Huynh Đệ
Đoàn Phan Sinh Tại Thế, các thân nhân và
bạn hữu của cha xứ. Một số anh chị em
Giáo dân xin Thư ngỏ để họ gửi cho bà con
của ḿnh. Tin tức về sự đón nhận lời
kêu gọi rất lạc quan. Một số ân nhân ở Sài
G̣n nói: “ Nhà thờ này hay hay!”. Hay hay v́ kiến trúc mái cong;
hay hay v́ do một linh mục xuất thân từ nhà Sư?
Linh mục này lại là con cháu các vua chúa từng bách hại
Đạo Công giáo! Và cứ thế người ta
truyền tin cho nhau. Một số bà Phan Sinh Tại Thế
ở Bảo Lộc trách: “Cha gửi Thư ngỏ ít quá,
con phải phôtô thêm để phát cho người ta, con
gửi cho Ông A, rồi Bà B, họ có ḷng lắm, Nhà thờ
nào họ cũng đóng góp rộng tay lắm! Khi nào họ
điện cho cha, cha cứ nhận là cha gửi thư cho
họ”. Và tôi đă theo lời chỉ dẫn của các bà,
đành phải trả lời dối trá khi ai đó báo tin
đă nhận được Thư ngỏ tôi gửi.
Quả thật, những người nằm vùng mới
biết ai là những người tốt bụng trong vùng
mà chọn giùm cho tôi.
Giá
được khởi công sớm hơn vài năm như
dự kiến, công việc sẽ thuận lợi hơn,
v́ lúc ấy, ít Nhà thờ được xây dựng,
mỗi khi nghe tin một Nhà thờ được phép xây
dựng, bà con giáo dân trong Giáo phận cảm thấy
phấn khởi hẳn lên. Do thủ tục kéo dài mất
hai năm như đă tŕnh bày trên đây, khi Nhà thờ Du
Sinh được giấy phép xây dựng lại, trong Giáo
phận Đà Lạt cũng có bốn Nhà thờ khác đă
hoặc vừa được giấy phép xây dựng.
Như vậy, năm Nhà thờ trong cùng một Giáo phận
cùng lúc được thi công xây dựng, t́nh trạng băo
hoà, sự ủng hộ của giáo dân phân tán, sự
hưởng ứng không được nhiệt t́nh
lắm. Các Giáo xứ tuy chúc mừng và sẵn sàng chia
sẻ khó khăn với Giáo xứ Du Sinh, nhưng họ
cũng
chỉ đáp ứng trong giới hạn.
Ngày
Đặt Viên Đá đầu tiên, ngày 18 tháng 03 năm
2006, số người tham dự không đông lắm,
đến nỗi có cha sau đó nghĩ rằng: “ Chắc
Nhà thờ Du Sinh oác rồi!”, nghĩa là thất bại to!
Lư do v́ cha thấy đặt Viên Đá xong, mọi sự
lại im ĺm, không thấy khởi công ǵ cả. Quả
thật, sự chậm trễ khởi công khiến
nhiều người ngạc nhiên. Chính Đức cha Phêrô
trong một buổi tĩnh tâm Giáo hạt Đà Lạt
đă lưu ư: “ Không Nhà thờ nào tổ chức
Đặt Viên Đá đầu tiên xong, lại để
đó chờ kiếm tiền!”. Các ông trong Hội
Đồng Giáo xứ cũng tỏ ra nóng ruột trước
những lời hỏi han trách móc của dân chúng.
Họ đến
thúc đẩy tôi cho khởi công để bà con khỏi
thắc mắc. Rồi ngày ấy cũng đến, đó
là ngày 15 tháng 04 năm 2006, gần một tháng sau ngày
Đặt Viên Đá đầu tiên. Trong thời gian đó
cuộc vận động vẫn được tiếp
tục.
Hai bà
cao tuổi gây ấn tượng nhiều cho tôi hơn
cả: một bà xin giấu tên ủng hộ 10.000.000,
00 VNĐ (Mười triệu đồng) và nói:
“Điều này con mơ ước đă lâu, đây là
số tiền con đă dành dụm được”. Bà
thứ hai là bà Nỉ, một giáo dân Du Sinh, bà có con cái
nhưng thích sống riêng một ḿnh, ngày ngày ôm bó chổi
đi bán dạo quanh các đường phố Đà
Lạt. Một ngày kia, bà đến Nhà xứ, mở gói
tiền ra, bà đếm rất kỹ từng
tờ một trước mặt tôi và nói: “ Đây con
ủng hộ Nhà thờ 10.000.000, 00 VNĐ (Mười triệu
đồng). Con đếm đủ cả rồi đấy.
Con đă tích trử năm năm nay. Cha đếm lại
coi có đủ chưa?”. Những gương quảng
đại ấy tôi cũng đă sử dụng khi cần
vận động thêm tiền. Hành vi của những
người nghèo quảng đại ấy đánh
động nhiều người.
Ân
nhân lớn nhất cụ thể về vật chất
trong việc xây dựng Nhà thờ Du Sinh mà Giáo xứ Du Sinh
luôn nhớ ơn, đó là ông bà Quyền Chúc, Việt
kiều Mỹ gốc Du Sinh. Ông bà ủng hộ tổng
cộng 30.000 USD (Ba chục ngàn
đô), gửi làm ba đợt, có đợt do các Xơ
Nữ Vương Hoà B́nh Buônmathuột mang đến, có
đợt các Xơ nhắn, tôi về Sài G̣n nhận và ôm trở
về Đà Lạt ngay trong ngày.
Theo
tôi biết, Ông Bà Quyền Chúc c̣n giúp nhiều nơi khác
nữa. Ít lâu sau ngày hoàn thành Nhà thờ, ông bà về thăm
và tỏ ra rất hài ḷng khi nh́n thấy ngôi Nhà thờ mà ông
bà đă góp phần xây dựng nên. Ông nói: “ Chúng con đóng
góp bao nhiêu đâu, phần nhỏ thôi. Thế mà cha làm ngôi
Nhà thờ to và đẹp quá! Nếu ở bên Mỹ,
cha xây ngôi Nhà thờ như thế này phải hết
6.000.000 USD (Sáu triệu đô).
Bên đó có cha mới xây một ngôi Nhà thờ nhỏ
hơn Nhà thờ này mà hết 4.500.000 USD” (Bốn
triệu rưởi đô). Cùng một số tiền, xây
ở Mỹ chỉ được một Nhà thờ,
nhưng nếu xây ở Việt Nam được gần
20 Nhà thờ. Bà Chúc tâm sự: “Chúng con không có tiền, chúng
con cũng chỉ gom góp lại thôi. Chúng con không tiêu xài mua
sắm, không đi du lịch. Chúng con thích làm những
việc như thế này đây”. Những việc ủng
hộ tài chánh cho các công tŕnh xây dựng Nhà thờ, nhà Ḍng,
nhà nuôi giữ trẻ mồ côi, khuyết tật…là niềm
vui của hai ông bà.
Ân
nhân lớn thứ hai, đó là Tổ chức “ Trung tâm
truyền giáo trung ương của các Tỉnh Ḍng Phan Sinh
Đức” qua giới thiệu của Cha Phi Khanh
Vương Đ́nh Khởi lúc đang là Giám Tỉnh Ḍng Phan
Sinh Việt Nam. Nhà thờ Du Sinh được họ cho
20.000 USD (Hai chục ngàn
đô), đúng như đơn xin, chia làm hai đợt.
Số tiền này gửi qua Ngân Hàng Ngoại Thương,
nên phải khấu trừ chi phí dịch vụ. Các cơ
quan làm việc nghiêm túc và khoa học, và họ theo dơi sát công
tŕnh mà họ đóng góp tài trợ. Hồ sơ thủ
tục họ đ̣i hỏi rất nhiều và rất chi
tiết. Tôi phải đáp ứng, gửi qua gửi
lại nhiều giấy tờ đúng như họ đ̣i
hỏi. Sau khi hoàn thành công tŕnh, phải báo cáo lại cho
họ đầy đủ mọi thứ, và hồ sơ
họ đ̣i hỏi phải lưu giữ hết 10
năm, đề pḥng Chính phủ Đức kiểm tra
đánh thuế! Vất vả và kiên nhẫn, nhưng
cuối cùng v́ lợi ích Giáo xứ và v́ nhu cầu cấp
bách, mọi sự rồi cũng qua, tuy không
được thoải mái lắm so với việc đón
nhận tiền dâng cúng của các cá thể!
Số
tiền lớn thứ ba đến từ miếng
đất sau khi đă giải toả được
đống đá. Miếng đất này nằm sau nhà ông
Vượng và ông Trung. Đó là một đống đá
ngổn ngang, một băi đổ rác bỏ hoang suốt
mấy chục năm nay, cây ngũ sắc mọc um tùm.
Nghe nói xưa cha Bửu Dưỡng có đặt một
bức tượng Thương Khó ở đó. Bức
tượng đă được cất đi hồi nào
và hiện nay ở đâu không ai biết. Nhưng ai ai
cũng nói đó là đất của Giáo xứ. Trong
thời gian chuẩn bị xây dựng, chúng tôi đă cho
người đến chẻ các khối đá ấy.
Lượng đá chẻ ra khoảng 50.000 viên, kinh phí công
thợ chẻ 70.000.000, 00 VNĐ. Số đá này xe
chuyển về chất đống trên băi đất
trống trong khuôn viên Nhà thờ, dự kiến sẽ dùng
để xây các bức tường chung quanh pḥng trệt
của ngôi Nhà thờ mới. Sau khi di giời hết
đá, miếng đất mới xuất hiện, sạch
sẽ và khá rộng, khoảng 250m2. Như thế, nó có
thể là mặt bằng cho một ngôi nhà mới. Quả
thế, nhu cầu đất đai và nhà cửa ở Du
Sinh khá cao. Nhiều gia đ́nh chưa có đất làm nhà.
Nhiều người nhắm miếng đất trên và
thăm ḍ, nhưng hầu hết không đủ khả
năng để mua. Người cuối cùng mua
được đó là cô Hồng Bà Hinh. Với giá
300.000.000, 00 VNĐ (Ba
trăm triệu đồng), chúng tôi đều nhất trí
trao đổi. Từ một băi rác hoang, số tiền thu
lại cũng là một nguồn tài chánh khá lớn cho công
tŕnh xây dựng Nhà thờ.
Gặp
Thánh Giuse, tôi nói: “ Ngôi Nhà thờ này mang danh Ngài đấy,
Ngài lo lấy”. Gặp Đức Mẹ, tôi đă thưa: “
Ngôi Nhà thờ dâng kính Thánh Giuse, chồng Mẹ đấy.
Mẹ hăy lo cho chồng Mẹ đi!”. Và, tuy không rơ rệt
hiển nhiên, nhưng cuối cùng, chuyện xảy ra
như một phép lạ. Các ân nhân từ khắp nơi
gửi về, khi một vài ngàn đô la, khi vài ba chục
triệu đồng Việt Nam. Chúng ta tưởng nhớ
hai vị cao tuổi đáng kính của Giáo xứ đă ĺa
bỏ thế gian trong giai đoạn này. Hai vị khi c̣n
sống rất tha thiết với việc xây lại Nhà
thờ. Thời gian đầu mới thi công, hai vị
vẫn thường xuyên chống gậy lên, đi lại
ṿng quanh Nhà thờ nh́n ngắm công tŕnh và động viên anh
em. Cụ Đaminh Phạm Văn Ngọc là người
đă từng làm Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ
Du Sinh nhiều khóa liên tiếp (khoảng 20
năm thời cha Phaolô Hồ làm Quản xứ). Cụ thúc
dục con cái cháu chắt cố gắng đóng góp vào Nhà
thờ.
Vị
thứ hai, đó là Ông Cố Phêrô Nguyễn Sinh,
người luôn sẵn sàng dùng khả năng thợ
mộc, thợ xây của ḿnh để giúp Giáo xứ khi
cần. Khi Ông Cố qua đời, gia đ́nh đă dâng vào
Nhà thờ tất cả số tiền phúng điếu
trong đám tang Ông Cố, 24.000.000, 00
VNĐ (Hai mươi bốn triệu
đồng). Ngoài ra, ông Cảnh nhiều lần trực tiếp
bỏ tiền riêng thanh toán một số tiền hàng cho Nhà
thờ mà không cho biết để ghi sổ.
Tất
cả tiền ân nhân gửi về tôi nắm giữ,
thỉnh thoảng tôi gửi qua Thủ quĩ của Giáo
xứ một số để mua sắm và chi tiêu bất
thường, hoặc khi tôi đi vắng. Có khi tôi có trong
nhà vài trăm triệu đồng, có ngày chỉ c̣n mấy
chục triệu. Có đó rồi lại hết đó. Nay
có nhưng mai đă không c̣n. V́ thế, các ông trong Hội
đồng Giáo xứ cũng không biết hiện tôi có bao
nhiêu tiền. Tôi chỉ cho biết là c̣n hay hết, c̣n ít hay
c̣n khá. Sở dĩ thế, không phải v́ muốn giấu
diếm ǵ, nhưng v́ để bảo đảm công tŕnh
tiến hành theo thứ tự ưu tiên. Do không có sẵn
tiền nên không dám làm trọn gói một lần.
Có
đến đâu làm đến đó, nên phải tính toán
sao cho phần trụ cột và mái được bảo
đảm đă, các phần khác như tường,
gạch nền, từ từ làm sau cũng không sao. Không
biết tôi c̣n bao nhiêu tiền, không ai dám quyết
định mua vật liệu với một số
tiền lớn, và khi cần mua, họ sẽ đến
hỏi ư kiến tôi, tôi có thể quyết định chi
hay không chi trong từng thời điểm đó. Tiền
ra, tiền vào đều được ghi đầy
đủ vào sổ để sau này bàn giao minh bạch.
Những ân nhân muốn giấu tên, tôi ghi trong sổ là Vô
danh và số tiền ủng hộ. Các khoản chi lớn
đến dồn dập cũng đủ để
chủ đầu tư phải lo lắng. Ngói về, kêu
thêm sắt, thiếu 300 bao xi măng…là những tiếng báo
đều đều trong suốt thời gian xây
dựng.
Nhiều
người khác luôn sẵn sàng khi Nhà thờ cần
đến. Dù bận lo kinh tế gia đ́nh, khi
được gọi, họ lên Nhà thờ đáp ứng
ngay: Các anh Ḥa, anh Hải lo tất cả những ǵ liên quan
đến dây điện và ánh sáng. Cần nước, có
ông Thảo và ông Trung. Khi thiếu ống nước hay
trục trặc máy bơm, anh Tráng mau mắn ra tay đáp
cứu. Khi cần xe chở hàng, anh Sinh và anh Tài đưa
xe nhà lên. Anh Sinh c̣n thỉnh thoảng cung cấp miễn phí
gà vịt bồi dưỡng (Anh Sinh vừa
là Chủ Trại gà lớn, vừa là nhà thu gom gà vịt
khắp nơi để cung cấp cho những nơi
cần). Hai chị em cô Nhạn và cô Phượng cung
cấp nước trà và nước sôi cho công nhân suốt
năm. Khi có công tác cấp bách, không điều động
giáo dân kịp, các Thầy trong Ḍng Phanxicô lên hỗ trợ.
Xe kéo của Thầy Hồ Tùng Mậu cũng giúp
được nhiều việc.
Điều
lạ, đó là mỗi lần Đại lư vật
liệu xây dựng đến đ̣i thanh toán, tôi luôn thanh
toán đủ. Mỗi lần chủ thầu xin tiền
trả cho thợ, tôi luôn đáp ứng đủ, khi vài
trăm triệu, khi khác bảy tám chục triệu. Cứ
gom góp lần hồi như thế, số tiền chi cho
toàn bộ công tŕnh vẫn đủ 3.700.000.000, 00
VNĐ(Ba tỷ bảy trăm
triệu đồng), kể cả sửa lại
Cổng Tam Quan, làm thêm Đài Thánh Tâm, xây các talus chống
lở đất, lát đá rộng 4m quanh Nhà thờ, và thuê
trồng 7.500m2 cỏ trong khuôn viên Nhà thờ, gía hữu
nghị: 70.000.000, 00 VNĐ
(Bảy mươi triệu đồng).
Thực tế, chi phí
chắc chắn sẽ cao hơn, nếu mọi thứ
đều làm đúng bài bản, từ bản vẽ
đến các chuyên viên như giám sát công tŕnh, chuyên viên kỹ
thuật hoặc mướn Công ty thi công. Ông Thanh,
chủ đầu tư xây dựng là giáo dân trong Giáo
xứ. Ông cùng vợ nhất trí không lấy lời Nhà
thờ, chỉ lấy đủ tiền trả cho công nhân
mà thôi. Ông đă hết t́nh và tận dụng mọi
phương tiện để hoàn tất công tŕnh, tránh
được tiếng ra tiếng vào, v́ gia đ́nh c̣n
sống lâu dài trong Giáo xứ, con cái đang học Giáo lư
trong Giáo xứ. Ông muốn tránh mọi nguyên do dẫn
đến t́nh trạng không hay, trái lại ông cố
gắng tạo được uy tín và ḷng mộ mến
của bà con giáo dân Du Sinh. Điều này, ông đă
đạt được, và cũng nhờ đó, chi phí
Nhà thờ cũng nhẹ đi một phần khá lớn so
với giá cả khi cho Công ty thầu. H́nh như từ sau
khi xây dựng và khánh thành Nhà thờ Du Sinh, số
người chạy đến với ông nhiều hẳn
lên. Các công tŕnh ông thầu làm không kịp?
Trước
khi cho thi công, tôi và Hội đồng Giáo xứ đă
đi thăm ḍ, khảo sát nhiều Nhà thờ đang xây
dựng: Nhà thờ Minh giáo, Nhà thờ Thiện Lâm, Nhà
thờ Tùng Lâm, Nhà thờ Chi Lăng, Nhà thờ Liên
Khương, Nhà thờ Kim Phát, một số Nhà thờ
ở Phan Thiết… Chúng tôi quyết định không cho Công
ty thầu xây dựng, với lư do không bảo đảm
kinh phí để Công ty có thể thi công liên tục, thực
tế v́ tốn kém hơn và các công tŕnh Công ty thi công
thường không đạt yêu cầu, qua nhận xét và
đánh giá của chúng tôi. Đối với ông Thanh, chúng
tôi cũng dự kiến trước: có thể phải thi
công bốn hoặc năm giai đoạn. Hết tiền
th́ nghỉ; khi có thêm tiền sẽ khởi công lại.
Thời gian có thể kéo dài bốn hoặc năm năm.
Ông Thanh đồng ư: “ Khi nào cần nghỉ, cha cứ báo,
con cho thợ nghỉ; khi nào cha kêu, chúng con lại tới”.
Nhờ
ơn Chúa, Đức Mẹ và thánh cả Giuse, công tŕnh
được thực hiện liên tục trong một giai
đoạn duy nhất và chỉ kéo dài trong
một
năm. Sau khi đặt tiền cọc xi
măng và sắt chưa được một tuần, giá
sắt đă nhảy lên một giá, và c̣n tiếp tục
nhảy giá thêm nhiều đợt khác nữa! Nhà thờ
càng biểu lộ rơ h́nh dạng, tinh thần ủng hộ
càng phấn chấn dâng cao. Mỗi lần có người
lạ mặt thăm ḍ: “Làm Nhà thờ tốn kém như
thế, số tiền đóng góp nhiều như thế!
Ông bà thấy thế nào?”. Mọi người đều
trả lời giống nhau: “ Nhà thờ là nhà chung, mỗi
người đều phải đóng góp, đó là bổn
phận đương nhiên. Đóng góp tự nguyện
chứ không ai bắt buộc cả”. Nghe nói thế, không ai
c̣n thắc mắc.
Cũng nhờ các ân
nhân ủng hộ tài chánh kịp thời, h́nh dạng mái Nhà
thờ được điều chỉnh lại. Theo
nguyện vọng của Giáo quyền cũng như Chính
quyền Thành phố du lịch, chúng tôi quyết
định chấp nhận tốn kém hơn để thay
giàn kèo sắt bằng kèo đúc, và thay tôn bằng mái ngói
Đồng Tâm (công nghệ Italia). Tôi cũng chiều
theo ư của dư luận dân chúng, cho lợp mái Nhà thờ
màu đỏ thay v́ màu xanh như ngói Tháp chuông (Hồi sửa Tháp chuông, tôi chọn ngói
màu xanh v́ dự kiến sau này làm lại Nhà thờ, mái Nhà
thờ mới cũng được lợp bằng tôn
xanh, phù hợp với màu xanh của đồi thông). Bốn dăy bàn
quỳ trong Nhà thờ và bộ cửa đều
được làm mới bằng gỗ sao, chi
hết 260.000.000, 00 VNĐ (Hai
trăm sáu mươi triệu đồng). Riêng cánh cửa
lớn cuối Nhà thờ gỗ căm xe giá 13.500.000, 00
VNĐ(Mười
ba triệu năm trăm ngàn đồng). Đá lát Cung thánh,
nền Nhà thờ, hành lang và Pḥng trệt đều
thuộc loại chất lượng cao. Hệ thống
chống sét, theo giới thiệu, hàng nhập của Pháp,
loại tốt nhất ở Việt Nam hiện nay, giá
32.000.000, 00 VNĐ (Ba mươi hai
triệu đồng). Kết cuộc, ai cũng nh́n
nhận: Nhà thờ vừa chắc, vừa đẹp,
vừa nhanh! Quả vậy, nếu khởi công chậm thêm
ít tháng nữa, với đà nhảy vọt liên tục
của giá vật liệu xây dựng, không biết Nhà
thờ Du Sinh sẽ phải gác lại đến lúc nào?
Chỉ sau một năm, giá vật liệu xây dựng
đă nhảy vọt lên gần gấp đôi!
Tảng đá may
mắn
Ngày bắt đầu hạ Nhà thờ
cũ thật hồ hởi. Bà con giáo dân tập trung
đông đúc. Các ông các anh thanh niên leo lên mái giỡ tôn, tháo dây
điện, các loa âm thanh và bóng đèn. Các bà phía
dưới chuyển tôn ra ngoài hoặc khiêng về vị
trí trên sân Nhà xứ, nơi được
nhắm làm ngôi Nhà thờ tạm để cử hành
Phụmg vụ trong thời gian chờ có Nhà thờ
mới. Khi đă tháo giỡ tất cả những ǵ có
thể tháo được, xe
cơ giới
bắt đầu hạ các bức tường gạch
quanh Nhà thờ. Các cột gỗ mục đổ xuống
phần lớn văng tung toé hoặc găy khúc, các bức tường
không có chút sắt nào nâng đỡ nên cũng nằm
xuống nhẹ nhàng. Trong một buổi sáng, không c̣n viên
gạch nào chồng trên viên gạch nào.
Một số bà con tháo giỡ các kèo gỗ, những
đoạn c̣n dùng được cho tập trung về
một chỗ, khúc nào hư hỏng, bà con chuyển ra
đống củi. Số đông c̣n lại chỉ cần
đứng ngắm nh́n xe cơ giới làm việc. Chứng
kiến cảnh tường và cột đổ xuống
rào rào dễ dàng không ngờ như thế, nhiều
người xít xoa: “ Nhà thờ như vậy mà may nó không
đổ nhỉ?”. Buổi chiều, công việc hoàn
toàn phó thác cho xe múc và xe tải chuyển xà bần ra
khỏi khu vực. Như vậy, vỏn vẹn trong
một ngày đầu tiên, ngôi Nhà thờ cũ đă
biến mất, không c̣n vết tích nào!
Số đá chẻ 50.000 viên tôi
thuê đục và cho chuyển về băi đất trống
trong khuôn viên Nhà thờ, dự kiến sẽ
được dùng để xây lớp tường ngoài
pḥng trệt. Pḥng này là phần chính của giáo dân trong ngôi
Nhà thờ cũ, nhưng bị rút ngắn hơn do Nhà
thờ mới tách ra khỏi Tháp chuông, chứ không
để dính liền Tháp như trước nữa.
Tận dụng địa thế để có thêm pḥng sinh
hoạt rộng răi này, pḥng trệt rộng gần 500m2.
Giải pháp cho pḥng trệt âm sâu xuống được
ưu điểm, đó là hai Tháp phụ và nóc Nhà thờ
mới cũng hạ thấp theo, như thế chúng sẽ
không vượt cao hơn ngọn Tháp chính, ngọn Tháp
cũ cố định chưa có kế hoạch nâng lên.
Giải pháp này bị bác bỏ, lư do lấy đất sâu
xuống nữa vừa tốn kém, vừa có nguy cơ sau
này, pḥng sẽ bị ẩm ướt. Giải pháp
được chọn, đó là gạt bớt nền Nhà
thờ cũ để nền pḥng trệt ngang với
mặt bằng đất bên ngoài, đổ mê bê tông
phần trên pḥng trệt, mê này được nối với
phần đất chắc c̣n lại (Cung thánh cũ)
làm nên phần dành cho giáo dân trong ngôi Nhà thờ mới. Múc
thêm đất talus về phía sân Nhà xứ để làm cung
thánh…Với chọn lựa này, đành phải chấp
nhận hai Tháp phụ vươn cao hơn Tháp chính. Mái Nhà
thờ cũ chỉ cao ngang mái thứ hai Tháp chính, bây
giờ mái mới cao ngang ngọn cây thánh giá trên đỉnh
Tháp. Để cân đối, một ngày nào đó, nếu
đủ diều kiện, Giáo xứ sẽ cho nâng Tháp chính
cao lên thêm ba hoặc bốn mét nữa.
Ông
Đỗ Huy Cường được cử làm Giám sát
công tŕnh, chủ yếu là đại diện Giáo xứ coi
ngó và đốc thúc công việc. Ông cũng quen biết ít
nhiều về xây dựng, nhất là có sự cố
vấn của hai cậu ấm là kiến trúc sư và
kỹ sư trong nhà, ông có thể đóng góp thêm nhiều ư
kiến. Số đá chẻ tích luỹ thuộc loại
đá da hổ, nhiều hạt lớn lồi lơm, cứng
chắc nhưng xấu. Ông Cường không bằng ḷng cho
dùng đá này để xây tường. Ông đề
nghị tôi bán số đá ấy đi, mua loại đá
đẹp về xây. Với số tiền hạn hẹp,
nếu thay đá đẹp hơn ắt sẽ tốn kém
hơn, tôi quyết định cứ xây bằng số
đá hiện có. Ông Cường tỏ vẻ không hài ḷng!
Khi xe múc nền Nhà thờ cũ đi, một khối
đá khổng lồ nhô lên, khối đá này là một
tảng duy nhất chạy dài và nằm ngay trên vị trí ba
cây cột của Nhà thờ mới. Ai nấy lo lắng,
coi đó như một khối đá cản
đường xây dựng! Phải dùng đến ḿn
mới phá được khối đá ấy, nhưng
trong thành phố, không ai cho phép nổ ḿn.
Gọi
thợ đá đến phá thử, suốt gần một
buổi sáng, mọi người ngong ngóng chờ
đợi. Tới gần trưa, một hàng dài nêm sắt
đă được đặt vào hàng lỗ thợ đá
đă g̣ trong buổi sáng. Những nhát búa tạ vung lên,
hạ xuống. Cuối cùng, một mảng đă
được tách ra. Thợ đá reo lên: “Chẻ
được, chẻ được!”. Mọi
người vui mừng. Ngày hôm sau, khoảng mười
thợ đục đá được huy động
tới. Họ phải mất hai tuần mới giải
quyết xong khối đá, chẻ ra từng khối
cỡ bằng cái bàn, chẻ được khối nào, xe
cẩu múc lên xe tải chuyển ra ngoài ngay khối đó.
Đá chuyển ra chất thành hai đống như hai
ngọn núi, một đống bên hang đá Lộ
Đức, một đống bên phía Đài Thánh Tâm. Về
sau, những khối đá này được đục ra
thành những viên đá đôi ( đá chẻ
kích thước 40 x 20), tổng cộng trên 16.000 viên,
đủ để xây lớp ngoài pḥng trệt, lát chung
quanh Nhà thờ rộng 4m. Khối đá này thuộc
loại đá đẹp, đá da lươn, mặt
trơn hơn so với đá da hổ. Không chỉ ông
Cường, mà mọi người Du Sinh đều hài
ḷng, coi đó như của Cha Bửu Dưỡng
để lại. Có lần kia, một bà giáo dân Du Sinh
kể lại rằng: Bà đi sau hai anh Công an khu vực
đang đi trên địa bàn Du Sinh, một anh nói
với anh kia: “Ông cha này có lộc, ổng cần đá làm
Nhà thờ, bươi đất lên là có sẵn
đống đá ở đó”.
Những cơn
mưa đúng lúc
Thành
phố Đà Lạt có những thời điểm
thiếu nước sinh hoạt, nhất là những mùa
khách lên đông. Riêng đồi Du Sinh, đỉnh cao
nhất trong Thành phố, cao hơn hồ nước
chứa ở Tùng Lâm. Nước Thành phố chỉ lên
được những hộ ở lưng chừng
đồi. Khi các hộ trên đỉnh đồi xin cho
đưa nước Thành phố về, nhà máy nước
cho biết họ là một tổ chức kinh doanh, không có
vấn đề hỗ trợ, đóng đủ tiền
họ sẽ cho nước về. Bà con chung sức
đóng góp đủ 60.000.000, 00 VNĐ theo yêu cầu.
Nhân viên cho dẫn nước về tới lưng
chừng đồi, bà con xây bể chứa, đặt mô
tơ, thường sáng và chiều mô tơ vợi nước
lên bể Nhà xứ, rồi từ đó nước
đổ về các hộ dân. Bà con vui mừng khi
được hưởng nước sạch của
Thành phố, v́ suốt từ năm 1955 đến nay,
họ phải sử dụng nước ô nhiễm từ
hồ Hy Vọng bơm lên. Hồ này ở dưới chân
đồi, nước tù đọng, chung quanh bà con làm
vườn, thả ḅ, mỗi khi mưa, nước mưa
trên đường tràn xuống… Tuy nhiên, nước
mới không phải lúc nào cũng có, khi không có nước
bà con kêu, lư do luôn là nước yếu không lên đến
nơi. Ở cao cũng có khi khổ!
Đầu
mùa mưa cho thi công là tốt hơn cả. Đầu mùa,
mưa cơn chứ không mưa tầm tă kéo dài ngày này qua
ngày khác. Thợ vẫn có thể làm việc b́nh
thường. Mùa mưa, nhà xứ có bể chứa lớn,
tích trử nhiều nước, đủ sử dụng
cho nhiều ngày liền, không lệ thuộc nguồn
nước của Thành phố.
Ngày Đặt Viên
Đá đầu tiên là một ngày đẹp trời,
trời nắng đến nỗi dăy nhà mái che chỉ
phần chính giữa nâng mái cao, khách có thể ngồi
lại được; c̣n hai cánh che bạt thấp quá,
ngồi trong đó chịu không nổi, bà con chạy ra núp
bóng các lùm cây bên ngoài để tham dự các nghi thức,
một đám đông tụ dưới tán cây bạch
đàn, một đám khác núp bóng mấy cây thông. Mặt
bằng hoàn toàn trống, chỉ có đất và
đất. Viên Đá đầu tiên được
đặt xuống giữa băi đất trống ấy,
ở phần đất làm Cung thánh sau này. Viên Đá
đầu tiên hiện được đặt nằm
dưới nền Cung thánh, ngay phía trước Bàn thờ.
Không
mấy Nhà thờ, thậm chí chưa có Nhà thờ nào cho
đặt Viên Đá đầu tiên như Du Sinh,
thường các Nhà thờ khác đă xây xong phần móng,
nhiều Nhà thờ c̣n vừa xong phần móng vừa đúc
đủ các hàng cột cao lên tới mái, khi ấy họ
mới tổ chức đặt Viên Đá đầu tiên,
Viên Đá gọi là đầu tiên ấy được
đặt sau hàng chục ngàn viên đá khác. Về sau,
Đức cha Phêrô đă có lần nói: “ Chỉ có một Nhà
thờ đặt Viên Đá đầu tiên đúng
nghĩa!”. Chắc chắn, đó là Nhà thờ Du Sinh.
Khỏang
một tháng sau khi Viên Đá đầu tiên được
đặt xuống, công việc được tiến
hành ráo riết. Các cột sắt được dựng
lên, bê tông được đổ đầy. Nơi
khối đá khổng lồ đă được bứng
đi, hố để lại quá sâu, ba cột bê tông ở
đó nằm sâu hơn các cột khác vài ba mét. Chân cột
nằm gọn trong khối bê tông kiên cố, các cột
được kết nối giằng với nhau ngang
cũng như dọc. Mê đầu tiên, đó là trần
của pḥng trệt, đồng thời mặt trên là
một nửa của phần dành cho giáo dân trong ngôi Nhà
thờ mới. Mê này đ̣i hỏi trên 60 khối bê tông. Sáng
kiến của các ông bà trong Hội đồng Giáo xứ,
đó là trải một lớp bạt ny lông dưới
lớp thép. Lúc đầu tôi thấy như thế là lăng
phí và thêm tốn kém, nhưng tôi vẫn chấp thuận.
Về sau, tôi mới biết sự tốn kém v́ số
bạt ấy không đáng kể so với ích lợi
của chúng: nhờ lớp ny lông ấy, không chút xi măng bê
tông nào
theo nước lọt xuống đất.
Không có lớp ny lông ấy, nhiều xi măng sẽ
chảy xuống đất qua các kẽ hở của lớp
ván và tôn chống đỡ phía dưới!
Lúc
bấy giờ ở Đà Lạt có những nhóm đổ
bê tông khác nhau. Họ thường là những thanh niên
khoẻ mạnh từ phía Bắc vào. Họ chuyên
đổ bê tông mà thôi. Nhà nào cần đổ bê tông,
họ sẵn sàng đáp ứng. Nhóm đổ bê tông cho Nhà
thờ Du Sinh là nhóm những người Thái, gốc
Nghệ An. Các cối trộn bê tông quay liên tục, mỗi
cối hai người đổ đá, hai người
đổ cát, một người đổ nước,
một số khác đẩy xe chuyển đến vị
trí đổ. Có anh đẩy xe lớn, chứa trọn
cả một khối bê tông. So với xe bồn bê tông
trộn sẵn, cách làm này c̣n mang tính thủ công. Nhưng do
địa thế, do công việc nhất định,
đó cũng là cách có nhiều ưu thế, bê
tông trộn bảo đảm chất lượng, dễ
kiểm tra tại chỗ, và phù hợp để tiến
độ nhịp nhàng ăn khớp với các nhóm công nhân
khác, thợ sắt, thợ gơ, thọc cây hay cho máy sục
rung bê tông. Bê tông làm kỹ, không khuyết chỗ nào, mọi
ngóc ngách được rải đều…
Việc đổ bê
tông là việc nặng nhất và mệt nhất, không cho
phép ngưng nghỉ. Các công nhân làm việc khẩn
trương và liên tục từ sáng sớm đến
tối, mê đầu tiên của Nhà thờ Du Sinh đă hoàn
tất. Hôm ấy trời tốt, sáng hơi nắng,
chiều trời mát, chỉ phải tưới nhẹ vùng
bê tông đổ ban sáng. Theo nguyên tắc, bê tông phải
tưới liên tục để giữ ướt
suốt ba tuần lễ mới tốt. Xét thấy hoàn
cảnh Du Sinh, t́nh trạng nước nôi trên đỉnh
đồi cao, Chúa và Đức Mẹ bắt đầu ra
tay. Sáng hôm sau, một cơn mưa băo đổ xuống,
bê tông luôn ngập nước cho đến ba tuần
lễ sau mưa mới ngưng. Mặt trên luôn ngập
nước như thế, nhưng phía dưới không
giọt nước nào lọt xuống, nguyên do như
đă nói trên, nhờ trải ny lông, một lớp xi
măng mỏng tụ lại dưới lớp bê tông, trám
kín các kẽ hở của sàn bê tông. Ai nấy vui mừng,
bê tông không bị hốc, không tốn nước, không
tốn công tưới. Thời gian mưa, công nhân tranh
thủ làm sắt dưới mái che.
Các cột
được nối lên dần. Mê thứ hai đến
lượt. Mê này là tầng đàn và Ca đoàn, tầng trên
của Pḥng thánh, tầng trần của hành lang chạy
quanh Nhà thờ, dưới các mái phụ (Nhà thờ hai
mái)…đ̣i hỏi trên 90 khối bê tông. Thợ chính
đổ bê tông vẫn là nhóm người Thái, lần này
được tăng cường đông hơn. Công
việc được bắt đầu sớm hơn, và
hoàn tất cũng muộn hơn. Tất cả đều
diễn ra hài hoà như đợt đổ bê tông
trước, khoảng chiều tối mưa lất
phất, tám giờ tối đổ xong, phần bê tông
cuối cùng mới đổ chưa ráo nước
phải che bạt! Và từ đó, sự may mắn
diễn lại. Sáng hôm sau, mưa lại đổ
xuống liên tục và tầm tă, lần này trận mưa
cũng kéo dài đúng ba tuần. Đó là thời gian bắt
buộc phải tưới liên tục để bảo
đảm chất lượng của bê tông.
Những
trùng hợp như thế xưa nay hiếm, nhất là
những trùng hợp đầy may mắn liên tục
nhiều lần trong suốt một năm thi công. Tin
đồn được truyền đi, Nhà thờ Du Sinh
có nhiều phép lạ! Thế là nhiều người chú ư
đến Nhà thờ Du Sinh hơn. Mưa nắng là
việc của trời đất, của thiên nhiên. Tứ
thời bát tiết hoặc ít thời ít tiết hơn
tuỳ khu vực. Nhưng đối với những
người có đức tin, đặc biệt những
giáo dân Du Sinh là những chứng nhân trực tiếp về
các hiện tượng thiên nhiên ấy, họ cảm
nhận được ân phúc dành cho họ, họ cảm
nhận một điều: thiên nhiên không phải là
hiện tượng khách quan, mù quáng, may rủi. Đàng sau
thiên nhiên và trên thiên nhiên, Thiên Chúa vẫn là Chủ.
Người là Đấng Tạo Hoá, Người là Chủ
Tể trời đất, Người là Đấng Quan
Pḥng, Người tốt lành, Người quan tâm
đến chúng ta là con cái. Người điều
khiển vận hành của vũ trụ.
Sau những cảm
nghiệm về t́nh yêu thương Chúa dành cho Du Sinh qua
những ưu đăi của thiên nhiên, qua các ân nhân, giáo dân
Du Sinh thêm ḷng tin tưởng. Giáo dân Du Sinh luôn ghi nhớ với
tâm t́nh biết ơn đối với Chúa và các ân nhân, trong đời sống cầu
nguyện, trong mối quan tâm nhiều hơn đối
với những Giáo xứ nghèo chưa có nơi thờ
phượng xứng đáng. Mọi người đều một
ḷng một ư chung sức xây dựng Giáo xứ ngày một
tốt hơn, hiệp nhất yêu thương hơn.
Ngày
16-05-2007 đă được chọn để tổ
chức lễ Cung Hiến Nhà thờ Du Sinh. Đức cha
Phêrô đă nhất trí, thiệp mời đă
được gửi đến các cha xứ và các Giáo xứ, các ân nhân trong
và ngoài Giáo phận. Nhiều người ngạc nhiên: Nhà
thờ mới đặt Viên Đá sao nhanh thế? Có
người bà con tôi ở B́nh Giả, Tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu c̣n nghĩ:

“Cha bôi
hay sao đấy chứ, làm ǵ mới có một năm mà
đă xong!”. Có cha hoài nghi nên đến tận nơi quan
sát. Chỉ c̣n hai tuần nữa cung hiến, công việc
c̣n nhiều, địa bàn c̣n ngổn ngang! Khó mà kịp!
Nhưng chỉ trong hai tuần ấy, bà con Du Sinh dốc
toàn lực để hoàn tất công tŕnh và để
tổ chức lễ đúng ngày như dự kiến.
Số người t́nh nguyện đi làm công tác đông
đảo hơn hẳn. nhiệt t́nh hăng hái cho
việc chung, việc của Giáo xứ. Ai cũng có chung
một ư nghĩ rất chính xác rằng: “Bỏ vào Nhà
thờ, làm cho Chúa không có mất. Bỏ công bỏ của
vào Nhà thờ giống như gửi tiền vào Ngân hàng
vậy”. Chắc chắn, họ hiểu đó là Ngân hàng cho
Nước Trời tương lai. Sau ngày Cung Hiến,
vị cha xứ nói trên phải công nhận: “ Hai tuần
trước tôi đến thấy t́nh trạng như
thế làm sao kịp để tổ chức Lễ Cung
Hiến? Vậy mà, cuối cùng, mọi sự đâu vào
đấy cả, tiến độ tổ chức
thật đáng khâm phục!
Về
tổ chức, nếu được chỉ đạo
tốt, bà con giáo dân Du Sinh rất có thiện chí và ḷng hy sinh.
Tuy không đồng đều, nhưng số người
có ư thức cộng đồng và có tài năng không
thiếu. Nhờ đó, các cuộc tổ chức lễ
lớn tại Nhà thờ Du Sinh thường kết quả
tốt và gây nhiều ấn tượng đối với
khách ngoài Giáo xứ.
Mưa liên
tục đêm ngày, ngày này qua ngày khác. Bầu trời Đà
Lạt mây đen nghịt. Một tuần trước
Lễ Cung Hiến, tin áp thấp nhiệt đới
vẫn không có ǵ sáng sủa. Công tác chuẩn bị khó khăn,
nhưng điều đáng lo lắng hơn cả, đó
là nếu trời mưa, cuộc lễ mất vui, khách
sẽ không đến hoặc đến ít. Chung quanh Nhà thờ
nước tràn lan, đất lầy lội, bùn dơ dáy!
Bà con Du Sinh nh́n nhau ngơ ngác. Họ hỏi nhau: “ Trời
cứ mưa thế này làm sao đây? Hay là hoăn ngày lại?”.
Thiệp mời đă được tung đi khắp
nơi rồi, không cách ǵ thu hồi lại được.
Không thể nào hoăn Ngày Cung Hiến được. Nhất
định phải tiến hành đúng dự kiến.
Chỉ c̣n cách thứ hai, đó là cầu nguyện. Và
chắc chắn Cha xứ và bà con giáo dân Du Sinh đă cầu
nguyện nhiều trong những ngày hồi hộp ấy.
Hai ngày trước lễ, trời vẫn mưa, vẫn
tối âm u! Bỗng nhiên, ngày áp lễ, trời bừng
sáng, rồi nắng lên. Một ngày tuyệt vời,
trời đất thay đổi. Chung quanh Nhà thờ ráo
nước, các con đường đă đủ khô. Ngày
16-05-2007, NGÀY LỄ CUNG HIẾN NHÀ THỜ DU SINH, khách các
nơi ùn ùn kéo đến, từng đoàn từng đoàn
người xuống xe, Kinh cũng như Thượng,
khuôn mặt hân hoan. Họ đến từ các Giáo xứ
gần hoặc xa trong Tỉnh Lâm Đồng, Giáo phận
Đà Lạt. Họ đến từ các Tỉnh xa xôi khác
như Khánh Hoà, Sài G̣n, Bà Rịa-Vũng Tàu…Lạ hay quen, tất
cả đều hoà nhập vào niềm vui chung của Ngày
Cung Hiến Nhà Chúa, không phải chỉ là Nhà thờ của
Giáo xứ Du Sinh mà họ đến chia sẻ niềm vui
và tâm t́nh cảm tạ. Đối với họ, một
ngôi Nhà thờ mới, một nơi thờ phượng
mới, đó là một hồng ân quí báu cho Giáo Hội, cho
chính họ. Họ lần lượt thực hiện
những cuộc dạo quanh quan sát, ngắm nghía, vào pḥng
trệt, lên Nhà thờ, ngắm nghía các hàng cột cây trúc,
các ảnh tượng mới do Thầy Quang Vinh, Ḍng Phan
Sinh và và bốn bạn khác của Trường Đại
học Mỹ thuật Sài G̣n thực hiện. Ông Bà
Trợ ủng hộ ba tượng lớn trên Cung Thánh,
mỗi tượng cao 2,5m (24.000.000, 00
VNĐ).
Ông Bà Cường-Huệ ủng hộ bộ Chặng
đàng Thánh giá (35.000.000, 00 VNĐ). Gia đ́nh Bà
Hinh ủng hộ Bàn Thờ cẩm thạch trắng
chúng tôi đặt từ Thanh Hóa chuyển vào (24.000.000, 00
VNĐ).
Công tác chuyển thủ công Bàn thờ này từ xe vào vị
trí quả là một kỳ công. Khi vận động 50
người trẻ lên Nhà thờ làm công tác, ai
cũng thắc mắc: “Bàn thờ ǵ mà phải dùng tới
50 người khiêng?”. Ấy thế mà khi vào việc, ai
cũng nhận thấy đúng như dự kiến.
Đ̣n ngang, đ̣n dọc, người đứng san sát
nhau quanh Bàn thờ, khiêng tay một đọan
đường vài chục mét, bước đi cẩn
thận tối đa, thời gian cũng phải hết
trên 30 phút. Đặt xong Bàn thờ vào vị trí, mọi
người thở phào nhẹ nhơm, không ngờ Bàn thờ
nặng như thế. Đá hoa cương tím Mông Cổ,
đá đỏ Ấn Độ, đá vàng B́nh
Định, đá ép lát nền, bàn ghế trong Nhà thờ…,
giáo dân Du Sinh đăng kư
ủng hộ số lượng theo ḷng hảo tâm và
tùy điều
kiện kinh tế gia đ́nh.
Các Nữ tu nghiêm trang sốt
sắng!
Dân
chúng dần dần ổn định vào vị trí. Nụ
cười và tiếng cười rạng rỡ trên khuôn
mặt mọi người, nơi quan khách cũng như
nơi bà con giáo dân Du Sinh, một niềm vui thánh thiện và
nâng cao. Các nhóm tiếp tân được dịp để
khuôn mặt thư dăn thoải mái, quên đi tất cả
mọi nỗi nhọc nhằn của cuộc sống.
Chẳng
bao lâu, các dăy ghế mới trong Nhà thờ đă
đầy, các nữ tu đông đảo chưa từng
thấy trong các cuộc lễ Cung hiến những Nhà
thờ khác, phần đông là các nữ tu Ḍng Mến Thánh
Gía Đà Lạt, kể cả khối Tập sinh và
Tiền tập. Hành lang chung quanh Nhà thờ đă hết
chỗ, các mái che hai bên hông Nhà thờ cũng kín
người. Pḥng trệt ưu tiên dành cho giáo dân Du Sinh
cũng đông đúc. Trong pḥng trệt, họ tham dự
Thánh lễ qua ba màn ảnh lớn đặt dọc theo
gian pḥng. Rất may, hôm ấy mát trời, nghĩa là không
nắng không mưa, những người c̣n lại có
thể chọn đứng bất cứ nơi đâu
họ muốn để tham dự. Khuôn viên Nhà thờ Du
Sinh đủ chỗ cho mọi người.
Thánh lễ đồng tế hôm ấy
long trọng, sốt sắng và vui tươi. Đức
cha Phêrô, đông đảo các cha đồng tế, khách xa
gần, bà con giáo dân Du Sinh, ai nấy thi nhau vui cười
rất hồn nhiên. Thật là một ngày thánh thiêng. Về
sau, có người kể lại phản ứng của
một vị khách từ B́nh Giả, Tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu như sau: Bà ta nói:
“Trước đến nay tôi chưa đi dự
Lễ Cung Hiến Nhà thờ nào, nay lên Đà Lạt dự
lễ này lần đầu, vui thật. Lần sau có
lễ tôi đi nữa!”.
Với một chút táo
bạo và liều lĩnh xét về mặt con người,
nhưng theo đức tin, đó là tin tưởng và phó
thác, ư thức đây là việc làm cho Chúa, v́ Chúa và v́ nhu
cầu cũng như niềm mơ ước của
nhiều người, nhất là của tuyệt
đại đa số bà con giáo dân Du Sinh, công tŕnh xây
dựng này chứng minh đúng câu; “Mưu sự tại
nhân, thành sự tại Thiên”.
( Bài này được đọc
cuối Lễ Cung Hiến)
Trọng kính Đức cha,
Cha Tổng Đại diện,
Cha Giám Tỉnh Ḍng Đa Minh,
Đại diện cha Giám Tỉnh
Ḍng Phan Sinh,
Các cha,
Các Xơ Tổng Đại
diện và Giám Tỉnh các Hội Ḍng nữ,
Các tu sĩ nam nữ, anh chị em
giáo dân,
Các ân nhân, thân nhân và
quư khách…
Kính thưa
tất cả quư vị,
Nhiều phép lạ nhỏ
cọng lại thành một phép lạ lớn, thế là Nhà
thờ Du Sinh đă hoàn thành. Đức cha đă nói ngày
Đặt Viên Đá đầu tiên: “ Không có Nhà thờ nào
có bắt đầu mà không có kết thúc”. Chúng con thấy
chúng khác nhau ở chỗ kết thúc sớm hay kết thúc
muộn. Chúng con dự kiến công tŕnh này có thể kéo dài
bốn hoặc năm năm, nhưng nay mới một
năm, nh́n thấy Nhà thờ đă ra như thế này,
đành phải cho nó một kết thúc sớm vậy.
Như thế sẽ có nhiều người
hơn chứng nghiệm rằng Đức cha Đà
Lạt có ơn tiên tri, và thỉnh thoảng có ơn bất
khả ngộ nữa.

Chúng
con cảm nghiệm rằng: Đây là việc Chúa,
Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse làm, nhờ lời
cầu nguyện của Đức cha và quư thân nhân, ân nhân
xa gần. Giáo dân Du Sinh chúng con suốt một năm qua
đă chung sức chung ḷng hợp tác với nhau thực
hiện công tŕnh này. Nhu cầu Du Sinh chỉ cần một
mái nhà tranh cho trên một ngàn trái tim vàng. Nhưng nghe
Đức cha nói trong ngày Đặt Viên Đá: “ Ngôi Nhà
thờ không phải là của một cha xứ, cũng không
phải là của một Giáo xứ, nhưng là của Giáo
Hội, của Giáo phận”, nên chúng con làm v́ Giáo phận, v́
Giáo Hội. Đức cha cứ việc đưa giáo dân
các nơi về đây đọc kinh cầu nguyện ngày
đêm cũng được.
Chúng
con chân thành cám ơn Đức cha hôm nay đến Cung
Hiến ngôi Thánh đường dâng kính Thánh Giuse này. Chúng
con cám ơn các cha đă vận động giáo dân của
các cha hỗ trợ chúng con và hôm nay đến đồng
tế trong thánh lễ đặc biệt này.
Các
Hội Ḍng cũng đă rất tích cực cầu
nguyện và giúp đỡ vật chất cho chúng tôi trong
thời gian qua, và nay đến hiệp thông với chúng tôi
trong tâm t́nh tạ ơn ngày trọng đại này. Chúng tôi
xin cám ơn.
Chúng
tôi cám ơn kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng, kiến trúc
sư Đỗ B́nh Sơn, kỹ sư Đỗ Anh Huy
Vũ, chị Phạm Thị Oanh và các kỹ sư giúp chúng
tôi trong phần kiến trúc và kỹ thuật. Chúng tôi cám
ơn Ông Hùynh Văn Thanh và các công nhân trực tiếp thi
công thực hiện công tŕnh này. Chúng tôi cám ơn ông Đỗ
Huy Cường giám sát chặt chẽ, nhờ đó
độ chính xác của ngôi Nhà thờ Du Sinh tương
đối là tuyệt đối. Chúng tôi cám ơn các ân nhân
xa gần, Anh chị em Phan Sinh Tại Thế, Hội
Bảo Trợ Ơn Gọi Phan Sinh, Tỉnh Ḍng Phan Sinh, các
Giáo xứ… Chúng tôi đặc biệt cám ơn ông bà Bùi
Quyền, cha Đỗ Phinh, cha Nguyễn Văn Thái và gia
đ́nh, ông bà Chân Đức, anh chị Khoa Phương, và
tất cả các ân nhân mà chúng tôi không thể nêu danh hết.
Chúng tôi cám ơn Đại lư Thanh Trà cung cấp vật
liệu xây dựng cho chúng tôi liên tục suốt năm qua.
Chúng tôi cám ơn Đại lư Kim Hậu cung cấp gạch
đá lát nền với phép rộng: “ Cha cần cứ
lấy về làm, khi nào có th́ trả”. Hy vọng kiếp sau
sẽ có? Chúng tôi cám ơn Chính quyền các cấp cho chúng
tôi tổ chức thánh lễ hôm nay.
Nguyện
xin Chúa trả công bội hậu và chúc lành cho Đức
cha, quư cha, quư tu sĩ nam nữ, toàn thể quư vị có
mặt và vắng mặt. Và sau thánh lễ này, xin mời
Đức cha và tất cả quư vị ở lại cùng
chung vui với chúng tôi trong Bữa Cơm thân mật. Xin cám
ơn.
Sau đây, chúng con xin dâng lên Đức cha, cha Tổng
Đại diện và cha Giám Tỉnh Ḍng Đa Minh những
lẵng hoa tươi thắm để bày tỏ ḷng
biết ơn của chúng con.
Mọi
người đều vỗ tay tán đồng!


Đ̣an đồng tế tiến về Nhà thờ

Cung thánh tràn ngập ánh sáng

Cha Đinh Tiến Hướng,
Quản xứ Thái Ḥa, Hố Nai, chỉ đường
lên Nhà thờ cho cha Quản xứ Du Sinh.

Người của
Chúa chiếm lĩnh Nhà Chúa

Giữ ch́a khóa
nhưng luôn mở ra cho mọi người

Ca đ̣an du
dương trong tiếng hát lời ca.
Bà con giáo dân Du Sinh dưới pḥng trệt dự Thánh
lễ Cung Hiến Nhà thờ qua màn h́nh.

Tất cả quư khách tham dự
Thánh lễ Cung Hiến Nhà thờ đều
cùng chung vui trong Bữa Cơm thân mật.