GIÁO PHẬN QUI NHƠN
BAN MỤC VỤ GIA Đ̀NH VÀ BAN MỤC VỤ VĂN HÓA

 

 

 

 

 

SỔ TAY
TÂN PHÚC ÂM HÓA
GIA Đ̀NH VÀ GIA TỘC

 

 


IMPRIMATUR

Qui Nhơn, ngày 01 tháng 12 năm 2013

X Matthêô Nguyễn Văn Khôi

Giám mục giáo phận Qui Nhơn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tủ sách Nước Mặn 09

 


LỜI GIỚI THIỆU

 

 

Trong khung cảnh trước và sau ngày khai mạc Năm Đức Tin (11.10.2012), Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đă triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII tại Rôma, từ ngày 7 đến 28 tháng 10 năm 2012, với chủ đề: “Tân Phúc-âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”.

Tân Phúc-âm-hóa là rao giảng Tin Mừng bằng nhiệt t́nh mới, với những phương pháp mới và những cách diễn tả mới, cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Cuộc Tân Phúc-âm-hóa phải bắt đầu từ mỗi gia đ́nh công giáo là Hội Thánh thu nhỏ, nhờ đó mỗi Kitô hữu tái khám phá và làm mới lại đức tin của ḿnh, đổi mới cuộc sống theo tinh thần Phúc Âm, để có thể ra đi rao giảng Tin Mừng cho kẻ khác một cách hăng say và có hiệu quả.

V́ thế, trong năm 2014 này, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kêu gọi mọi người Công giáo Việt Nam cùng nhau phúc-âm-hóa đời sống gia đ́nh và thúc đẩy các gia đ́nh tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng.[1] Cũng trong năm này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ triệu tập một Thượng Hội Đồng đặc biệt về gia đ́nh, từ ngày 5 đến 18 tháng 10, với chủ đề: “Các thách đố mục vụ của gia đ́nh trong bối cảnh Tân Phúc-âm-hóa”.

Việc Tân Phúc-âm-hóa đ̣i buộc mỗi gia đ́nh công giáo không những phải là những cộng đoàn cầu nguyện, phục vụ sự sống, mà c̣n phải gia tăng đức ái để trở thành những cộng đoàn yêu thương kiểu mẫu, trong đó mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau phải là dấu chỉ sống động của T́nh Yêu Thiên Chúa, và cuối cùng phải trở thành những cộng đoàn tham gia vào sứ vụ phúc-âm-hóa của Giáo Hội.[2]

Để giúp các gia đ́nh công giáo thực hiện công cuộc Tân Phúc-âm-hóa, Ban Mục Vụ Gia Đ́nh và Ban Mục Vụ Văn Hóa của Giáo Phận Qui Nhơn xin gửi đến các gia đ́nh quyển SỔ TAY TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA Đ̀NH VÀ GIA TỘC gồm 2 phần. Phần I với tựa đề “Mối bận tâm hiện nay của Hội Thánh về gia đ́nh”, gồm những văn bản hướng dẫn của các vị chủ chăn. Phần II với tựa đề “Một số chỉ dẫn thực hành”, gồm 54 đề tài cụ thể được biên soạn ngắn gọn dựa theo giáo huấn của Hội Thánh và được tập hợp thành 3 đề mục: “Gia đ́nh giáo dục”, “Gia đ́nh sống đạo” và “Gia đ́nh truyền giáo”.

Tôi trân trọng giới thiệu quyển sổ tay này với các gia đ́nh như một nỗ lực nhỏ bé nhằm giúp các gia đ́nh thực hiện việc Tân Phúc-âm-hóa chính ḿnh, để trở thành những cộng đoàn sống đức tin và truyền bá đức tin trong môi trường sống của ḿnh.

 

              Qui Nhơn, Chúa nhật I Mùa Vọng, 01.12.2013

              X Matthêô Nguyễn Văn Khôi

              Giám mục giáo phận Qui Nhơn

 

 

 

 

 

PHẦN I
MỐI BẬN TÂM HIỆN NAY
CỦA HỘI THÁNH VỀ GIA Đ̀NH



 

THÔNG CÁO 
CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
 
VỀ VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN

Ngày 20-10-1964, Ṭa Thánh, qua Bộ Truyền giáo đă chấp thuận đề nghị của Hàng Giám Mục Việt Nam xin áp dụng huấn thụ Plane compertum est (8-12-1939), về việc tôn kính tổ tiên cho giáo dân Việt Nam.

Để hiểu rơ tinh thần Giáo Hội trong việc chấp thuận này, và để có những chỉ thị hướng dẫn trong khi áp dụng, Hội đồng Giám mục muốn nêu lên mấy điểm sau đây:

I. Giáo hội Công Giáo đối với nền văn hóa và truyền thống các dân tộc

1) Giáo Hội Chúa Kitô bao giờ cũng tha thiết thực hiện mệnh lệnh Đấng Sáng Lập, để hiện diện khắp nơi và tuyên giảng Phúc Âm cho mọi người. Cố gắng đầu tiên của Giáo Hội là giúp sao cho con người được nên h́nh ảnh đích thực của Thiên Chúa và được trung thực với sứ mệnh Kitô hữu của ḿnh, để đạt cứu cánh sau hết là hạnh phúc đời đời. Công tŕnh đó được thực hiện trong nội khảm của mỗi cá nhân. Nhưng nó có vang âm đến toàn diện cuộc đời và trong mỗi khu vực sinh hoạt của con người (Đức Piô XII: Huấn dụ tại Cơ Mật Viện, ngày 20-2-1946).

2) Mặt khác, từ nguyên thủy cho đến ngày nay, Giáo Hội Công Giáo vẫn tuân theo tiêu chuẩn Phúc Âm. Theo đó, Giáo Hội không hủy bỏ hay dập tắt những giá trị thiện hảo, liêm chính, chân thành của các dân tộc. Âu cũng v́ bản tính nhân loại, dù c̣n mang dấu vết sự sa ngă của tổ tông, song vẫn giữ trong nội tâm một căn bản tự nhiên mà ánh sáng và ân sủng Thiên Chúa có thể soi chiếu, dinh dưỡng và nâng lên tới một mức độ đức hạnh, một nếp sống siêu nhiên đích thực. Cũng v́ vậy mà Giáo Hội không bao giờ miệt thị, khinh chê tư tưởng cũng như nghệ thuật hoặc văn hóa của người không Công giáo. Trái lại, Giáo Hội đă từng góp phần thanh luyện hoặc bổ túc để đi đến chỗ hoàn hảo. Trải qua các thế kỷ, Giáo Hội đă thánh hóa những phong tục cũng như những truyền thống chân chính của các dân tộc. Giáo Hội cũng đă nhiều lần đem nghi lễ của miền này xứ nọ sát nhập vào nền phụng vụ của ḿnh, sau khi đă tu chỉnh cả tinh thần và h́nh thức, để ghi nhớ mầu nhiệm hoặc để tôn kính các bậc thánh nhân hay các vị tử đạo (Đức Piô XII: Thông điệp Evangeli praecones, 2-6-1951; Đức Gioan XXIII trích dẫn tư tưởng này trong thông điệp Princeps Pastorum, 28-11-1959).

3) Đối với các tôn giáo khác, Giáo Hội Công Giáo cũng chủ trương một lập trường rơ rệt. Dĩ nhiên Giáo Hội không thể tham dự vào các nghi lễ của các tôn giáo khác, hoặc coi tôn giáo nào cũng như tôn giáo nào, và lănh đạm để mặc ai muốn hay không muốn t́m xem Thiên Chúa có mạc khải một đạo không sai lầm, trong đó Thiên Chúa được nhận biết, kính mến và phụng thờ. Tuy nhiên, Giáo Hội không từ chối công nhận một cách kính cẩn những giá trị tinh thần và luân lư của các tôn giáo khác (Đức Phaolô VI, thông điệp Ecclesiam suam, 6-8-1964). Giáo Hội không phủ nhận điều ǵ vốn là chân lư và thánh thiện của bất cứ tôn giáo nào. Giáo Hội luôn luôn rao truyền Đức Kitô là “đường đi, là chân lư và là nguồn sống” và, trong Đức Kitô, Thiên Chúa làm ḥa với muôn vật.

Tuy nhiên Giáo Hội thành tâm và lưu ư cứu xét những hành động và sinh hoạt, những luật pháp và lư thuyết của các tôn giáo khác tuy có sai biệt với những điểm Giáo Hội đề ra, song vẫn mang lại một tia sáng nào đó của chính cái chân lư hằng soi sáng mọi người. V́ thế, Giáo Hội khuyên giục con cái ḿnh tuy vẫn phải giữ đức tin Công giáo tuyền vẹn, nhưng phải làm thế nào để nắm giữ và phát triển những của cải thiêng liêng, luân lư và những giá trị xă hội, văn hóa, gặp được trong các tôn giáo khác nhờ những buổi hội thảo, sự học hỏi và sự cộng tác với các tín đồ của các tôn giáo này (Công đồng Vatican II, khóa III: Giáo Hội và các tôn giáo ngoài Kitô giáo, ngày 20-11-1964)

Chính lập trường đó của Giáo Hội được đúc kết trong tư tưởng của các Đức Giáo Hoàng và trong đệ nhị Công đồng Vatican, đă giải thích lư do của quyết định Ṭa Thánh, khi cho áp dụng huấn thị Plane compertum est tại Việt Nam ngày nay. Và cũng chiếu theo tinh thần đó, các Giám mục hội nghị tại Đà Lạt trong những ngày 12, 14-06-1965 đă cho công bố thông cáo này.

II. Thể thức áp dụng Huấn thị Plane compertum est

1) Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay v́ sự tiếp xúc với bên ngoài và v́ tâm t́nh, tập quán đă thay đổi nhiều, nên chỉ c̣n là những phương cách biểu lộ ḷng hiếu thảo tôn kính đối với tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tính cách thế tục, lịch sự và xă giao đó, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không ngăn cấm mà c̣n mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.

V́ thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, có một ư nghĩa thế tục rơ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, ḷng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, h́nh, dựng tượng, nghiêng ḿnh bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...) th́ được thi hành và tham dự cách chủ động.

2) Trái lại, v́ có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công Giáo được tinh tuyền, Giáo Hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặc tự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lư ḿnh dạy.

V́ thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lư Công Giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ ḷng phục tùng và sự lệ thuộc của ḿnh đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoan rơ rệt (như đốt vàng mă), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự... th́ giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện một cách thụ động như đă ấn định trong giáo luật, khoản 1258 (GL 1917).

3) Đối với những việc mà không rơ là thế tục hay tôn giáo, th́ phải dựa theo nguyên tắc này, là nếu những hành vi đó, theo dư luận dân chúng địa phương không coi như sự tuyên xưng tín ngưỡng của một tôn giáo (ngoài Kitô giáo), mà chỉ biểu lộ một tâm t́nh tự nhiên, th́ được coi như không trái với đức tin Công Giáo, nên được thi hành và tham dự. Trong trường hợp chưa hết nghi nan, th́ có thể hành động theo tiếng lương tâm lúc ấy: nếu cần, th́ phải giải thích chủ ư của ḿnh một cách khéo léo, hợp cảnh, hợp thời. Sự tham dự cũng chỉ được có tính cách thụ động.

Đó là những nguyên tắc chung, giáo hữu cần phải dựa vào mà xét đoán theo lương tâm và hoàn cảnh. Trong trường hợp hồ nghi, mọi người liên hệ không được theo ư riêng ḿnh, mà sẽ phán đoán theo chỉ thị của Ṭa Thánh và bàn hỏi với các giáo sĩ thành thạo.

Yêu cầu quư cha phổ biến rộng răi và giải thích tường tận thông cáo này không những trong các nhà thờ mà cả mỗi khi có dịp, không những cho anh em giáo hữu mà cả cho người ngoài Công Giáo. Các vị phụ trách Công Giáo Tiến Hành cũng phải lấy thông cáo này làm đề tài học tập cho các hội đoàn trong các buổi họp và các khóa huấn luyện.

Làm tại Đà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965

Sacerdos-Linh Mục Nguyệt San, số 43, tháng 7-1965, trang 489-492

§1 Người tín hữu không được phép tham dự cách chủ động bằng bất cứ cách nào, hoặc tham dự một phần trong các nghi thức của người không Công giáo.

§2 Có thể chước chuẩn cho người tín hữu hiện diện cách thụ động, hay chỉ có tính cách bề ngoài v́ trách nhiệm dân sự hoặc v́ danh tiếng, bởi có lư do quan trọng, trường hợp nghi ngờ đă được Giám mục xác nhận. Trong các lễ an táng người không Công giáo, các đám cưới và những cuộc lễ long trọng tương tự, miễn là không có nguy hiểm làm gương mù và sinh lợi.

 


QUYẾT NGHỊ
VỀ LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN

Chúng tôi, các Giám mục chủ tọa khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc, tại Nha Trang ngày 12-14 tháng 11 năm 1974, đồng chấp thuận cho phổ biến việc thi hành trong toàn quốc, những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 14.6.1965, về các lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên, như sau:

“Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng, hội nghị nhận định: Những cử chỉ thái độ, lễ nghi (sau này) có tính cách thế tục lịch sự xă giao để tỏ ḷng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các Tổ Tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động” (Thông cáo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 14.06.1965).

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ Tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đ́nh, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều ǵ mê tín dị đoan, như hồn bạch.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đ́nh theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những ǵ là dị đoan mê tín, như đốt vàng mă, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ư nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, v́ đó là nghi lễ tỏ ḷng biết ơn, hiếu kính tŕnh diện với Ông Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ ḷng cung kính người đă khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng ḿnh trước thi hài người quá cố.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đ́nh làng, để tỏ ḷng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đă có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”.

Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu khích lệ, thông cảm… Đối với giáo dân, cần phải giải thích cho hiểu việc tôn kính Tổ Tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, v́ chính Chúa cũng truyền phải “thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.

Tại Nha Trang, ngày 14.11.1974

                   Kư tên:

- Philiphê Nguyễn Kim Điền, TGM Huế

- Giuse Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho

- Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, GM Vĩnh Long

- Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, GM Cần Thơ

- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nha Trang

- Phêrô Nguyễn Huy Mai, GM Ban Mê Thuột

- Phaolô Huỳnh Đông Các, GM Qui Nhơn


THƯ CHUNG 2007
của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
về GIÁO DỤC KITÔ GIÁO

 

GIÁO DỤC HÔM NAY
XĂ HỘI VÀ GIÁO HỘI NGÀY MAI

 

Kính gửi: Cộng đồng Dân Chúa Việt Nam.

 

LỜI MỞ

1. Từ Đại Hội Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lần thứ X tổ chức tại Toà Tổng Giám Mục Hà-nội từ 08 đến 12-10-2007, chúng tôi, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục thuộc 26 giáo phận Việt Nam, xin gửi lời chào thân ái và lời chúc b́nh an đến toàn thể cộng đồng Dân Chúa Việt Nam, trong nước cũng như hải ngoại. Đặc biệt, trong t́nh hiệp thông liên đới và lời cầu nguyện, chúng tôi bày tỏ niềm cảm thông và phân ưu sâu sắc đối với các thân nhân và nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26-09-2007 và cơn băo số 5 (Lekima) ngày 02-10-2007.

2. Anh chị em thân mến,

Với các thư trước, chúng ta đă đào sâu việc thực hành đức tin qua phong cách sống mầu nhiệm Thánh Thể (2004), sống Lời Chúa (2005) và sống Đạo (2006). Tiếp tục theo đuổi định hướng đó và trong viễn ảnh chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành lập hàng Giáo phẩm vào năm 2010, Thư Chung năm nay lấy giáo dục Kitô giáo làm chủ đề. Điều đó thật đúng lúc khi mà khắp nơi trên thế giới, giáo dục đang là một vấn đề thời sự nóng bỏng và đặc biệt hơn nữa, tại Việt Nam, nhiều người cho rằng đă đến lúc cần phải cương quyết nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục.

3. Mục đích của nền giáo dục Kitô giáo không chỉ là rèn luyện nhân cách con người thành hữu ích đối với bản thân, gia đ́nh và xă hội, mà c̣n là giúp con người sống xứng đáng với tư cách con Thiên Chúa để mai sau trở thành công dân nước trời. Sứ mạng đó được khơi nguồn từ Chúa Cha, được thực hiện nơi Chúa Con và được kiện toàn nhờ Chúa Thánh Thần.

I. NỀN TẢNG GIÁO DỤC KITÔ GIÁO

Chúa Cha Và Công Tŕnh Tạo Dựng

4. Công tŕnh giáo dục Kitô giáo, trước khi là công khó của con người, đă là kế hoạch của Thiên Chúa. Khi tạo dựng con người giống h́nh ảnh Ngài, ban cho con người khả năng đạt tới chân lư và tự do (x. Hc 17, 3 &7), Thiên Chúa Cha đă định hướng công tŕnh sáng tạo vũ trụ của Ngài bằng một đường lối sư phạm mềm dẻo phù hợp với lợi ích và thái độ đón nhận của con người. Thuở ban đầu, v́ Dân Ngài chọn c̣n cứng ḷng nên Thiên Chúa xem ra nghiêm khắc (x. Lv 26, 14-46; Đnl 28, 15-45), nhưng dần dà, từng bước một, Ngài tỏ cho họ thấy Ngài vẫn là một Thiên Chúa “thành tín trong mọi lời Ngài phán, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm” (Tv 144, 13b).

 

Chúa Con Và Tin Mừng Cứu Độ.

5. Đường lối sư phạm của Chúa Cha cốt là để chuẩn bị cho Chúa Con đến “dạy dỗ loài người mong chờ và đón nhận ơn cứu độ”. Chính Chúa Giêsu cũng khẳng định ḿnh “là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 6, 14). Muốn nắm bí quyết sự sống đích thật, con người phải đến thụ huấn tại trường học của Chúa Giêsu. Nhưng học nơi trường Chúa Giêsu không chỉ là học làm người theo nghĩa nhân bản mà c̣n là học “nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Chúa Thánh Thần Và Vai Tṛ Tác Thành.

6. Những con người đầu tiên xuất thân từ trường học của Chúa Giêsu là các tông đồ. Chúa Giêsu là thầy dạy nhưng chính Thánh Thần mới là Đấng tác động để giáo huấn của Chúa Giêsu, qua lời rao giảng của tông đồ, trở thành sức mạnh biến đổi tâm hồn người nghe. Nhờ Thánh Thần, Thánh Phaolô đă cảm thấy lời rao giảng của ngài được đón nhận 'như chính Lời Thiên Chúa' (x. 1 Thes 2,13). Ngài c̣n quả quyết: “Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên: Abba, Cha ơi” (Rm 8,14-17).

Giáo Hội Và Sứ Mạng Giáo Dục.

7. Trước khi về trời, Chúa Giêsu đă trao cho Giáo Hội sứ mạng lên đường dạy dỗ muôn dân. Từ đó, giáo dục trở thành sứ mạng gắn liền với sự hiện diện của Giáo Hội giữa ḷng thế giới. Giáo Hội chính là người Mẹ “săn sóc toàn diện đời sống con người, kể cả đời sống trần thế, trong mức độ liên hệ với lời mời gọi của Thiên Chúa. V́ thế Giáo Hội thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục” (TN/GD, lời mở đầu). Sứ mạng của Giáo Hội là tạo điều kiện để mọi người đều được hưởng một nền giáo dục Kitô giáo (x. TN/GD 2).

Sứ mạng đó được thể hiện thế nào trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đó là vấn nạn cần phải đặt ra, nếu chúng ta muốn có những định hướng cụ thể cho sứ mạng giáo dục Kitô giáo của Giáo Hội Việt Nam.

II. HIỆN T̀NH GIÁO DỤC KITÔ GIÁO TẠI VIỆT NAM

Những Dấu Hiệu Lạc Quan

8. Dù c̣n phải đối diện với vô vàn khó khăn của thời đại - cơn khủng hoảng về chân lư, về các giá trị đạo đức, chủ nghĩa tương đối - lănh vực giáo dục hiện nay, trong môi trường xă hội cũng như Giáo Hội, đă được quan tâm hơn và đang có những chuyển biến tích cực. Về phía xă hội, hiện đang có nhiều nỗ lực lành mạnh hóa môi trường giáo dục, bài trừ bệnh thành tích và tiêu cực trong học hành thi cử. Về phía phụ huynh, không ít người sẵn sàng chắt chiu dành dụm từng đồng cho con cái ăn học. Những trung tâm luyện thi, lớp ngoại khóa mọc lên như nấm khắp nơi mà vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu học viên mỗi lúc một gia tăng.

9. Về phía người Công giáo, sự hiện diện của giới trẻ trong môi trường giáo dục xă hội đă phần nào được b́nh thường hóa: lư lịch Thiên Chúa Giáo không c̣n bị kỳ thị và phân loại như trước đây. Nhờ đó, số sinh viên Công giáo bậc đại học đă tăng lên đáng kể, ngay cả tại những miền thôn quê. Trong lănh vực đức tin, các lớp giáo lư dự ṭng và hôn nhân ngày càng đông học viên cho thấy giới trẻ Việt Nam ngày nay, ngược với trào lưu dửng dưng tôn giáo phương Tây, vẫn c̣n quí trọng những giá trị Kitô giáo.

10. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và tin học ngày càng được xử dụng rộng răi hơn trong mọi lănh vực xă hội, cũng đă góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hóa ngành giáo dục trong xă hội cũng như Giáo Hội.

Những Mối Quan Ngại

11. Tuy nhiên, bên cạnh những dấu hiệu lạc quan, cũng không thiếu những điều đáng quan ngại. Trước hết phải kể đến những lệch lạc trong quan niệm về giáo dục. Do ảnh hưởng của năo trạng duy kinh tế, nền giáo dục gia đ́nh đang bị khủng hoảng. V́ phải chạy theo công ăn việc làm, người ta không c̣n dành th́ giờ cho các cuộc sum họp đầm ấm gia đ́nh, những bữa ăn đông đủ càng lúc càng hiếm hoi. Tương quan vợ chồng, cha mẹ, con cái v́ thế mà mỗi lúc một lỏng lẻo suy yếu. Hậu quả là môi trường gia đ́nh, vốn được mệnh danh là “mái ấm”, không c̣n nồng nàn t́nh cảm như xưa.

Chủ nghĩa khoa bảng cũng đang gây ra nguy cơ đưa gia đ́nh vào thái độ háo danh. Bậc phụ huynh và ngay cả con cái, muốn có bằng cấp chủ yếu là để được nở mày nở mặt, để có công ăn việc làm tốt, mà quên đi rằng mục đích cao đẹp nhất của giáo dục là “ngày nay học tập ngày mai giúp đời”.

12. Điều cũng đáng quan ngại là bất cập trong phương cách giáo dục. H́nh như người ta chỉ quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mà coi nhẹ chiều kích phẩm cách làm người. Học sinh đến trường nghĩ đến đối phó với thi cử nhiều hơn là học làm người. Nhà trường quan tâm đến chỉ tiêu và kỳ tích nhiều hơn là đến sứ vụ xây dựng thực lực cho học sinh.

13. Chủ nghĩa giáo điều trong giảng dạy vẫn c̣n là một hiện tượng khá phổ biến. Thầy cô thường dạy cho học sinh cách sao chép nguyên mẫu kiến thức, ấn định những bài văn mẫu, làm bài theo đáp án mẫu nhiều hơn là huấn luyện họ biết sáng tạo, t́m ṭi bằng chính nỗ lực riêng của ḿnh.

14. Mặt trái của phương tiện truyền thông cũng là một trong những yếu tố tác hại giáo dục. Tuy góp phần thắp lên nhiều điểm sáng về những giá trị nhân bản, truyền thông cũng tạo cơ hội cho nhiều lạm dụng đáng tiếc. V́ thiếu ư thức, người sử dụng - phần lớn là giới trẻ - thay v́ thận trọng gạn lọc để tiếp thu tinh hoa, lại sa vào cạm bẫy của những loại h́nh văn hóa phi đạo đức.

15. Trong lănh vực đức tin, nhiều bậc phụ huynh công giáo, kể cả các vị mục tử, vẫn c̣n lơ là hoặc thiếu trách nhiệm trong việc thông truyền đức tin cho con cái, không tổ chức hoặc không lo lắng cho con em tham dự những lớp giáo lư tại giáo xứ.

Một số nơi, giáo lư vẫn c̣n bị xem là những bài lư thuyết cần phải thuộc ḷng để được lănh bí tích. Việc giảng dạy chưa thực sự có phương pháp sư phạm phù hợp và chưa đi với chứng từ sống động của người rao truyền.

Những bất cập trên đây đ̣i chúng ta phải điều chỉnh lại cung cách giáo dục đức tin cho đúng tinh thần Tin Mừng. Cụ thể là phải đề ra phương hướng để hành động cho Kitô hữu Việt Nam trong giai đoạn lịch sử hiện nay.

III. ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC KITÔ GIÁO

16. Ư thức sứ mạng quan trọng đối với tương lai Giáo Hội và tiền đồ dân tộc, Giáo Hội Việt Nam muốn dấn thân trong sự nghiệp giáo dục để thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô cho mọi người cách hiệu quả và thiết thực hơn. Trong tinh thần đó, chúng tôi kêu gọi những người có trách nhiệm giáo dục và mọi Kitô hữu Việt Nam hăy chú trọng hơn nữa đến sứ mạng cao cả này, một sứ mạng mang nhiều đặc tính biệt loại so với nền giáo dục xă hội trần thế.

Một Sứ Mạng Mang Tính Phổ Cập.

17. Cũng như Đức Giêsu được sai đến với muôn dân (xem Lc 4,18-19), Giáo hội cũng có sứ mạng đem Tin Mừng đến cho mọi người (Mc 16,15), không phân biệt thành phần, đẳng cấp xă hội hay điều kiện kinh tế. Sứ mạng đó không phải chỉ là sứ mạng của riêng thành phần nào, nhưng bao trùm toàn thể Giáo Hội mọi nơi mọi thời, mỗi cá nhân và mỗi cộng đoàn (x. TH/KTHGD 1).

18. Sứ mạng đó bắt đầu bằng công cuộc nhập thế do công đồng Vatican II đề ra. Trước khi truyền đạt đức tin, Giáo Hội có sứ mạng “phục vụ lợi ích của xă hội trần thế và xây dựng một thế giới nhân đạo hơn” (TN/GD 3). Muốn vậy, Giáo Hội cần phải có chỗ đứng trong nền giáo dục của bất kỳ thể chế xă hội nào. Tại Việt Nam, điều đáng lạc quan là giáo dục, từ trước vẫn được coi là lănh vực độc quyền của Nhà Nước, nay đă được “xă hội hóa”. Theo định hướng đó, tư nhân, thậm chí người nước ngoài, có quyền mở trường tư thục.

19. Nhưng cũng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn c̣n khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những ǵ được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp t́nh thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xă hội Việt nam và, v́ không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ.

20. Trong lănh vực đức tin, có lẽ h́nh ảnh đẹp nhất để diễn tả nét sinh động của nền giáo dục Kitô giáo là h́nh ảnh cành nho của Chúa Giêsu (x. Ga 15, 16). H́nh ảnh đó đặc biệt rơ nét hơn trong hoạt động của các giáo lư viên. Họ giống như những cành nho gắn liền với thân nho là Chúa Kitô, hút nhựa sống Lời Chúa từ thân cây là Chúa Giêsu để chuyển đến các học viên bằng chứng từ rao giảng và thực thi huấn lệnh Chúa.

21. Theo nghĩa đó, mọi Kitô hữu chúng ta đều là giáo lư viên, bởi v́ qua bí tích rửa tội, chúng ta được mời gọi tham gia vào một công tŕnh giáo dục trong đó, theo lời Đức Gioan Phaolô II, “mỗi chúng ta vừa là đích điểm, vừa là khởi điểm của việc huấn luyện: chúng ta càng tự rèn luyện ḿnh, càng có khả năng huấn luyện người khác” (TH/KTHGD 7). Học và dạy cũng là củng cố đức tin cho ḿnh và cho anh chị em ḿnh (x. Lc 22, 31-33). Bao lâu c̣n là phần tử của Giáo Hội lữ hành, chúng ta c̣n là học tṛ và c̣n là thầy dậy đức tin bằng chứng từ cuộc sống của chúng ta.

Các Đối Tượng Ưu Tiên

22. Tính phổ cập của nền giáo dục Kitô giáo một mặt không miễn trừ trách nhiệm cho bất kỳ ai, một mặt cũng đ̣i buộc Kitô hữu không được loại trừ bất kỳ đối tượng nào. Muốn thế, Kitô hữu cần quan tâm hơn đến những thành phần thường bị xă hội ruồng rẫy, khinh miệt, lăng quên: người thất học, trẻ em không có điều kiện đến trường, thành phần cô lập do mặc cảm hay bị kỳ thị. Chúa Giêsu khẳng định rằng sứ mệnh hàng đầu của Ngài là loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, lao tù, mù ḷa, bị áp bức (Lc 4, 18ss).

23. Trong bối cảnh công nghiệp hóa của những xă hội đang phát triển, nghề nông thủ công truyền thống không c̣n đủ lợi tức nuôi sống người lao động, rất nhiều người trong họ không c̣n con đường nào khác hơn là trở thành di dân về thành thị t́m công ăn việc làm. Họ phải chịu bao nhiêu thứ thiếu thốn thiệt tḥi cả về vật chất lẫn tinh thần trên đất khách quê người. Để có thể duy tŕ phần nào đời sống đức tin có nguy cơ bị công ăn việc làm vùi dập. Họ cần phải ḥa ḿnh vào bầu khí đạo đức của các giáo xứ nơi họ tạm cư. Cha xứ và giáo xứ địa phương cũng cần phải sẵn ḷng nâng đỡ, chia sẻ, đón tiếp dân, tạo điều kiện để họ sớm hội nhập vào các sinh họat đạo đức và văn hóa nơi họ sinh sống. Lời Chúa và khung cảnh t́nh thân của giáo xứ là môi trường và là điều kiện cần thiết để an ủi và khích lệ đức tin của họ nơi Thiên Chúa, Đấng có đủ quyền năng biến cảnh sống tha hương của họ thành cuộc hành hương đầy ư nghĩa hướng về Quê Trời.

24. Thiếu nhi và giới trẻ cũng là những thành phần rất đáng quan tâm ở hàng ưu tiên. Thiếu nhi, những trang giấy trắng đang chờ in những h́nh ảnh tươi đẹp, cần phải được thụ hưởng một nền giáo dục chân chính về nội dung và hiệu quả về phương pháp, làm vốn liếng hành trang hữu ích cho suốt cuộc hành tŕnh làm người và đức tin.

25. Giới trẻ, “tương lai của Giáo Hội và thế giới” (HT/VH 38), cần phải nhận được sự hướng dẫn tận t́nh từ các nhà giáo dục và các thế hệ đi trước để nhiệt huyết tuổi trẻ của họ thực sự được vận dụng vào công cuộc xây dựng xă hội và Giáo Hội.

Môi Trường Giáo Dục

26. Trách nhiệm giáo dục đức tin thuộc về mọi Kitô hữu. Tuy vậy, trong thực tế, các “nhà giáo” mới thực sự là những người được trao phó trách nhiệm giáo dục chuyên nghiệp. Đức Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân đă thiết tha kêu gọi các giáo viên đang giảng dạy tại các trường Công giáo hay không Công giáo tích cực làm nhân chứng cho Tin Mừng (x. TH/KTHGD 6). Như thế ngoài cuộc sống mẫu mực của một nhà giáo, họ c̣n là đại sứ của Đức Kitô nơi học đường bằng chính đời sống và lương tâm Kitô hữu. Mọi người sẽ nh́n thấy họ mà gặp được Thiên Chúa.

27. Đại chủng viện và Học viện Công giáo, những trung tâm giáo dục có hệ thống nhân sự và phương tiện đầy đủ nhất, phải đóng đúng vai tṛ của ḿnh bằng việc “đào tạo những người sẽ đảm nhận công việc huấn luyện giáo dân” (x. TH/KTHGD 7). Các cơ sở này không những chỉ cung cấp cho Giáo Hội những thầy giáo, mà c̣n đào tạo các môn đệ của Chúa Giêsu. Mỗi học viên sẽ rời học viện vào một lúc nào đó khi măn trường hay khi đi nhận một nhiệm vụ mới, nhưng không bao giờ rời trường học của Chúa Giêsu, vị Thầy muôn thuở của các nhà giáo dục đào tạo.

28. Gia đ́nh là Giáo Hội tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo. Mọi thành viên của gia đ́nh, ông bà, cha mẹ và các anh chị em sống đạo nhiệt thành làm thành truyền thống đức tin gia đ́nh. Nơi đây, đức tin được truyền thụ qua những lời cầu nguyện, lời nhủ bảo, đặc biệt trong những biến cố vui buồn của cuộc sống và qua những mẫu gương đức tin. Gia đ́nh c̣n là “chiếc nôi của sự sống và t́nh yêu” (GHXH/GH 209) giúp các phần tử gia đ́nh cảm nghiệm t́nh yêu và ḷng trung thành của Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp h́nh dung trước những mối tương quan liên vị trong xă hội.

29. Trong nền giáo dục Kitô giáo, gia đ́nh không thể tách rời khỏi giáo xứ. Nếu tại gia đ́nh, đức tin được truyền thụ bằng phương pháp tiếp cận và thực hành, những bài học được giảng dạy ngay giữa thực tế. Tại giáo xứ, đức tin được thông truyền nhờ giảng giải và việc cử hành phụng vụ. Chính khi đối chiếu và đón nhận cảm tưởng của nhau, đoàn kết yêu thương nhau và cầu nguyện chung với nhau, đức tin của Kitô hữu được nuôi dưỡng và củng cố.

30. Với những lớp huấn giáo là những phương cách căn bản của giáo dục Kitô giáo, cha xứ cùng với các giảng viên sẽ chịu trách nhiệm khai tâm Kitô giáo và huấn giáo cho các học viên chuẩn bị lănh các bí tích. Tại đây, giáo dân có môi trường thể hiện đức tin với các thành phần khác của cộng đ̣an và được tham dự cách ư thức vào các giờ kinh lễ, phụng vụ, bí tích. Đó là những h́nh thức tham gia trực tiếp và hữu hiệu vào công tŕnh giáo dục Kitô giáo (x. TN/GD 4).

31. Cùng với giáo xứ, các tổ chức, các đoàn thể Công Giáo và cộng đoàn Giáo Hội cơ bản cũng là những môi trường không thể thiếu để giáo dục Kitô giáo được triển nở ṭan vẹn và quân b́nh.

Tính Toàn Diện Của Giáo Dục Kitô Giáo

32. Là Mẹ và là Thầy, Giáo Hội Công giáo có bổn phận thông truyền cho mọi người, nhất là các Kitô hữu, một nền giáo dục toàn vẹn. Mục tiêu hàng đầu của giáo dục Kitô giáo là đức tin. Giáo dục đức tin không chỉ là truyền lại cho tín hữu những định tín, nhưng c̣n giúp cho tín hữu sống đức tin ấy trong cuộc sống cụ thể, v́ 'đức tin không có việc làm là đức tin chết' (Gia. 2,17). Các tín hữu, nhờ được huấn luyện, sẽ trở thành men, thành muối và ánh sáng cho trần gian.

33. V́ con người là linh hồn nhập thể, khi giáo dục đức tin, Giáo Hội cũng nhằm đến giáo dục con người toàn diện để giúp họ nhận ra phẩm giá của ḿnh. Khi ư thức sâu sắc về phẩm giá của ḿnh, Kitô hữu cũng nhận lấy sứ mạng để sẵn sàng lên đường loan truyền Tin Mừng Chúa Kitô cho người chưa tin và củng cố ḷng tin của anh chị em ḿnh. Phẩm giá Kitô hữu luôn là những bài học suốt đời c̣n tiếp tục, v́ tín hữu măi là khách hành hương. Phẩm giá ấy đang h́nh thành và sẽ chỉ thành toàn vào ngày cánh chung. Cũng như sứ mạng tín hữu măi măi là được sai đi, tới cánh đồng lúa chín đang thiếu thợ gặt (x. Mt 9,37). Vấn đề giáo dục Kitô giáo ở đây hôm nay là quyết tâm bồi dưỡng phẩm giá để thực thi sứ mạng và càng biết thực thi sứ mạng, phẩm giá lại càng được củng cố hơn.

34. Con người sống trong xă hội không phải là một ốc đảo, nhưng liên đới với nhau trong niềm vui cũng như ưu sầu. Xă hội tính là một nét nổi bật của con người. Giáo dục Kitô giáo góp phần cổ vơ t́nh liên đới, làm cho con người có trách nhiệm với nhau, trách nhiệm đối với xă hội và công ích, cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp an b́nh.

35. Luôn ư thức về sứ mạng làm chứng cho Chân lư, Giáo Hội của Đức Kitô trải qua mọi thời đại đă góp tiếng nói của ḿnh qua những giáo huấn mang tính xă hội. Nhờ đó, Giáo Hội chia sẻ với nhân loại 'những vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng' (x. GS 1). Với giáo huấn của ḿnh, Giáo Hội t́m cách công bố Tin Mừng và làm cho Tin Mừng hiện diện trong hệ thống các mối quan hệ xă hội. Khi đưa ra những chủ trương và đường lối của ḿnh trong lănh vực xă hội, Giáo Hội thi hành sứ mạng ngôn sứ của ḿnh trước những trào lưu đi ngược lại với giáo huấn Tin Mừng và đạo đức xă hội.

36. Giáo dục Kitô giáo c̣n nhấn mạnh việc huấn luyện lương tâm: Huấn luyện lương tâm không chỉ là giảng dạy cho nhau những mệnh lệnh của hệ thống luật luân lư nhưng c̣n là tập cho nhau hồn nhiên lắng nghe ḷng ḿnh phán đoán thiện ác. Bởi v́ “lương tâm là luật tự nhiên vốn phản ảnh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người” (GHXH/GH 140), nên “lương tâm ngay thẳng càng thắng thế th́ những cá nhân càng tránh được độc đoán, mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lư” (GS 16). Khi có lương tâm ngay thẳng, con người sẽ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phảm giá và sự sống con người hơn.

37. Sau hết, v́ luôn là một sinh họat gắn liền với một không gian nhất định, giáo dục phải được liên kết với truyền thống văn hóa của không gian ấy. Đặt vấn đề giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam có nghĩa là đặt vấn đề phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc chúng ta luôn tự hào về tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo. Truyền thống ấy nếu trong quá khứ đă góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và sản sinh những danh nhân làm vẻ vang đất nước, th́ nay phải trở thành một trong những tiêu chí của nền giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam.

38. Giáo dục là cả một công tŕnh lâu dài không thể hoàn thành ngay. Tuy nhiên từng bước một, cần phải đưa ra những mục tiêu mũi nhọn cho từng giai đoạn. Đại hội năm nay đề ra phương hướng chấn chỉnh lại nền giáo dục Kitô giáo tại Việt Nam, có nghĩa là phương hướng đó sẽ được thể hiện trong những năm tới. Cụ thể, chúng tôi kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hăy thực hiện ba bước sau đây:

- 2008: chấn chỉnh môi trường giáo dục gia đ́nh công giáo.

- 2009: chấn chỉnh việc đào tạo giáo lư viên.

- 2010: chấn chỉnh cơ sở giáo dục các giáo xứ.

 

LỜI KẾT

39. Anh chị em thân mến,

Giáo dục Kitô giáo là công tŕnh học và sống làm con người và làm con Chúa. Đây là trách nhiệm của mọi Kitô hữu mọi nơi mọi thời. Thế hệ trước có trách nhiệm chuyển giao đức tin cho thế hệ sau. Thế hệ sau tiếp nhận, củng cố và bàn giao cho thế hệ hậu sinh. Lịch sử là một cuộc hành tŕnh qua đó Kitô hữu chia sẻ đức tin cho nhau dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần.

Giáo dục Kitô giáo c̣n là một sứ mạng cấp bách. Sự thay đổi choáng ngợp của nền văn minh thời đại không cho phép chúng ta chần chừ tŕ hoăn, nếu không muốn bị đẩy vào nguy cơ tụt hậu. Hơn bao giờ hết phương châm mà chúng ta phải nêu cao là: “Giáo dục hôm nay, xă hội và Giáo Hội ngày mai”.

Dưới sự bảo trợ của Mẹ La Vang, thánh Giuse, các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin mời anh chị em cùng chung vai gánh vác mọi phận vụ của công tŕnh giáo dục Kitô giáo để, với đức tin sống động, Giáo Hội Việt Nam sẽ nỗ lực làm vinh danh Chúa hơn và góp phần xây dựng hạnh phúc cho mọi người.

Hiệp thông cùng anh chị em trong tâm t́nh cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa.

Hà Nội ngày 12 tháng 10 năm 2007

X Phêrô Nguyễn Văn Nhơn X Giuse Ngô Quang Kiệt

Chủ tịch HĐGM/VN                       Tổng thư kư HĐGM/VN

 

THƯ CHUNG 2013
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

 

HỘI THÁNH CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM
VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC-ÂM-HÓA

 

Anh chị em thân mến,

“Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, t́nh yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em” (x. 2Cr 13,13). Chúng tôi, các giám mục từ 26 giáo phận Việt Nam, quy tụ tại Trung Tâm Mục Vụ Sài G̣n để tham dự Đại hội lần thứ XII của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, xin cảm ơn anh chị em đă cầu nguyện nhiều cho chúng tôi để Đại hội diễn ra cách tốt đẹp và b́nh an. Nay Đại hội đă kết thúc, qua Thư Chung này, chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em những công việc đă làm trong Đại hội, cách riêng về sứ vụ Tân Phúc-Âm-hoá.

1. Bước vào Đại hội trong khung cảnh Năm Đức Tin, chúng tôi vui mừng được nghe biết về những hoa trái thiêng liêng nơi các tín hữu cũng như các cộng đoàn giáo xứ, giáo phận, ḍng tu, đă tích cực học hỏi và nỗ lực canh tân đời sống đức tin. Các cuộc cử hành phụng vụ và sinh hoạt mục vụ đă giúp cho đức tin của mỗi người được thanh luyện, củng cố và đổi mới. Đồng thời, khi nghe biết về những khó khăn và thử thách mà một số cộng đoàn phải đối diện, chúng tôi hiểu rằng sống đức tin luôn luôn là một thách đố, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, người môn đệ Chúa Giêsu vẫn được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng yêu thương của Chúa, trở thành chất xúc tác cho việc xây dựng nền văn minh t́nh thương và văn hóa sự sống.

Ngoài ra, chúng tôi cũng lắng nghe và góp ư cho nhau về nhiều sinh hoạt và công việc của Hội Thánh tại Việt Nam , cách riêng là công tŕnh xây dựng Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang. Đại hội cũng dành nhiều thời giờ cho việc bầu chọn Ban Thường vụ của Hội Đồng Giám Mục cũng như các chủ tịch của các Ủy ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục trong nhiệm kỳ mới.

2. Giờ đây chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em về định hướng và chương tŕnh mục vụ trong những năm tới. Trong ba năm qua (2010-2013), tất cả chúng ta đă cùng nhau học hỏi và sống ư nghĩa Giáo Hội: mầu nhiệm – hiệp thông – sứ vụ. Định hướng đó và tinh thần của Năm Đức Tin cần được tiếp nối bằng nỗ lực “Tân Phúc-âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”, cũng là chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII, diễn ra tại Rôma, từ ngày 7 – 28 tháng 10 năm 2012. Thật vậy, ánh sáng Đức Kitô chiếu tỏa trên khuôn mặt các Kitô hữu và ánh sáng ấy phải lan đến những người khác, giống như từ ngọn nến phục sinh, vô vàn những ngọn nến khác được thắp lên trong Đêm Vọng Phục Sinh.[3]. Ngoài ra, chúng ta c̣n được nhắc nhở cách riêng về sứ mệnh đó trong năm nay, khi Hội Thánh tại Việt Nam kỷ niệm 25 năm tuyên phong 117 chứng nhân đức tin (19.06.1988 – 19.06.2013), là những hoa trái thánh thiện của công cuộc phúc-âm-hóa.

3. Mục tiêu của phúc-âm-hóa là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, trong Thánh Thần, nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống ḿnh được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm. Như thế, trước hết chính bản thân chúng ta phải được phúc-âm-hóa, phải củng cố và làm mới lại đức tin của ḿnh, rồi mới có thể giúp những anh chị em đă xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin. Ngày nay, khi một số người chỉ c̣n là Kitô hữu trên danh nghĩa, chúng ta hăy sống cho đúng với ơn gọi Kitô hữu của ḿnh trong niềm vui, hăy chiếu tỏa sức hấp dẫn của Tin Mừng cho những người chung quanh.

Phúc-âm-hóa là sứ vụ mang tính toàn diện, v́ “ánh sáng đức tin không chỉ soi chiếu đời sống nội bộ của Hội Thánh hoặc chỉ để xây dựng thành đô vĩnh cửu trong thế giới mai sau, mà c̣n giúp chúng ta xây dựng xă hội hiện nay nhằm hướng tới một tương lai hi vọng”.[4] Chính Chúa Giêsu dạy chúng ta hướng đi này. Người đứng về phía những nạn nhân của các thảm họa và bất công. Người liên đới với những ai bị xă hội loại bỏ. Liên đới và xót thương những nạn nhân và những người bị gạt ra bên lề xă hội phải trở thành đ̣i hỏi thiết yếu trong sứ vụ phúc-âm-hóa.[5]

4“Tân Phúc-âm-hóa” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới v́ “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy măi đến muôn đời” (Dt 13,8), nhưng là “mới về ḷng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”.[6] Mới về ḷng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xă hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.

Công cuộc Tân Phúc-âm-hóa đ̣i duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi b́nh diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đă có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, th́ trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào t́nh trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.

Chương tŕnh canh tân đời sống đức tin cần được lồng vào trong tổng thể của kế hoạch mục vụ mà Hội Đồng Giám Mục tŕnh bày trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh t́nh thương và sự sống”. Thư Chung ấy là chương tŕnh hành động của Hội Thánh tại Việt Nam trong nhiều năm. Dựa trên định hướng căn bản này, chúng tôi mời gọi anh chị em hăy cùng với chúng tôi thực hiện kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014-2016):

– Năm 2014: Phúc-âm-hóa đời sống gia đ́nh;

– Năm 2015: Phúc-âm-hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn;

– Năm 2016: Phúc-âm-hóa đời sống xă hội.

5. Trong năm 2014 sắp tới, chúng ta hăy cùng nhau phúc-âm-hóa đời sống gia đ́nh và thúc đẩy gia đ́nh tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng. Hội Thánh được gọi là gia đ́nh của Thiên Chúa và mỗi gia đ́nh Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia. Việc canh tân Hội Thánh phải được bắt đầu từ mỗi gia đ́nh, do đó, Hội Thánh đặc biệt quan tâm đến các gia đ́nh. Cách cụ thể, mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đă loan báo triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại lệ vào tháng 10 năm 2014 về “Những thách đố mục vụ đối với gia đ́nh trong bối cảnh Phúc-âm-hoá”. Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 cũng nhấn mạnh: “Trước cuộc khủng hoảng gia đ́nh hiện nay, Hội Thánh nhận thấy cần phải tăng cường và canh tân mục vụ gia đ́nh, phải xem mục vụ gia đ́nh là hoạtđộng quan trọng, nối kết những kế hoạch và chương tŕnh mục vụ của giáo xứ cũng như giáo phận”.[7]

6. Để thực hiện những mục tiêu trên, xin anh chị em hăy xây dựng gia đ́nh ḿnh thành một cộng đoàn cầu nguyện, sống t́nh yêu hợp nhất thủy chung, phục vụ sự sống và hăng say loan báo Tin Mừng.

– Gia đ́nh là cộng đoàn cầu nguyện, thờ phượng Thiên Chúa, đền thờ tại gia. Hiệp thông trong kinh nguyện vừa là hoa trái vừa là đ̣i hỏi của sự hiệp thông bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và Hôn Phối. Chúa Giêsu hiện diện trong gia đ́nh khi vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng cầu nguyện, và khi đó, chính cuộc sống gia đ́nh trở thành lời kinh sống động. Hoàn cảnh sống hiện nay gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc gia đ́nh cùng sum họp cầu nguyện. Tuy nhiên đây là đ̣i hỏi quan trọng trong đời sống gia đ́nh công giáo. V́ thế, cùng với việc siêng năng tham dự Thánh Lễ và lănh nhận các bí tích, chúng tôi tha thiết xin anh chị em duy tŕ giờ kinh chung trong gia đ́nh, và cố gắng đưa Lời Chúa vào giờ kinh này.

Gia đ́nh là cộng đoàn yêu thương bằng t́nh yêu hợp nhất thủy chung, xuất phát từ Thiên Chúa T́nh Yêu. Mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau, phải là dấu chỉ sống động của T́nh Yêu Thiên Chúa. V́ thế, các gia đ́nh công giáo phải loại bỏ mọi thứ bạo hành, “hăy có ḷng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền ḥa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau” (Cl  3,12-13).

– Gia đ́nh là cộng đoàn phục vụ sự sống, được khơi nguồn từ chính Thiên Chúa Hằng Sống. Vợ chồng Kitô hữu yêu thương nhau bằng một t́nh yêu mở ra với sự sống, tôn trọng sự sống ngay từ lúc thụ thai, cộng tác với Thiên Chúa Tạo Hóa qua việc sinh con có trách nhiệm, giáo dục con cái nên người tốt và nên con cái Chúa. Gia đ́nh phải là ngôi trường đầu tiên dạy các đức tính nhân bản và đức tin, là thành tŕ bảo vệ sự sống thể lư cũng như tinh thần của con cái trước sự tấn công của cái ác và cái xấu trong cuộc sống. V́ thế, các bậc cha mẹ phải ư thức trách nhiệm của ḿnh là những nhà giáo dục đầu tiên và không thể thay thế, bằng chính gương sáng của ḿnh.

– Gia đ́nh là cộng đoàn tham gia vào sứ vụ phúc-âm-hóa, bằng lời cầu nguyện cũng như bằng hành động cụ thể. Chính đời sống yêu thương hiệp nhất trong gia đ́nh công giáo, ngay giữa những khó khăn và thử thách của cuộc đời, tự nó đă là lời chứng âm thầm nhưng có sức thuyết phục của Tin Mừng. Ngoài ra, theo truyền thống tốt đẹp, gia đ́nh công giáo c̣n là nơi vun trồng ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đồng thời, khi có thể, xin anh chị em hăy mạnh dạn chia sẻ và giới thiệu Đức Kitô cho người khác.

7. Để đồng hành với các gia đ́nh trong sứ mệnh cao cả nói trên, chúng tôi đề nghị một số việc mục vụ sau:

Việc chuẩn bị cho giới trẻ bước vào đời sống hôn nhân và gia đ́nh là đ̣i hỏi khẩn thiết hơn bao giờ hết. Các bạn trẻ cần ư thức và sống đời hôn nhân như một ơn gọi và sứ mệnh cao quư, được chọn lựa với ư thức, tự do và trách nhiệm. Đôi bạn Kitô hữu c̣n được mời gọi sống bí tích Hôn Phối như dấu chỉ hữu h́nh và hữu hiệu của t́nh yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, một t́nh yêu phong nhiêu, duy nhất và bất khả phân ly. Để được như thế, cần có sự chuẩn bị xa, chuẩn bị gần, và chuẩn bị trực tiếp cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân

Trong bối cảnh có nhiều biến động về văn hóa-xă hội ngày nay, chúng tôi thiết nghĩ cần phải nhắc lại chân lư này: định chế gia đ́nh đặt nền tảng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Định chế này dựa trên bản tính con người, do chính Thiên Chúa thiết lập, hướng đến thiện ích của chính gia đ́nh và xă hội; v́ thế, mọi cá nhân và tập thể xă hội cần nh́n nhận và tôn trọng định chế này.

Đồng hành với các gia đ́nh trẻ ngày nay là yêu cầu mục vụ quan trọng, để giúp họ sống t́nh yêu vợ chồng với tinh thần trách nhiệm, phục vụ sự sống, biết ḥa hợp t́nh thương trong tổ ấm gia đ́nh với trách nhiệm xây dựng Hội Thánh, xă hội và đất nước.

Với những anh chị em đang gặp khó khăn v́ hôn nhân đổ vỡ và gia đ́nh ly tán, một đàng chúng ta vẫn phải nêu cao lư tưởng đời sống hôn nhân công giáo, đàng khác phải đồng hành và nâng đỡ họ, thay v́ bày tỏ thái độ lên án và loại trừ.

Hiện nay, có nhiều nhóm, hiệp hội, phong trào tu đức và tông đồ đang dấn thân chăm lo mục vụ gia đ́nh theo những cách thế và mức độ khác nhau. Những phong trào này cần được các mục tử đồng hành và hướng dẫn, nâng đỡ và khích lệ, để họ góp phần cách cụ thể và hài ḥa với chương tŕnh mục vụ chung trong mỗi giáo xứ, giáo phận.

Các giáo phận nên quan tâm đến việc đào tạo giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân chuyên trách mục vụ gia đ́nh. Những người này sẽ cộng tác với các giám mục giáo phận trong việc xây dựng và triển khai những chương tŕnh mục vụ gia đ́nh trong giáo phận cũng như giáo xứ. Chúng tôi cũng muốn gửi lời kêu gọi đặc biệt đến anh chị em văn nghệ sĩ và giới truyền thông công giáo. Ước mong anh chị em vận dụng tài năng Thiên Chúa ban, để tôn vinh vẻ đẹp đích thực của t́nh yêu hôn nhân và gia đ́nh. Các linh mục tương lai cũng cần được chuẩn bị chu đáo hơn về mục vụ gia đ́nh, để có thể đồng hành với các gia đ́nh cách hữu hiệu.

 Anh chị em thân mến,

Trên đây, chúng tôi đă chia sẻ với anh chị em những thao thức mục vụ cũng như những đề nghị cụ thể, nhằm góp phần vào nỗ lực “Tân Phúc-âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”. Ước mong những đề nghị này được anh chị em - cách riêng, các linh mục là những cộng tác viên gần gũi của hàng giám mục - đón nhận để cầu nguyện, suy nghĩ, khai triển và thực hiện ở nhiều cấp độ: gia đ́nh, giáo xứ, giáo phận. Hướng về Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những tấm gương sáng ngời trong sứ mệnh phúc-âm-hóa, chúng ta hăy thân thưa với các ngài:

Lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, là con thảo của Cha trên trời, là chứng nhân anh dũng của Đức Kitô, là thành phần trung kiên của Hội Thánh, xin giúp chúng con biết trân trọng di sản đức tin mà các ngài đă truyền lại cho chúng con bằng máu và nước mắt. Xin cho chúng con mạnh dạn sống đức tin trong gia đ́nh cũng như xă hội, theo tấm gương xán lạn của Thánh Gia Thất, để chiếu tỏa ánh sáng đức tin khắp nơi nơi; nhờ đó chúng con có thể tích cực góp phần thi hành sứ mệnh truyền giáo, đem lại hoa quả dồi dào trên quê hương Việt Nam thân yêu.

Làm tại Trung tâm Mục vụ Sài G̣n, ngày 10-10-2013

+ Cosma Hoàng Văn Đạt       + Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Giám mục Bắc Ninh              Tổng giám mục Hà Nội

Tổng thư kư HĐGM.VN         Chủ tịch HĐGM.VN

(đă kư)                                     (đă kư)


THƯỢNG HỘI ĐỒNG ĐẶC BIỆT
VỀ GIA Đ̀NH

 

Tháng Mười 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên bố sẽ triệu tập một Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về Gia Đ́nh trong các ngày 5-18 tháng Mười, năm 2014 với chủ đề “Các Thách Đố Mục Vụ Của Gia Đ́nh Trong Bối Cảnh Tân Phúc Âm Hóa”. 

Ngày 5 tháng Mười Một vừa qua, một buổi họp báo đă được tổ chức tại Pḥng Báo Chí của Ṭa Thánh. Trong buổi họp báo này, Đức TGM Lorenzo Baldisseri, Tổng Thư Kư của Thượng Hội Đồng, cho hay: để chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng vào năm tới, cuộc họp lần thứ năm của Hội Đồng Thượng Hội Đồng Thường Lệ đă diễn ra trong các ngày 7-8 tháng Mười vừa qua để đưa ra Tài Liệu Chuẩn Bị. Tài liệu này bao gồm một tŕnh bày tổng quát về chủ đề, các trích dẫn thánh kinh và huấn quyền về chủ đề, và một bản câu hỏi về các thách đố chính của gia đ́nh hiện đại. Sau đây là nguyên văn Tài Liệu Chuẩn Bị.

I. Thượng Hội Đồng: Gia đ́nh và việc phúc âm hóa

Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật, được Chúa trực tiếp ủy thác cho các môn đệ của Người, vẫn tiếp diễn trong Giáo Hội trong suốt gịng lịch sử. Cuộc khủng hoảng xă hội và tâm linh, hết sức hiển nhiên trong thế giới ngày nay, đang trở thành một thách đố mục vụ trong sứ mệnh phúc âm hóa của Giáo Hội liên quan tới gia đ́nh, vốn là viên đá sinh tử xây dựng nên xă hội và cộng đồng Giáo Hội. Trước đây, chưa bao giờ việc công bố Tin Mừng về gia đ́nh trong bối cảnh này đă khẩn trương và cần thiết hơn. Sự quan trọng của chủ đề này được phản ảnh trong sự kiện Đức Thánh Cha đă quyết định triệu tập một Thượng Hội Đồng Giám Mục; Thượng Hội Đồng này sẽ là một hành tŕnh gồm hai giai đoạn: đầu tiên, một Phiên Khoáng Đại Đặc Biệt trong năm 2014, nhằm xác định “status quaestionis” (t́nh huống của vấn đề) và thu lượm kinh nghiệm và đề nghị của các giám mục trong việc công bố và sống thực Tin Mừng Gia Đ́nh một cách khả tín; thứ hai, một Phiên Khoáng Đại Thường Lệ trong năm 2015 nhằm đưa ra các chỉ dẫn có thể áp dụng được trong lănh vực chăm sóc mục vụ cho các con người và gia đ́nh.

Các lo âu chưa từng nghe thấy cho tới những năm gần đây nay đă xuất hiện do hậu quả của nhiều t́nh huống khác nhau, từ tập tục sống chung khá phổ biến mà không dẫn tới hôn nhân, đôi khi c̣n loại bỏ cả ư niệm hôn nhân nữa, cho tới các cuộc kết hợp đồng tính giữa những người thường được phép nhận con nuôi. Các t́nh huống mới đ̣i Giáo Hội phải chú tâm và chăm sóc mục vụ là những t́nh huống này: các cuộc hôn nhân hỗn hợp và khác đạo; gia đ́nh có cha hoặc mẹ đơn lẻ; đa thê; hôn nhân với vấn đề hồi môn sau đó, một hồi môn đôi khi bị hiểu như giá mua người đàn bà; hệ thống đẳng cấp (caste); văn hóa phi cam kết và giả thiết rằng dây hôn phối chỉ có tính tạm thời; các h́nh thức duy nữ phản Giáo Hội; di dân và việc tái lên công thức đối với chính ư niệm gia đ́nh; chủ nghĩa đa nguyên duy tương đối trong quan niệm về hôn nhân; ảnh hưởng truyền thông đối với nền văn hóa b́nh dân trong cái hiểu về hôn nhân và đời sống gia đ́nh; các khuynh hướng tiềm ẩn về tư duy trong các đề xuất luật pháp nhằm hạ giá ư niệm vĩnh viễn và ḷng trung thành của giao ước hôn nhân; gia tăng tập tục làm mẹ mướn (surrogate motherhood, cho thuê dạ con); và các giải thích mới lạ về điều được coi là nhân quyền. Bên trong Giáo Hội, có nhiều dấu hiệu cho thấy đức tin vào tính bí tích của hôn nhân và sức mạnh hàn gắn của Bí Tích Sám Hối càng ngày càng yếu đi hoặc hoàn toàn bị loại bỏ. 

Thành thử, ta hiểu được tính khẩn trương của việc mời gọi hàng giám mục thế giới họp “cum et sub Petro” (cùng với và dưới quyền Phêrô) để bàn thảo các thách đố này. Thí dụ, chỉ cần nghĩ tới sự kiện: do t́nh huống hiện nay, rất nhiều trẻ em và người trẻ sẽ không bao giờ được thấy cha mẹ chúng lănh nhận các bí tích, là đủ để ta hiểu các thách đố đối với việc phúc âm hóa do t́nh huống hiện nay tạo ra khẩn trương như thế nào; ta có thể nhận thấy những thách đố này ở hầu hết mọi nơi trên thế giới. Song hành với thực trạng này, ta thấy đại đa số hiện nay chấp nhận giáo huấn ḷng thương xót Chúa và sự quan tâm đối với người đau khổ, đang đứng bền lề xă hội, cả theo nghĩa địa dư lẫn nghĩa hiện sinh. Thành thử, đại đa số đang mong chờ các quyết định mục vụ sẽ được đưa ra liên quan tới gia đ́nh. Ngoài tính cần thiết và khẩn trương ra, sự suy tư về các vấn đề này của Thượng Hội Đồng Giám Mục c̣n được coi như một bổn phận đức bác ái đối với những ai được trao phó cho các giám mục coi sóc và đối với toàn thể gia đ́nh nhân loại. 

II. Giáo Hội và Tin Mừng Gia Đ́nh

Tin vui t́nh thương Thiên Chúa phải được công bố cho mọi người đang đích thân sống kinh nghiệm nhân bản nền tảng là lứa đôi và hiệp thông dẫn tới hồng ân con cái, tức cộng đồng gia đ́nh. Các giáo huấn đức tin về gia đ́nh phải được tŕnh bày theo cách truyền thông và hữu hiệu, để chúng tới được các tâm hồn và biến đổi chúng theo thánh ư Thiên Chúa, một thánh ư vốn được tỏ lộ nơi Chúa Giêsu Kitô. 

Về các nguồn Thánh Kinh liên quan tới hôn nhân và gia đ́nh, tài liệu này chỉ trích dẫn các tham chiếu chủ yếu. Điều này cũng đúng đối với việc trích dẫn Huấn Quyền: chỉ trích dẫn các điều có tính phổ quát, trong đó có thêm một số bản văn của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Gia Đ́nh. Các giám mục tham dự Thượng Hội Đồng được tự do trích dẫn các tài liệu từ các hội đồng giám mục của các ngài. 

Ở mọi thời và trong nhiều nền văn hóa khác nhau, không thiếu giáo huấn rơ ràng của các mục tử cũng như các chứng từ cụ thể của tín hữu nam nữ, những người bất chấp các hoàn cảnh khác nhau vẫn luôn sống Tin Mừng Gia Đ́nh như một hồng phúc khôn sánh đối với đời họ và con cái họ. Cam kết của Thượng Hội Đồng Đặc Biệt sắp tới được gợi hứng và nâng đỡ bởi ư muốn thông truyền sứ điệp này một cách mạnh mẽ hơn, hy vọng rằng “kho tàng mạc khải, vốn được ủy thác cho Giáo Hội, mỗi ngày mỗi tràn ngập tâm hồn từng người hơn” (Dei Verbum, số 26). 

Kế hoạch Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc

Vẻ đẹp của sứ điệp Thánh Kinh về gia đ́nh bắt nguồn từ việc dựng nên người đàn ông và người đàn bà, cả hai giống h́nh ảnh và họa ảnh Thiên Chúa (xem St 1,24-31; 2,4-25). Được liên kết với nhau bằng sợi dây bí tích bất khả tiêu, những người kết hôn cảm nghiệm được cái đẹp của t́nh yêu, t́nh cha, t́nh mẹ, và phẩm giá tối cao của việc nhờ cách này, được tham dự vào công tŕnh sáng tạo của Thiên Chúa. 

Trong hồng ân hoa trái phát sinh từ cuộc kết hợp của ḿnh, họ đảm nhận trách nhiệm dưỡng nuôi và giáo dục những con người khác cho tương lai nhân loại. Nhờ việc sinh sản, người đàn ông và người đàn bà chu toàn trong đức tin ơn gọi trở thành người cộng tác của Thiên Chúa trong việc bảo vệ công tŕnh sáng tạo và phát triển gia đ́nh nhân loại.

Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhận định về khía cạnh này trong Familiaris consortio như sau: “Thiên Chúa tạo dựng con người giống h́nh ảnh và họa ảnh Người (xem St 1,26-27), khi mời gọi họ bước vào hiện hữu qua ngả yêu thương, Người cũng đồng thời kêu gọi họ hướng về yêu thương. Thiên Chúa là yêu thương (xem 1Ga 4,8) và chính nơi Người, Người vẫn sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương đầy tính bản vị. Khi tạo nên nhân loại giống h́nh ảnh Người và liên tục duy tŕ họ hiện hữu, Thiên Chúa đă ghi khắc nơi nhân tính người nam và người n ơn gọi, và do đó cả khả năng và trách nhiệm, yêu thương và hiệp thông (Gaudium et spes, số 12). Do đó, yêu thương là ơn gọi nền tảng và bẩm sinh của mọi người” (Tông huấn Gia đ́nh, số 11). 

Kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hóa, một kế hoạch bị tội nguyên tổ gây trở ngại (xem St 3,1-24), đă tự vén mở qua ḍng lịch sử trong các biến cố của dân riêng cho tới tận thời viên măn, lúc mà nhờ Con Thiên Chúa nhập thể, không những ư muốn cứu vớt của Thiên Chúa mà cả ơn cứu chuộc đem lại ơn thánh theo thánh ư ấy đều được xác nhận.

Con Thiên Chúa, Ngôi Lời thành xác phàm (xem Ga 1,14) trong cung ḷng Mẹ Đồng Trinh, đă sống và lớn lên trong gia đ́nh Nadarét và tham dự tiệc cưới tại Cana, nơi Người làm tăng tầm quan trọng của lễ hội bằng “dấu lạ” đầu tiên (xem Ga 2,1-11). Trong hân hoan, Người hoan nghinh việc tiếp rước Người trong gia đ́nh các môn đệ Người (xem Mc 1,29-31; 2,13-17) và an ủi gia đ́nh bằng hữu của Người đang gặp tang chế tại Bêtania (xem Mc 10,38-42; Ga 11,1-44). Chúa Giêsu Kitô phục hồi vẻ đẹp của hôn nhân, v́ một lần nữa, Người đề xuất kế hoạch của Thiên Chúa từng bị bỏ ngang v́ sự cứng ḷng của trái tim con người, ngay bên trong truyền thống dân Israel (xem Mt 5,31-32; 19,3-12; Mc 10,1-12; Lc 16,18). Trở về thời nguyên thủy, Chúa Giêsu dạy ta sự đơn nhất và ḷng trung thành của vợ chồng, bác bỏ tập quán đuổi vợ và ngoại t́nh. 

Chính qua vẻ đẹp phi thường của t́nh yêu nhân bản, vốn được đề cao bằng âm sắc linh hứng trong Diễm Ca, và dây hôn phối do các tiên tri như Hôsê (xem Hs 1,2; 3,3) và Malaki (xem Ml 2,13-16) kêu gọi và bảo vệ, Chúa Giêsu đă xác quyết phẩm giá nguyên thủy của t́nh yêu hôn nhân nơi người đàn ông và người đàn bà. 

Giáo huấn của Giáo Hội về gia đ́nh

Ngay trong cộng đồng Kitô Giáo tiên khởi, gia đ́nh đă xuất hiện như một “Giáo Hội tại gia” rồi (xem Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, số 1655): Trong các điều gọi là “qui luật về gia đ́nh” (family canons) của các thư Tân Ước, gia đ́nh trong thế giới cổ thời được nhận diện như là nơi diễn ra sự liên đới sâu sắc giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái, và giữa người giầu và người nghèo (xem Ep 5,21-6:9; Cl 3,18-4,1; 1Tm 2,8-15; Tt 2,1-10; 1Pr 2,13-3,7; xem thêm Thư Philêmôn). Cách riêng, thư Êphêsô nh́n nhận t́nh yêu phu thê giữa một người nam và một người nữ là “một mầu nhiệm lớn”, v́ đă biến t́nh yêu của Chúa Kitô dành cho Giáo Hội của Người thành hiện thực (xem Ep 5,31-32). 

Trong nhiều thế kỷ, nhất là từ thời cận đại cho tới nay, Giáo Hội đă đưa ra một giáo huấn liên tục và tiệm tiến về gia đ́nh và hôn nhân là định chế vốn làm nền cho nó. Một trong các phát biểu đáng lưu ư nhất đă được Công Đồng Vatican II đề xuất trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes; hiến chế này, khi bàn tới một số vấn đề khẩn trương, đă dành trọn một chương để cổ vũ phẩm giá hôn nhân và gia đ́nh, như được thấy trong đoạn mô tả các giá trị của chúng đối với việc tạo lập xă hội: “gia đ́nh, nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ giúp nhau đạt được sự khôn ngoan sâu rộng hơn và hoà hợp được các quyền lợi bản thân với các đ̣i hỏi khác của đời sống xă hội, đă tạo nên nền tảng cho xă hội” (GS, số 52). 

Điều đặc biệt đáng lưu ư là lời kêu gọi của nó đối với một nền linh đạo lấy Chúa Kitô làm trung tâm sinh hoạt đức tin của vợ chồng: “Được dựng nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa hằng sống và thừa hưởng phẩm giá nhân vị chân chính, vợ chồng hăy kết hợp với nhau trong cùng một t́nh âu yếm, trong cùng một tư duy và trong cùng một sự thánh thiện hỗ tương, ngơ hầu, theo gương Chúa Kitô, Đấng vốn là nguyên lư của sự sống, vợ chồng có thể nhờ các hân hoan và hy sinh trong ơn gọi của ḿnh, nhờ ḷng trung tín trong t́nh yêu của ḿnh, mà trở nên các chứng nhân của mầu nhiệm yêu thương mà Chúa đă tỏ lộ cho thế giới qua cái chết và sự sống lại của Người” (GS, số 52).

Sau Công Đồng Vatican II, các vị kế nhiệm Thánh Phêrô cũng đă dùng huấn quyền của các ngài mà phong phú hóa giáo huấn về hôn nhân và gia đ́nh, nhất là Đức GH Phaolô VI với thông điệp Humanae vitae, là thông điệp đưa ra các giáo huấn chuyên biệt cả về nguyên tắc lẫn hướng dẫn. Sau đó, trong Tông Huấn Familiaris consortio, Đức GH Gioan Phaolô II muốn nhấn mạnh tới việc đề xuất kế hoạch Thiên Chúa nhân nói tới các sự thật về nguồn gốc t́nh yêu vợ chồng và nguồn gốc gia đ́nh: “ ‘Nơi’ duy nhất làm cho việc tự hiến theo nghĩa thật sự trọn vẹn này trở thành khả hữu chính là hôn nhân, tức giao ước t́nh yêu hay sự lựa chọn có ư thức và tự do qua đó, người đàn ông và người đàn bà chấp nhận cộng đồng sự sống và t́nh yêu đầy thân ái, vốn được chính Thiên Chúa mong muốn” (xem GS, số 48), một cộng đồng chỉ biểu lộ được ư nghĩa chân thực của nó dưới ánh sáng này mà thôi. Định chế hôn nhân không phải là một can thiệp không nên có của xă hội hay của một thẩm quyền nào đó, cũng không phải là việc áp đặt một h́nh thức ngoại tại nào. Đúng hơn, nó là một đ̣i hỏi nội tại của giao ước yêu thương phu phụ, một giao ước được công khai xác nhận là duy nhất và độc chiếm, để hai bên sống tuyệt đối trung thành với nhau theo kế hoạch của Thiên Chúa Hóa Công. Tự do bản vị, thay v́ bị ḷng trung thành này giới hạn, thực ra đă được che chở khỏi mọi h́nh thức duy chủ quan hay duy tương đối, để trở thành người tham dự vào Sự Khôn Ngoan sáng thế” (Tông huấn Gia đ́nh 11).

Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo đă gom lại một nơi các khía cạnh căn bản của giáo huấn này: “Giao ước hôn nhân, qua đó, một người đàn ông và một người đàn bà thành lập với nhau một cộng đồng thân mật sống và yêu thương nhau, đă được Đấng Tạo Hóa thiết lập và ban cho những luật lệ riêng biệt. Do chính bản chất của nó, giao ước này được sắp đặt cho thiện ích của vợ chồng, cũng như việc sinh sản và giáo dục con cái. Chúa Kitô đă nâng hôn nhân giữa những người đă rửa tội lên hàng một bí tích” [xem Công Đồng Vatican II, Gaudium et spes, số 48; Bộ Giáo Luật, số 1055,1]” (Sách GLCGHCG, 1660).

Học thuyết tŕnh bày trong Sách Giáo Lư này xem xét cả các nguyên tắc thần học lẫn các tác phong luân lư, được khai triển dưới hai đầu đề riêng biệt: Bí Tích Hôn Nhân (các số 1601-1658) và Điều Răn Thứ Sáu (các số 2331-2391). Đọc cẩn thận các phần này của Sách Giáo Lư, ta sẽ có được một cách hiểu cập nhật về học thuyết của đức tin, để hỗ trợ hành động của Giáo Hội trước các thách đố hiện nay. Nguyên tắc mục vụ của Giáo Hội được gợi hứng từ sự thật về hôn nhân, một sự thật được xem sét dưới ánh sáng kế sách Thiên Chúa, Đấng đă tạo nên người đàn ông và người đàn bà, và là Đấng, vào thời viên măn, đă mạc khải nơi Chúa Giêsu tính tṛn đầy của t́nh yêu vợ chồng, lúc được nâng lên hàng bí tích. Đặt cơ cở trên sự ưng thuận, hôn nhân Kitô Giáo cũng được ban cho nhiều hiệu quả như thiện ích và bổn phận vợ chồng. Nhưng, hôn nhân không được miễn nhiễm khỏi hậu quả tội lỗi (Xem St 3,1-24), một việc có thể gây ra những vết thương sâu xa, thậm chí c̣n hạ thấp cả phẩm giá của bí tích nữa. 

Thông điệp mới đây của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, tựa là Lumen Fidei (ánh sáng đức tin - LF) có đề cập tới gia đ́nh trong bối cảnh một suy tư về việc đức tin cho ta biết “các sợi dây nối kết người ta lại với nhau bền vững ra sao khi Thiên Chúa hiện diện ở giữa họ” (LF, số 50). “Khung cảnh đầu tiên trong đó đức tin soi sáng cho kinh thành con người là gia đ́nh. Tôi nghĩ trước hết và đầu hết tới sự kết hợp bền vững giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong hôn nhân. Sự kết hợp này phát sinh từ t́nh yêu của họ, như là dấu chỉ và là sự hiện diện của chính t́nh yêu Thiên Chúa, và phát sinh từ việc nh́n nhận và chấp nhận sự tốt lành của dị biệt hóa giới tính, nhờ đó, các người phối ngẫu có thể trở nên một thân xác (xem St 2,24), và có khả năng sinh ra một sự sống mới, vốn là điều nói lên sự tốt lành, khôn ngoan và kế hoạch yêu thương của Đấng Hóa Công. Đặt cơ sở trên t́nh yêu này, người đàn ông và người đàn bà có thể thề hứa yêu thương nhau trong một cử chỉ vận dụng được trọn cả đời họ và phản ảnh được nhiều đặc điểm của đức tin. Thề hứa yêu thương nhau măi măi chỉ có thể có khi ta nhận thức được một kế hoạch lớn hơn chính các dự án của ta, một kế hoạch nâng đỡ ta và giúp ta khả năng trao phó trọn tương lai ta cho người ta yêu” (LF, số 52). “Đức tin không phải là nơi trú ẩn của những người nhát gan, nhưng là một điều thăng tiến đời ta. Nó làm ta ư thức được tiếng gọi kỳ diệu, tức lời mời gọi của t́nh yêu. Nó bảo đảm với ta rằng t́nh yêu này đáng tin tưởng và đáng ôm lấy, v́ nó đặt căn bản trên ḷng trung thành của Thiên Chúa, một ḷng trung thành mạnh hơn sự yếu đuối của ta” (LF, số 53). 


 

 

 

 

 

 

PHẦN II
MỘT SỐ CHỈ DẪN THỰC HÀNH


I. GIA Đ̀NH GIÁO DỤC


.01

GIÁO DỤC TỪ TRONG BÀO THAI

 

Theo ư định của Thiên Chúa, hôn nhân là nền tảng cho một cộng đoàn rộng lớn hơn, tức là gia đ́nh, v́ chính định chế hôn nhân và t́nh yêu vợ chồng đều quy hướng về việc truyền sinh và giáo dục con cái, làm nên triều thiên cho định chế và t́nh yêu ấy.

Trong thực tế sâu xa nhất của nó, t́nh yêu vốn cốt yếu là ơn huệ. Và t́nh yêu vợ chồng, khi đưa đôi bạn đến chỗ “biết” nhau làm cho họ trở thành “một xác thịt”, nó không chấm dứt nơi hai người nhưng nó làm cho họ có khả năng thực hiện được việc trao hiến lớn lao nhất, nhờ đó họ trở nên những người cộng tác với Thiên Chúa để thông ban sự sống cho một nhân vị khác. V́ thế khi hai vợ chồng trao hiến cho nhau th́ cũng trao ban một hữu thể thực hữu vượt khỏi họ, tức là đứa con. Nó là dấu chỉ thường xuyên của sự hiệp nhất vợ chồng và là tổng hợp sống động, không thể phân chia của tư cách làm cha làm mẹ của họ. (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 14)

Người xưa nói: “Uốn cây từ thuở c̣n non, dạy con từ thuở con c̣n trong nôi.” Ngày nay người ta c̣n nhấn mạnh: “Dạy con từ thuở con c̣n trong thai”. Sự giáo dục này được gọi là thai giáo.

Ngay khi c̣n trong bào thai, em bé đă có thể tiếp nhận sự giáo dục của cha mẹ. Cuộc sống gia đ́nh, sức khoẻ và tâm trạng người mẹ lúc ấy có ảnh hưởng rất lớn trên em bé, cả về sự phát triển thể chất và tâm thần đang lặng lẽ h́nh thành.

Các tâm t́nh và thái độ ứng xử của cha mẹ sẽ ghi dấu sâu đậm trên tâm tính đứa con sắp chào đời. Do đó những bậc cha mẹ thương con sẽ hết sức lưu ư để sống thật lành mạnh về luân lư và tâm linh. Trong thời gian cưu mang, người mẹ cần tĩnh dưỡng, suy nghĩ về ơn gọi làm mẹ; cần có thái độ b́nh tĩnh, vui thích đợi chờ. Nên chiêm ngắm những h́nh ảnh tươi đẹp thánh thiện, chọn nghe nhạc êm dịu trong sáng, nghe và hát thánh ca, cầu nguyện trong tâm t́nh tin cậy phó thác. Dù con c̣n trong dạ, người mẹ cũng có thể vuốt ve và nói với con những lời ˆâu yếm dịu dàng. Người cha cần biết tạo điều kiện bên ngoài cho êm ấm để người mẹ luôn được an vui hạnh phúc.

Đừng đặt tên cho con cái cách tuỳ tiện. Hăy làm tuần chín ngày kính Đức Chúa Thánh Thần để biết Thiên Chúa muốn ǵ trên cháu bé và xin Ngài soi sáng để chọn cho cháu một tên gọi gói ghém được ước mơ của cha mẹ và cả của Thiên Chúa trên cuộc đời cháu. Hăy suy nghĩ để sớm chọn người đỡ đầu rửa tội cho cháu. Tốt nhất là chọn trong ṿng thân hữu những gia đ́nh cùng một chí hướng giáo dục.

Thời gian mang thai là thời gian khẳng định hướng đi căn bản cho cuộc đời cháu bé. Với anh chị em là những Kitô hữu, đó phải là hướng đi căn bản của người con cái Chúa. Chương tŕnh của Thiên Chúa khi tạo dựng nên chúng ta chính là để chúng ta được hiệp nhất yêu thương với Ngài trong hạnh phúc đời đời. Mọi sự Thiên Chúa ban cho ta ở đời này đều nhằm giúp ta đạt tới mục tiêu cuối cùng ấy. Do đó, trong mọi sự, ta luôn dành ưu tiên cho Thiên Chúa và cho sự hiệp nhất với Ngài. Hễ điều ǵ c̣n giúp ta gần gũi Thiên Chúa th́ ta đón nhận, một khi nó bắt đầu ngăn cản ta gần gũi Thiên Chúa, ta sẽ loại trừ ngay.

Cha mẹ thế nào, con cái thế ấy. Anh chị em muốn đào tạo con cái ḿnh nên người thế nào, th́ cứ cố gắng sống như thế ấy. Gương sáng của anh chị em sẽ khuôn đúc nên con cái của anh chị em.

Sau cùng, hăy đến với Đức Mẹ. Khi bà Êlizabét đang mang thai th́ Mẹ Maria đến thăm. Đứa bé trong ḷng bà đă nhảy mừng. Khi nó sinh ra, láng giềng kinh ngạc bảo nhau: “Con trẻ này rồi sẽ ra thế nào, v́ có tay Chúa ở với nó” (Lc 1,66). Thánh Gioan Bosco nói: “Muốn cho trẻ nên người, hăy đưa chúng đến với Đức Mẹ”. Hăy đưa con cái đến với Mẹ Maria ngay khi chúng c̣n là bào thai trong ḷng mẹ.

.02
GIÁO DỤC TRẺ SƠ SINH
[8]

Khi trở nên cha mẹ, đôi bạn cũng lănh nhận nơi Thiên Chúa một quà tặng, đó là một trách nhiệm mới. Cha mẹ được mời gọi để biến t́nh thương con cái thành dấu chỉ hữu h́nh cho chúng nhận ra được chính t́nh yêu của Thiên Chúa, “là nguồn gốc mọi t́nh phụ tử trên trời dưới đất” (Ep 3,15) (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 14).

 Về việc giáo dục các cháu từ mới sinh đến 3 tuổi, ta cần lưu ư những điểm sau đây:

1. Việc giáo dục của giai đoạn này tập trung nơi người mẹ: Đứa bé chưa phân biệt nó với ngoại vật, chưa phân biệt nó với mẹ. Mẹ với nó là một. Mẹ là sự an toàn, là sự dễ chịu cho nó. Thái độ tôn giáo của người mẹ trong giai đoạn này ảnh hưởng rất sâu đậm trên đức tin sau này của đứa bé, chuẩn bị hoặc cản trở đức tin của nó khi lớn. Vai tṛ của người cha lúc này là tạo sự thoải mái yên ấm cho người mẹ. Phải đợi khi đứa bé được hai tuổi, người cha mới có thể ảnh hưởng trực tiếp.

2. Vun trồng ḷng tin cậy đầu tiên: Người mẹ cần chăm sóc con với niềm vui và t́nh thương chứ không như một bổn phận phải làm. Cần tỏ ra dịu dàng âu yếm, tránh nóng nảy, lạnh lùng. Lúc cho ăn, cần giúp cho cháu bé được thoả măn, thích thú, không căng thẳng, sợ hăi.

3. Khuôn mẫu đầu tiên của em bé là người mẹ: Em bé bắt chước mẹ. Nếu người mẹ vui vẻ hài hoà với mọi người mọi vật và các biến chuyển của đời sống, sẽ tạo cho em bé một dấu ấn tin cậy, lạc quan, bác ái, về sau em sẽ cởi mở với mọi người; c̣n ngược lại, em sẽ bi quan, khép kín.

4. Nhận biết t́nh thương có uy quyền: Tṛn một tuổi, em bé khám phá ra rằng nó có thể làm hài ḷng hay làm mất ḷng mẹ; nó phải hoà hợp với mọi người, nhất là với mẹ. Nó t́m cách giữ được t́nh yêu thương của mẹ, v́ đó là tất cả sự yên nguy của nó. T́nh yêu thương trong uy quyền làm cho em bé lớn lên trong ḷng trông cậy.

 

5. Kỷ luật đầu tiên: T́nh thương của người mẹ phải bao gồm một kỷ luật cần cho sự giáo dục. Cần có giờ giấc và điều độ trong việc ăn, ngủ, đi vệ sinh. Không nên thoả măn hết mọi ao ước của đứa bé. Thiếu ư thức về những giới hạn cần thiết, ta sẽ làm cho cháu trở thành đứa trẻ hay đ̣i hỏi, hỗn, không biết tự chủ, không biết để ư tới người khác. Người mẹ cần thông minh và nghị lực để phát hiện những đ̣i hỏi không chính đáng và không chiều theo những đ̣i hỏi ấy. Tuy nhiên, kỷ luật này không được ngăn cản đứa bé bày tỏ những ước vọng chính đáng, khiến nó cảm thấy cuộc sống khắt khe, không có cơ hội thành công. Những giới hạn quá hẹp sẽ khiến đứa bé về sau trở thành loại người lớn dễ bất măn hoặc hay nói dối. Để có thể phát triển điều hoà, đứa bé cần thấy được nơi t́nh yêu người mẹ những nét của t́nh yêu Thiên Chúa.

6. Tập tiếp xúc: Đứa bé cần bắt chước mẹ nó để biết tiếp xúc, quan tâm tới người khác, nhất là trong cách mẹ nó cư xử với anh chị nó và với những người khác trong gia đ́nh.

7. Đào tạo luân lư: Những điều nói trên tạo cơ sở cho một lương tâm ngay thẳng. Đứa bé sống luân lư bằng cách dự phần vào ư thức luân lư (lương tâm) của mẹ nó. Nó thoả ḷng khi mẹ vui, nó ân hận khi mẹ buồn. Nét mặt người mẹ có một ư nghĩa đối với đứa bé. Cả tính khí và những tiếng dùng của người mẹ cũng vậy. Việc sửa phạt được biểu lộ qua thân xác và tâm hồn bằng cái nh́n. Cái nh́n của người mẹ đặc biệt có sức đưa dẫn đứa bé vào trật tự luân lư. Khi nó có lỗi, người mẹ cần nh́n cách nào để cái nh́n ấy không phải là một sự từ chối yêu thương nhưng đúng hơn là một sự đau khổ, buồn phiền, trách móc và mời gọi. Cái nh́n ấy sẽ giúp đứa bé nhận ra sự trách móc của Thiên Chúa, khi phải xa “nụ cười” của Ngài.

8. Đời sống tôn giáo và giáo lư: Trên đây đă là một sự đào tạo tôn giáo, nhưng vẫn c̣n ở mức độ của giáo dục nhân bản. Ta c̣n cần đề cập rơ hơn: Trước hết, quan trọng nhất là gương sáng: Cách sống của người lớn, cách xếp đặt mọi sự trong nhà, thái độ của cha mẹ khi cầu nguyện, khi phản ứng trước những chuyện thường ngày. Tiếp đến là một sự khai tâm gọi là “sữa đức tin”: Giới thiệu cho các cháu biết Thiên Chúa ngay từ khi tập nói, và tập cho các cháu hướng về Thiên Chúa qua những cử chỉ đơn giản nhất (ṿng tay, cúi đầu) và những lời nguyện bập bẹ: Con ạ Chúa, cám ơn Chúa cho con ăn cơm, cám ơn Chúa cho con đi ngủ, con cám ơn Chúa con sẽ ngoan hơn...

.03

GIÁO DỤC TUỔI VÀO ĐỜI

“Trước hết các đôi bạn Kitô hữu làm việc tông đồ trong chính gia đ́nh ḿnh, bằng một đời sống đúng theo luật Chúa dưới mọi khía cạnh, bằng việc đào tạo về mặt giáo lư Kitô giáo cho con cái, giúp chúng trưởng thành trong đức tin, giáo dục đức khiết tịnh, chuẩn bị cho chúng vào đời, săn sóc để chúng tránh những nguy hiểm về ư thức hệ và luân lư mà chúng đang bị đe dọa. Bên cạnh, giúp chúng hội nhập vào cộng đồng Giáo Hội và cộng đồng dân sự cách tiệm tiến và có tinh thần trách nhiệm; giúp đỡ và góp ư cho chúng trong khi chọn lựa ơn gọi.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 71)

Việc giáo dục các cháu 13, 14 tuổi trở lên thật khó. Khi con cái c̣n bé tí xiú, chúng cần cha mẹ bảo trợ và âu yếm. Nhưng sẽ tới một thời gian sớm hơn ta tưởng chúng đi t́m con người riêng trong cách xử sự và cả trong vấn đề đạo giáo nữa. Thời kỳ ấy sẽ làm cho cả cha mẹ lẫn con cái phải khổ tâm. Bậc cha mẹ sẽ biết xóa ḿnh đi trước nhân cách của đứa con đang lớn lên, và t́m cách giúp con cái đáp lại tiếng gọi của Chúa theo cách của nó, chứ không rập theo cách của cha mẹ. Bậc cha mẹ nhớ rằng, dù không nói ra, đứa con sẽ rất khâm phục cha mẹ, nếu họ sống đức tin với ḷng xác tín, mà không cưỡng ép chúng làm những việc đạo đức như họ. Ước ǵ các gia đ́nh Kitô giáo có được một bầu khí vừa che chở vừa cởi mở, trong đó, con cái cảm thấy được tôn trọng và nh́n thấy nơi cha mẹ những tấm gương sáng về ḷng tốt, ḷng chung thủy, t́nh thân mật, ḷng biết ơn, tinh thần trách nhiệm và cần cù làm việc, tất cả phản ánh một đức tin sâu xa. Việc giáo dục ở tuổi này sẽ đỡ khó khăn hơn nếu ta đă giúp cho các cháu biết cởi mở, tin cậy phụ huynh. Cần nhẫn nại, dành thời giờ cho các cháu, trở thành người bạn của con ḿnh.

Cần để ư xem con cái làm bạn với những ai. Cần ngăn cản các cháu chơi với bạn xấu. Ngược lại, khuyến khích và tạo điều kiện cho chúng chơi với bạn tốt. Thánh nữ Têrêxa Avila khi kể lại thời choai choai của ḿnh, đă viết: “Nếu tôi phải khuyên các bậc làm cha mẹ, tôi sẽ nài xin họ hết sức lưu ư tới bạn bè của con cái trong lứa tuổi này. Đi lại với những bạn bè xấu có thể đem lại những hậu quả thật đáng tiếc, v́ tự bản chất, chúng ta dễ bắt chước điều xấu hơn là điều tốt. Trường hợp tôi cũng thế. Tôi có người chị lớn tuổi hơn nhiều, dẫu chị rất đoan trang và nhân đức, tôi đă chẳng học đ̣i chị được điều ǵ. Trái lại, tôi bắt chước hết mọi cái xấu nơi một người chị họ thường lui tới nhà tôi. Lối chuyện văn của chị rất lẳng lơ đến nỗi mẹ tôi, v́ thấy chị có thể gây hại cho tôi, đă cố gắng hết sức để ngăn chị khỏi đến nhà tôi, nhưng mẹ tôi đành bất lực, v́ chị có rất nhiều lư do để tới.”

Kinh nghiệm của Thánh Gioan Boscô là đừng la mắng trước đám đông nhưng nói riêng thật nhỏ nhẹ. Ngài cũng c̣n dạy: “Yêu thương bạn trẻ thôi chưa đủ, c̣n phải làm sao để bạn trẻ cảm nhận được rằng chúng ta yêu thương họ.”

Cần giúp các cháu biết phát huy tinh thần trách nhiệm, biết tự lo tổ chức cuộc sống, biết tự sắp xếp các công việc của ḿnh và tự nguyện làm, không đợi nhắc bảo. Nhắc các cháu biết xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng khi bắt đầu mỗi ngày cũng như trước mỗi việc làm và lời nói, biết gắn bó yêu mến Chúa Giêsu và quyết bước theo con đường Ngài, biết dành ưu tiên cho việc bổn phận, biết làm việc theo thời khoá biểu và điều hoà các bổn phận khác nhau theo thứ tự ưu tiên. Nói chung, nếu các cháu biết chăm lo bổn phận th́ sẽ tránh được nhiều cạm bẫy ở đời và có thể sớm trưởng thành.

.04 
GIÁO DỤC BẰNG GƯƠNG SÁNG

“V́ là người truyền sự sống cho con cái, cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và v́ thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai tṛ giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót sẽ khó ḷng bổ khuyết được. Thật vậy, chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đ́nh một bầu khí thấm nhuần t́nh yêu cũng như ḷng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện của con cái họ trong đời sống cá nhân và xă hội được dễ dàng. Do đó, gia đ́nh là trường học đầu tiên dạy các đức tính xă hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được”. (Tuyên ngôn về việc Giáo dục Kitô giáo, số 3)

Không ǵ gây tác dụng giáo dục hoặc phản giáo dục sâu đậm cho bằng những mẫu gương, gương tốt hoặc gương xấu, mà trước hết và quan trọng nhất chính là mẫu gương của cha mẹ.

Anh chị em muốn con ḿnh sẽ ra sao th́ ngay từ hôm nay anh chị em hăy sống như thế đi. Những lời khuyên răn và dọa nạt sẽ chẳng ích ǵ nếu các cháu thấy nhà giáo dục không sống những điều họ dạy. Nhiều lắm cũng chỉ đủ sức ngăn cản chúng làm những điều ấy khi có mặt cha mẹ mà thôi.

Nếu anh chị em muốn con ḿnh sẽ có tinh thần trách nhiệm, ngay từ hôm nay anh chị em hăy làm việc siêng năng chăm chỉ. Muốn cho con luôn thành thật, anh chị em đừng bao giờ nói dối, dù chỉ là dối đùa. Muốn con ḿnh biết cư xử tế nhị, ngay hôm nay anh chị em hăy biết tỏ ra kính trọng mọi người, kính trọng nhau và kính trọng chính ḿnh.

Tự thắng ḿnh, chỉnh đốn lại con người của ḿnh, thật là khó. Đôi khi ta dễ có cám dỗ nghĩ rằng ḿnh đă lớn rồi, muộn rồi, làm sao sửa đổi được nữa! Không đâu, vẫn c̣n kịp nếu ta bắt đầu từ hôm nay, ngay từ lúc này. V́ yêu mến những đứa con sẽ sinh ra, v́ yêu mến bạn ḿnh, v́ yêu mến chính ḿnh và v́ yêu mến Thiên  Chúa, anh chị em hăy bắt đầu thực hiện cho con cái một cái mẫu để chúng bắt chước.

Anh chị em cũng đừng quên chọn cho con cháu những người bạn tốt. Hăy kể cho các cháu nghe, hăy giúp các cháu thán phục những tấm gương tốt, nếu có dịp, hăy cho các cháu được tiếp xúc với những con người ấy. Rất nhiều danh nhân trong sách vở cũng là những người bạn và gương mẫu, nhất là những vị thánh. Nhiều người h́nh như sợ rằng nếu con ḿnh nên thánh th́ sẽ bị mất nó… Nhiều người có cái suy nghĩ sai lầm rằng: các thánh là những vị xa vời, con ḿnh là ǵ mà dám vươn tới. Không đâu, mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh và đều được Chúa ban đầy đủ ơn để nên thánh.

Có những vị thánh mà gia đ́nh anh chị em không thể không biết đến, như các vị bổn mạng, thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thánh Giuse, Đức Mẹ Maria. Và nhất là Đấng Thánh, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Chính Ngài mời gọi chúng ta bắt chước Ngài: “Hăy học với Ta” (Mt 11,29); “Như Ta đă yêu thương các con, các con cũng hăy yêu thương nhau” (Ga 13,34); “Ta đă nêu gương cho các con, ngơ hầu như Ta đă làm cho các con thế nào, các con cũng làm như vậy” (Ga 13,15).

Sau cùng, xin mời anh chị em lắng nghe lời nhắn nhủ của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II: “V́ cha mẹ đă sinh ra con cái nên quyền và bổn phận giáo dục là một điều nằm trong yếu tính của họ; v́ tương quan giữa họ với con cái là một t́nh yêu thương không thể thay thế được, nên quyền và bổn phận giáo dục của họ có tính cách độc đáo và cơ bản so với bổn phận giáo dục của những người khác, đó cũng là một cái ǵ không thể thay thế và không thể chuyển nhượng được, cho nên cũng không thể khoán trắng cho người khác hay bị người khác cưỡng đoạt” (Tông huấn Gia đ́nh 36).

.05
GIÁO DỤC THEO
CÁC GIÁ TRỊ CHÍNH YẾU
CỦA ĐỜI NGƯỜI

Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, v́ xác tín mạnh mẽ rằng: “giá trị của con người là do cái ḿnh là, hơn là do cái ḿnh có” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 37)

Làn sóng văn minh tiêu thụ tràn vào Việt Nam ngày càng nhanh. Điều đáng sợ cho cộng đoàn Dân Chúa lúc này không phải là sự cấm cách bắt bớ nhưng chính là sức hút của xă hội tục hoá. Để sống theo Tin Mừng, người tín hữu phải lội ngược ḍng đời. Ngay cả đối với những tín hữu trưởng thành, tỉnh táo sáng suốt để nhận rơ và can đảm thực hiện đúng ư Chúa đă là chuyện rất khó, huống nữa là bạn trẻ!

Văn minh tiêu thụ không chỉ ảnh hưởng trên con em chúng ta mà ngay cả trên chính bản thân mỗi người chúng ta, khiến tinh thần  Tin Mừng nơi chúng ta có thể phai nhạt lúc nào không hay. Cần có tinh thần đức tin sâu xa, ta mới có thể xác tín chiều sâu của 8 mối phúc thật.

Những điều chân phúc trong Tin mừng sở dĩ là hạnh phúc chính là v́ nó tạo điều kiện cho con người đón nhận Thiên Chúa. Sống các mối phúc chính là đặt ḿnh vào t́nh trạng có thể cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa, hay đúng hơn, có thể kết hợp với Thiên Chúa.

Không phải chỉ trong nhà thờ, nhưng ngay trong gia đ́nh, Thiên Chúa làm người đang ở với chúng ta. Nước Trời đang ở giữa chúng ta, chỉ cần chúng ta biết mở rộng ṿng tay đón nhận. Nghèo khó, phiền sầu, đói khát sự công chính, giữ ḷng trong sạch… chính là sẵn ḷng buông bỏ tất cả để có được Chúa làm gia nghiệp. Điều quan trọng là sự sẵn ḷng. Cái chúng ta t́m kiếm không phải là cái nghèo nhưng là sự tự do của một tấm ḷng không ham mê của cải. Nếu sống trong cảnh nghèo xác xơ mà ḷng nặng trĩu sự ham mê của cải th́ vẫn chưa sẵn sàng để đón nhận Nước Thiên Chúa. Chính v́ thế mà thánh Mátthêu đă nhấn mạnh tới sự sẵn sàng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó!”

Hạnh phúc Nước Trời là ở chỗ chúng ta được thuộc về Thiên Chúa. Điều làm cho người Kitô hữu khác với những người khác là, ngay trong những hoàn cảnh đen tối nhất, họ vẫn được tràn ngập hạnh phúc. Đó là điều vẫn đang xảy ra hôm nay trong cuộc sống hằng ngày. Biết bao gia đ́nh Kitô hữu hôm nay đang sống tám mối phúc thật như thế… Trước mắt thế gian, chọn bước theo Chúa Giêsu trên con đường Ngài quả là điên rồ, ngu xuẩn, nhưng đối với những người được cứu chuộc th́ đó lại là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa (1Cr 1,18-25).

Chúng ta cần giúp các em xác tín ḿnh được gọi sống với Thiên Chúa, giúp các em khao khát trở nên người con tự do, biết làm chủ bản thân và biết dùng mọi sự theo ư Cha trên trời. Muốn vậy, đừng sợ gieo cho các em ư tưởng nên thánh và nên thánh lớn ngay giữa đời thường. Quư phụ huynh cũng đừng sợ một cách sai lầm rằng nếu các em theo đường tâm linh là ḿnh mất con! Thành quả lớn nhất của giáo dục là đào tạo được con cái thành những vị thánh.

.06

DẠY CON CÁI BIẾT CẦU NGUYỆN

Trên căn bản phẩm giá và sứ mạng của họ, các cha mẹ Kitô hữu có bổn phận đặc biệt phải giáo dục cho con cái họ biết cầu nguyện, phải đưa chúng tới chỗ dần dần khám phá ra mầu nhiệm Thiên Chúa và đối thoại riêng với Ngài: “Nhất là gia đ́nh Kitô hữu đă nhận được những ân sủng, và đ̣i hỏi phong phú của bí tích Hôn Phối, nên ở đó ngay từ nhỏ, trẻ em phải được dạy dỗ để nhận biết và thờ kính Thiên Chúa cùng yêu mến tha nhân, theo như đức tin chúng đă lănh nhận khi chịu phép Rửa Tội” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 60).

Gương sống cụ thể, chứng tá sống động của cha mẹ, là yếu tố căn bản và không thể thay thế được trong việc giáo dục cầu nguyện: chỉ khi nào cha mẹ cùng cầu nguyện với con cái, chu toàn chức vụ tư tế vương giả của họ, họ mới vào sâu được trong ḷng con cái và để lại đó những dấu vết mà các biến cố cuộc sống về sau sẽ không thể xóa nḥa được. Chúng ta hăy nghe lại lời kêu gọi mà Đức Phao-lô VI đă ngỏ lời với cha mẹ: “Hỡi các bà mẹ, chị em có dạy cho các con nhỏ của ḿnh những lời kinh của người Kitô hữu không? Chị em có cộng tác với các linh mục để chuẩn bị cho chúng lănh nhận các bí tích của thời niên thiếu: xưng tội, rước lễ, thêm sức không? Nếu chúng đau ốm, chị em có tập cho chúng quen nghĩ tới những sự đau khổ của Đức Kitô, quen kêu cầu sự giúp đỡ của Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh không? Chị em có lần hạt chung với chúng ở gia đ́nh không? C̣n anh em hỡi những người cha, anh em có biết cầu nguyện chung với con cái, với cộng đồng gia đ́nh, ít là thỉnh thoảng không? Gương sống của anh em qua sự ngay thẳng trong tư tưởng và hành động, được hỗ trợ bằng ít nhiều kinh nguyện chung, quả là một bài học sống, một hành vi thờ phượng đáng tuyên dương. Như thế anh em đang đem b́nh an vào trong tổ ấm gia đ́nh anh em: “B́nh an cho nhà này”. Đừng quên rằng làm như thế là anh em đang xây dựng Giáo Hội!”.

Để đào tạo tâm t́nh cầu nguyện, để giúp các cháu nhớ có Thiên Chúa hiện diện trong gia đ́nh, mỗi nhà đều nên có một bàn thờ sáng sủa, tŕnh bày đơn giản để diễn tả đức tin thật chính xác. Bàn thờ tổ tiên có thể đặt ngay dưới bàn thờ Chúa, nhưng cần có sự phân biệt rơ ràng, hoặc có thể để ở gian khác, nên tŕnh bày đơn giản, sáng sủa.

Bàn thờ cần giữ sạch sẽ, tuyệt đối không để những vật dụng lặt vặt. Nên lau bàn thờ mỗi chiều thứ bảy hoặc sáng Chúa nhật.

Điều cần thiết khi cầu nguyện là nhớ rằng Thiên Chúa đang hiện diện. Ta ở đó để nghe Chúa nói và nói với Chúa. Muốn dễ nhớ sự hiện diện của Thiên Chúa, khi cầu nguyện nên ăn mặc nghiêm chỉnh, thu dọn đồ đạc trong pḥng và trên bàn cho ngăn nắp.

Để khỏi rơi vào thói quen đọc kinh máy móc, cần tránh kiểu đọc đều đều. Nên đọc chậm, ngắt câu rành rẽ, nghỉ lâu hơn. Nếu được, nên dùng cung nói thay v́ cung đọc.

Buổi tối, cần thu xếp cầu nguyện thật sớm để tiện cho mọi người, nhất là để trẻ em có thể tỉnh táo. Tốt nhất là dăm phút sau khi ăn tối xong. Sáng cũng như tối, giờ cầu nguyện cần được đặt lên hàng đầu, trước khi làm mọi việc khác, để nếu cần xén bớt vài việc th́ sẽ hy sinh những việc khác chứ không bỏ mất giờ kinh.

 

.07
DẠY CON CÁI HƯỚNG TỚI NHÂN ĐỨC

 “Tôi xin nói với anh em là hăy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không c̣n thoả măn đam mê của tính xác thịt nữa. V́ tính xác thịt th́ ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, c̣n Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên ḱnh địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. C̣n hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, th́ cũng hăy nhờ Thần Khí mà tiến bước.” (Gl 5,16t.22t.25)

Trong ngôn ngữ của con cái Chúa và trong ơn Chúa, ta gọi là các nhân đức. Theo ngôn ngữ đời, ta có thể nói nôm na là những thói quen tốt;

Kinh nghiệm cho ta thấy việc giáo dục cốt ở chỗ giúp con em có được những thói quen tốt lành, về nhân bản cũng như về tâm linh. Thói quen ngủ sớm dậy sớm, thói quen dâng ngày ban sáng, dâng ḿnh ban tối, tạ ơn trước và sau bữa ăn; thói quen làm tṛn bổn phận; thói quen xin phép cha mẹ, cởi mở bày tỏ với cha mẹ, mau mắn vâng lời, tỏ ḷng biết ơn, nhận lỗi và xin lỗi; thói quen ngăn nắp thứ tự… Nh́n vào các gia đ́nh họ hàng và bạn hữu cũng như chính gia đ́nh ḿnh, ta sẽ thấy ngay việc giáo dục của mỗi gia đ́nh thành công nhiều hay ít là tuỳ ở chỗ tập được cho con em nhiều hay ít thói quen tốt. Dĩ nhiên, cha mẹ không thể dạy cho con cái những thói quen mà chính ḿnh không có… Do đó, muốn bảo đảm kết quả giáo dục cho con em, chính phụ huynh phải kiểm điểm lại những thói quen hằng ngày của ḿnh, những thói quen nho nhỏ, từ bên ngoài, nơi lời nói và cử chỉ… những thói quen ấy tốt hay xấu?

Anh chị em đă quá rơ về tầm quan trọng của những thói quen tốt trong việc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Đây chính là chỗ mà cha ông ta nói: Uốn cây từ thuở c̣n non, dạy con từ thuở con c̣n trong nôi.

Cần theo dơi vở chép bài của các cháu để giúp các cháu biết tŕnh bày sáng sủa, rơ ràng, sạch đẹp. Giúp các cháu tập viết đủ nét, liền nét, thuận nét, đều nét và trọn nét; biết viết các dấu giọng rơ ràng và đúng quy cách. Đây là những chi tiết hết sức nhỏ nhưng có tác dụng rất lớn trong việc h́nh thành nhân cách và cách ứng xử của các cháu.

Đang khi học cách chu toàn bổn phận, các em sẽ gặt hái nhiều thói quen tốt. Các nhà giáo dục vẫn nói: “Bạn càng tập được nhiều thói quen tốt càng hay, nếu không, những thói quen xấu sẽ làm hỏng đời bạn”.

 

.08

ĐÀO TẠO CÁC NHÂN ĐỨC CĂN BẢN

“V́ là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và v́ thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai tṛ giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót sẽ khó ḷng bổ khuyết được. Thật vậy, chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đ́nh một bầu khí thấm nhuần t́nh yêu cũng như ḷng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện của con cái họ trong đời sống cá nhân và xă hội được dễ dàng. Do đó gia đ́nh là trường học đầu tiên dạy các đức tính xă hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được” ( Tuyên ngôn về giáo dục Ki-tô giáo, số 3)

.

Đạo lư Á Đông nhấn mạnh năm nhân đức căn bản là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhân là ḷng yêu người, nghĩa là ḷng biết ơn, lễ là biết kính trọng người khác, trí là biết sáng suốt cân nhắc, tín là biết giữ lời hứa.

Đạo lư phương Tây nhấn mạnh bốn nhân đức căn bản là: Khôn ngoan, dũng cảm, công b́nh và tiết độ. Khôn ngoan là biết sáng suốt cân nhắc, dũng cảm là biết cương quyết bước trên đường lành, công b́nh là biết tôn trọng của cải và quyền lợi của người khác, tiết độ là biết giữ đúng chừng mực.

Hai cụm nhân đức căn bản theo phương Đông và phương Tây đều rất ưu việt nhưng thiếu chiều sâu Kitô giáo v́ không tạo được sự liên tục giữa tự nhiên và siêu nhiên. Ch́a khoá mở được sự hài hoà giữa luân lư tự nhiên và sự thánh thiện Kitô giáo là ba nhân đức căn bản rút từ bài giảng trên núi, được nữ thánh Tiến Sĩ Têrêxa Avila tŕnh bày trong quyển Đường Hoàn Thiện: Khiêm nhường, từ bỏ và yêu thương, vừa tương ứng với ba nhân đức hướng thần (Tin, Cậy, Mến), vừa tương ứng với ba lời khuyên Tin Mừng (Vâng phục, Nghèo khó, Khiết tịnh).

Các nhân đức căn bản rất quan trọng, v́ chúng gói ghém các nhân đức tự nhiên khác và giúp vươn tới ba nhân đức hướng thần là tin, cậy và kính mến.

Khiêm nhường là biết sống đơn sơ bé nhỏ. Nhân đức này đặt nền móng cho ḷng yêu người và giúp nhận biết Thiên Chúa để thờ kính mến yêu.

Từ bỏ là biết thoát khỏi các thụ tạo để hướng về Thiên Chúa. Nhân đức này giúp ta dễ thoát khỏi những ràng buộc của thụ tạo để gắn bó với Thiên Chúa và trông cậy nơi Ngài.

Yêu thương là biết nghĩ đến mọi người. Nhân đức này giúp ta đem lại hạnh phúc cho nhau và mở rộng ḷng ta kính mến Thiên Chúa.

Muốn hướng tới hoàn thiện, ta cần sống các nhân đức căn bản theo Tin Mừng cho đến cùng, tức là theo đuổi tinh thần vâng phục, nghèo khó và khiết tịnh.

 

.09

ĐÀO TẠO TRÍ PHÁN ĐOÁN

 “V́ thế, từ ngày chúng tôi nghe biết như vậy, chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho anh em được am tường thánh ư Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết mà Thần Khí ban cho. Như vậy, anh em sẽ sống được như Chúa đ̣i hỏi, và làm đẹp ḷng Người về mọi phương diện, sẽ sinh hoa trái là mọi thứ việc lành, và mỗi ngày một hiểu biết Thiên Chúa hơn. Nhờ sức mạnh vạn năng của Thiên Chúa vinh quang, anh em sẽ nên mạnh mẽ để kiên tŕ chịu đựng tất cả” (Cl 1,9-11).

Trong giáo dục, ta cần giúp các cháu biết cân nhắc để nhận rơ ư Chúa trước thực tế hằng ngày và quảng đại đáp lại.

Thứ nhất là tập xem xét để chú tâm chu toàn bổn phận hiện tại. Trước mọi việc bổn phận lớn nhỏ, ta đều tha thiết xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, cân nhắc xem phải làm thế nào để đạt kết quả tốt nhất, rồi làm ngay với trọn ḷng yêu mến.

Thứ hai là trước các vấn đề cuộc sống, trước những cảm hứng muốn làm điều này hay điều khác, dĩ nhiên là những điều tốt, làm sao để ḍ t́m và nhận rơ được ư Chúa. Đây là một kinh nghiệm khá tế nhị nhưng không phải là quá khó. Trước hết, khi đă có ḷng khao khát muốn biết ư Chúa, ta cần giữ cho ḿnh một lương tâm ngay thẳng và một tấm ḷng trong sạch, nếu c̣n vướng mắc tội lỗi th́ phải thực ḷng ăn năn. Tiếp đến ta chú tâm xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, rồi cân nhắc xem xét kỹ để biết phải làm ǵ và làm một cách quảng đại. Kinh nghiệm này gọi là phương pháp xem – xét - làm.

Bước thứ nhất là xem, tức là quan sát, nh́n kỹ xem hoàn cảnh thực tế đang đ̣i hỏi điều ǵ, đâu là những thuận lợi và những khó khăn. Việc này phải rất chính xác, đủ các khía cạnh cần thiết. Nếu ta chỉ tuyển một số sự kiện theo ư ta muốn và gạt hẳn một số sự kiện không thuận lợi cho kết luận, kết luận của ta sẽ không trung thực.

Bước thứ hai là xét, tức là phân tích t́m lư do sâu xa của các sự kiện trên và dựa theo tinh thần Tin Mừng để lượng giá phê phán và tiến đến một kết luận. Sự phê phán này cần hết sức vô tư. Thường ta dễ bị thiên lệch v́ những quyến luyến lệch lạc và những định kiến có sẵn, khiến cho việc nhận định bị mất sáng suốt. Do đó cần tỉnh táo lọai trừ mọi định kiến và quyến luyến lệch lạc.

Trước những t́nh thế khó khăn của cuộc sống, ta cần b́nh tĩnh xét xem hướng đi của ư Chúa trong hoàn cảnh mới, không vội phản kháng cũng không t́m cách uốn nắn hoàn cảnh cho hợp với ư ta.

Muốn nhận rơ ư Chúa, ta cần để cho ḷng lắng xuống trong “yêu thương, khiêm nhường và từ bỏ.” Cần can đảm cậy trông vào Chúa. Đôi khi ta ngập ngừng không dám bắt tay vào việc, nhưng bắt đầu làm th́ rồi sẽ thấy ánh sáng dần dần lộ rơ. Đừng vội nghĩ rằng ánh sáng vừa nhận được là tất cả ánh sáng. Cần biết vui ḷng với những giới hạn. Không đ̣i những điều kiện tối ưu, cũng không vẽ vời những kế họach vượt quá quyền hạn và khả năng ḿnh.

Bước thứ ba là làm, tức là bắt tay vào việc thật đúng lúc, đúng cách, với cả tấm ḷng. Cứ quảng đại đáp lại theo điều Chúa gợi ư trong giây phút hiện tại. Ta chưa thấy rơ tương lai nên cần biết phó thác cho Chúa. Cứ bước đi trong b́nh an và chờ để xem Chúa đang muốn dắt đi đâu. Hành tŕnh Chúa dắt ta đi là hành tŕnh của kinh nghiệm, theo kiểu quy nạp. Thoạt đầu mọi chuyện có vẻ chẳng liên hệ ǵ với nhau, nhưng rồi cuối cùng sẽ thấy tất cả ăn khớp với nhau cách kỳ diệu.

 

.10

ĐÀO TẠO ĐỨC CÔNG BẰNG

 Trong một xă hội đă bị lung lay và phân hóa do những căng thẳng và xung khắc v́ sự đối đầu khốc liệt giữa các chủ nghĩa cá nhân và ích kỷ đủ loại, trẻ em cần phải có được ư thức về sự công bằng đích thực, v́ chỉ có sự công bằng ấy mới đưa đến sự kính trọng phẩm giá ngôi vị của từng người. Hơn thế nữa, chúng ta phải có ư thức về t́nh yêu đích thực, t́nh yêu dệt bằng mối quan tâm chân thành và việc phục vụ vô vị lợi đối với kẻ khác, và đặc biệt là đối với những người nghèo nhất và những người cần được giúp đỡ nhất.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 37)

Thánh Phanxicô Trần Văn Trung tử đạo ngày 10-6-1858. Khi bị giam, nhớ ra c̣n thiếu nợ một vài người, ngài lo lắng sợ các chủ nợ bắt các con ḿnh ở đợ để trừ nợ, vừa cực khổ lại có thể quên cả đạo nghĩa nữa, v́ thế ngài căn dặn vợ rất kỹ lưỡng, những đồ đạc nào trong nhà phải bán đi để thanh toán nợ nần thật chu đáo. (Thiên hùng sử, tr. 308)

Ngày nay, ư thức công bằng ở ng̣ai xă hội ngày càng xuống thấp, l8ám lúc dường như người ta chẳng c̣n biết ǵ đến công bằng. Giữa t́nh huống ấy, các gia đ́nh Kitô hữu phải quan tâm dạy con cái ư thức công bằng từ trong những chuyện nhỏ, trong việc làm bài cũng như khi chơi đùa với bạn hữu. Chính bậc cha mẹ cũng cần thường xuyên kiểm tra lại ư thức công bằng của ḿnh, bởi v́ công bằng là nền tảng của bác ái, như Tông Huấn về Gia Đ́nh có dạy:

“Một nhiệm vụ khác của gia đ́nh là huấn luyện con người đến với t́nh yêu và thực hành t́nh yêu trong mọi tương quan với người khác, nhờ vậy gia đ́nh sẽ không tự khép kín, nhưng mở rộng ra với cộng đoàn, được đánh động nhờ ư thức về công bằng và nhờ sự quan tâm đối với người khác, cũng nhờ bổn phận của trách nhiệm riêng đối với toàn thể xă hội”. (Tông huấn Gia đ́nh 64)

Cần hết sức tránh đừng để rơi vào nợ nần. Nếu mắc nợ, cố gắng trả càng sớm càng tốt. Nên tập thái độ này từ trong chuyện thường ngày: Lấy cái ǵ ở đâu, dùng xong, trả liền vào ở đó. Mượn vật ǵ của ai, dùng xong, trả lại liền. Thói quen giải quyết dứt điểm công việc mỗi ngày cũng giúp dẫn đến thói quen giúp sớm thoát nợ nần tiền bạc: Vừa có tiền trả nợ là trả ngay, không chần chừ. Có đến đâu trả đến đó, cuối năm sẽ thấy nhẹ nhàng. Chuyện đời sau cũng giống chuyện đời này: Ai không để ḿnh nợ công việc, sẽ không nợ tiền bạc. Ai không để ḿnh nợ đời này, sẽ không nợ đời sau.

 

.11

ĐÀO TẠO TINH THẦN ÍCH CHUNG

“Mọi thành phần trong gia đ́nh, mỗi người theo ơn riêng của ḿnh, đều có ân sủng và trách nhiệm để ngày này sang ngày khác tiếp tục xây dựng sự hiệp thông giữa các ngôi vị, bằng cách biến gia đ́nh thành một “trường học đào tạo cho nhân tính được hoàn hảo và phong phú hơn”. Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới giúp ǵn giữ được, và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đ́nh. Thực vậy, sự hiệp thông này đ̣i hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở ḷng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và ḥa giải với nhau. Không gia đ́nh nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất ḥa, những căng thẳng, những xung đột đă làm hại cho sự hiệp thông gia đ́nh biết chừng nào, và đôi khi c̣n có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn h́nh thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đ́nh.  (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 21)

Thánh Anrê Kim Thông chu toàn nhiệm vụ của ḿnh với tinh thần hăng say, với ḷng đạo đức sốt sắng và ḷng bác ái hoàn hảo. Ngài được Đức Cha Cuénot đặt làm Trùm Cả toàn tỉnh B́nh định. Làng cũng chọn ngài lo việc xét xử, ḥa giải mọi người trong xóm làng. Vất Vả nhưng v́ ích chung, ngài vui vẻ đảm nhận. Điểm đặc biệt trong đời sống của ngài là ḷng nhiệt thành với các vị thừa sai, nhất là đối với Đức Cha Cuénot. Trong những năm tháng dài, dù hiểm nguy đến tính mạng, ngài đă bố trí cho Đức Cha trốn lánh, tá túc ngay trong nhà ḿnh, đón tiếp các linh mục, các thầy giảng đến thăm Đức Cha, phục dịch các ngài, phí tổn khá nhiều. Sự nhiệt tâm này dù làm cho đời sống kinh tế gia đ́nh nhiều lúc trở nên eo hẹp, ngài cũng chẳng nề hà. Điều làm cho Cụ quan tâm nhất là bảo đảm an toàn cho Đức Cha và các linh mục. Do đó khi được các quan đ̣i lên tỉnh bất cứ v́ lư do ǵ, ngài vội đi ngay, đối đáp, trao đổi sao cho ít thiệt hại nhất, và khi ra về vẫn giữ sự liên lạc xă giao với họ.

Một điểm quan trọng trong việc giáo dục gia đ́nh công giáo ngày nay là đào tạo tinh thần ích chung. Hoàn cảnh xă hội ngày càng dễ khiến người ta thành ích kỷ. Bậc cha mẹ công giáo cần dạy con cái biết quên ḿnh, hy sinh v́ ích chung. Trước mặt người đời, đây có vẻ là điều dại dột, nhưng người Kitô hữu xác tín vào những lời tuyên phúc của Chúa, cần luôn phát huy tinh thần sẵn sàng chịu thiệt v́ ích chung. Cha mẹ sẽ đào tạo tinh thần này cho con cái trước hết là qua những bổn phận hằng ngày được giao cho chúng. Cần dạy các cháu biết vui vẻ chu toàn, dành ưu tiên cho lợi ích chung của gia đ́nh, sẵn ḷng gạt bỏ những thú vui chơi để chu toàn bổn phận. Tiếp đến, cha mẹ cần nêu gương cho con cái trong việc hy sinh v́ ích chung của Xă Hội và Giáo Hội, và nhắc bảo con cái theo hướng ấy.   

 

 

 

 

.12

ĐÀO TẠO TINH THẦN KỶ LUẬT
VÀ TỪ BỎ

“Rồi Đức Giê-su nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống ḿnh, th́ sẽ mất; c̣n ai liều mất mạng sống ḿnh v́ tôi, th́ sẽ cứu được mạng sống ấy. V́ người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính ḿnh hay là thiệt thân, th́ nào có lợi ǵ? Ai xấu hổ v́ tôi và những lời của tôi, th́ Con Người cũng sẽ xấu hổ v́ kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của ḿnh, của Chúa Cha và các thánh thiên thần” (Lc 9,23-25).

Trong giáo dục, ta cần giúp các cháu biết từ bỏ để sống theo tinh thần kỷ luật. Nói đơn sơ là biết bỏ ư riêng và mau mắn vâng lời.

Kỷ luật đầu tiên là những kỷ luật về sạch sẽ, ngăn nắp, thứ tự, đúng giờ.

Trước hết và trên hết, để các cháu thấm nhuần tinh thần từ bỏ, chính bậc cha mẹ cần nêu gương. Cần biết can đảm dứt bỏ những điều không tốt. Ngay cả trong những điều tốt, cũng cần biết dừng lại ở mức độ thực sự cần thiết, từ ư nghĩ, lời nói, việc làm đến sự sở hữu. Những ǵ vượt quá mức độ cần thiết, những cái thừa, ta cần t́m cách loại bỏ dần.

Văn minh tiêu thụ tạo ra rất nhiều nhu cầu giả. Càng biết từ chối những nhu cầu giả, ta càng thanh thóat hạnh phúc. Cần biết tự chủ, có chừng mực trong các thứ giải trí. Cần có tinh thần khó nghèo và siêu thoát trong việc sử dụng các tiện nghi vật chất: Chỉ dùng ở mức hết sức cần thiết, không lạm dụng.

Tập can đảm từ bỏ những điều không cần thiết, khởi sự từ những thứ linh tinh chẳng bao giờ dùng tới. Trong nhà có lắm đồ vật thừa choán mất chỗ của những đồ dùng cần thiết, gây mất trật tự, che lấp mất những cái cần thiết, khiến khi cần ta không t́m ra. Hăy can đảm gom những đồ vật dư thừa, cho người bán ve chai, hoặc đốt bỏ.

Những câu nói thừa, vừa làm vừa nói linh tinh, khiến ta thành lải nhải, người khác hết muốn nghe. Những cử chỉ thừa khiến người khác có cảm tưởng ta thiếu thành thật. Những việc thừa khiến người khác bực ḿnh. Việc thừa là việc của người khác, việc của lúc khác. Việc thừa cũng c̣n là những âu lo vô ích đủ thứ. Mỗi tối cần nh́n lại xem trong ngày có những lời nói và cử chỉ nào dư thừa, không cần thiết. Vất bỏ những đồ vật thừa, ta sẽ có nhiều chỗ cho những vật dụng cần thiết được ngăn nắp. Dẹp bỏ những lời thừa và việc thừa, ta sẽ có rất nhiều nghị lực và thời giờ để làm những việc cần làm.

Ta chỉ có thể dứt bỏ, khi biết dứt bỏ ngay lúc này, tại đây, nơi những điều trước mắt.

Cũng cần nhớ rằng sự dứt bỏ quan trọng nhất là dứt bỏ ư riêng. Lắm khi, ta bị lạc vào chủ quan và theo đuổi ư riêng thay v́ ư Chúa. Cần nhớ rằng trước mắt Chúa, vâng lời quư hơn của lễ. Chính đức tin, đức cậy và đức mến sẽ giúp ta đạt được sự từ bỏ tận cơi ḷng, sự thanh thoát và không màng.

 

.13

ĐÀO TẠO TINH THẦN PHỤC VU

“Gia đ́nh Kitô hữu được sinh động và được hướng dẫn bằng luật mới của Thần Khí và trong sự hiệp thông mật thiết với Giáo Hội là dân tộc vương đế, được mời gọi sống  việc “phục vụ” của ḿnh v́ t́nh yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Như Đức Kitô thực thi vương quyền của Người bằng cách hiến thân phục vụ con người, th́ người Kitô hữu cũng t́m được ư nghĩa đích thực của việc tham dự vào vương quyền của Chúa ḿnh bằng cách chia sẻ tinh thần và thái độ phục vụ đối với con người.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 63)

Khi cậu bé Saviô xin Thánh Don Bosco dạy con đường nên thánh, ngài trả lời:

Con đường nên thánh trẻ

Lấy vui vẻ làm đầu

Bổn phận nhớ chuyên sâu

Thực hành câu giúp ích.

Khi nhắc các cháu học hành, ta sẽ không nói phải học để kiếm sống nhưng cần nhấn mạnh học là để có thể phục vụ hữu hiệu hơn.

Ta phải tập cho các cháu biết phục vụ ngay trong bầu khí gia đ́nh. Các cháu cần biết chu toàn phần việc đă được giao để giúp cả nhà. Hơn thế nữa, v́ yêu thương cha mẹ và anh chị em, cháu c̣n mau mắn làm những việc ḿnh thấy cần làm, dù chưa ai nhắc bảo. Ta cũng cần dạy con cái biết lo cho phần rỗi của kẻ khác, biết mau mắn phục vụ khi trong xóm có tang chế hay có người gặp tai nạn rủi ro.

Cần dạy cho các cháu biết tiếp khách. Sau mỗi lần có khách, nên chỉ vẽ giúp các cháu rút kinh nghiệm. Nói chung là luyện phản xạ kính trọng người khác. Tốt dành cho khách, sạch nhường cho bạn. Luôn quan tâm tới nhu cầu người khác và mau mắn giúp đỡ. Biết nhường đường cho người khác khi sử dụng các phương tiện giao thông. Đó là những thói quen giúp các cháu ngày càng trở thành người có tư cách.

Ở số 37, Tông Huấn Gia Đ́nh viết: “Gia đ́nh là trường học đầu tiên, trường học căn bản về đời sống xă hội; như một cộng đồng yêu thương, gia đ́nh nhận ra rằng tự hiến ḿnh là qui luật hướng dẫn gia đ́nh và làm cho gia đ́nh tăng trưởng. Sự hiến ḿnh đang làm cho tương quan giữa đôi bạn với nhau được sinh động, chính là kiểu mẫu và nguyên tắc cho sự hiến ḿnh cần có giữa anh chị em trong nhà và giữa những thế hệ khác nhau đang cùng sống trong gia đ́nh. Sự hiệp thông và chia sẻ được thể hiện mỗi ngày tại gia đ́nh, trong những lúc vui mừng cũng như khó khăn, chính là khoa sư phạm cụ thể nhất và hữu hiệu nhất để làm cho trẻ em có thể hội nhập một cách tích cực, có trách nhiệm và phong phú vào trong khung cảnh lớn hơn của xă hội.

 đôi khi ta cảm thấy bất lực và khổ tâm v́, dù ta không muốn, ta đang thông truyền cho con cái tính ích kỷ của ta. Nhưng ta sẽ cố gắng hơn, chắc chắn ta cũng thông ban cho chúng ḷng tốt, nhờ vào sự thông cảm, tính kiên nhẫn và tinh thần sẵn sàng phục vụ của ta đối với con cái cũng như đối với mọi người.

.14

ĐÀO TẠO T̀NH BÁC ÁI
VÀ L̉NG HIẾU KHÁCH

Được lệnh truyền mới của t́nh yêu sinh động và nâng đỡ, gia đ́nh Kitô hữu tiếp đón, kính trọng, phục vụ mọi người, luôn luôn nh́n mọi người trong phẩm giá của họ như những ngôi vị và như con cái Thiên Chúa” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 64).

Việc đó phải được phát triển trong phạm vi rộng lớn của cộng đồng giáo xứ: nhờ đó, qua ḷng bác ái của gia đ́nh, Giáo Hội có thể mang một khuôn mặt thân thiện hơn, giúp mọi người t́m được ở đó một bầu khí huynh đệ và gia đ́nh.

Ḷng bác ái c̣n phải vượt quá ṿng huynh đệ giữa những người cùng một đức tin, bởi v́ “mọi người đều là anh em tôi”. Nơi mỗi người, nhất là người nghèo túng, yếu đuối, đau khổ và bị đối xử cách bất công, ḷng bác ái biết nhận ra khuôn mặt của Đức Kitô và một người anh em cần phải yêu mến và phục vụ.

Trong hạnh tích Thánh Đaminh Phạm Trọng Khảm (1780-1859), ta đọc thấy: “Khi bị bắt, cụ án Khảm đă gần 80 tuổi, vừa là tiên chỉ trong làng, vừa là hội viên ḍng ba, kiêm chức trùm họ trong giáo xứ. Mọi người đều công nhận cụ là người đạo đức, giàu ḷng bác ái và nhiệt t́nh trong các trách vụ. Các vị thừa sai, kể cả các giám mục cũng biết tiếng và từng đến trọ tại nhà cụ trong những ngày khó khăn. Trong giáo xứ, cụ cộng tác đắc lực với cha xứ trong việc điều hành tổ chức họ đạo. Với xóm làng, cụ là một mẫu người đức độ, quan tâm đến nhu cầu của mọi người, cả xác lẫn hồn, sẵn sàng chia sẻ của cải cho người nghèo khó và khích lệ mọi người can đảm trước cơn bách hại. Gia phả con cháu cụ ghi rằng: “Gia nhân phải kiếm kẻ khó vào ngồi chung th́ cụ mới ăn cơm.” (Thiên hùng sử, tr. 29)

Bản giúp trí nhớ giản dị cho việc đào tạo đức bác ái là kinh Thương người có mười bốn mối:

Thương xác bảy mối :

Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn.

Thứ hai  : Cho kẻ khát uống.

Thứ ba   : Cho kẻ rách rưới ăn mặc.

Thứ bốn : Thăm kẻ đau ốm cùng kẻ tù tội.

Thứ năm: Cho khách trọ nhà.

Thứ sáu : Chuộc kẻ làm tôi.

Thứ bảy : Chôn xác kẻ chết.

Thương linh hồn bảy mối :

Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người.

Thứ hai  : Mở dạy kẻ mê muội.

Thứ ba   : An ủi kẻ âu lo.

Thứ bốn : Răn bảo kẻ có tội

Thứ năm: Tha thứ cho kẻ khinh ghét ta.

Thứ sáu : Nhịn kẻ mất ḷng ta.

Thứ bảy : Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

.15

ĐÀO TẠO SỰ THÀNH THẬT

 “Anh em c̣n nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hăy trọn lời thề với Đức Chúa. C̣n Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, v́ trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, v́ đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, v́ đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, v́ anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” th́ phải nói “có”, “không” th́ phải nói “không”. Thêm thắt điều ǵ là do ác quỷ.” (Mt 5,33-37)

 Cụ Êlêazarô 92 tuổi bị tố cáo là người tin Chúa. Luật Cựu Ước cấm ăn thịt heo. Những người có cảm t́nh đề nghị cụ chỉ giả vờ ăn thịt heo thôi là sẽ được tha. Thế nhưng cụ nhất quyết không chịu giả vờ. Chuyện tương tự cũng đă xảy ra với Thánh Anrê Kim Thông. Quan Tổng Đốc thương xót tuổi già của ngài nên đă đề nghị: “Ông hăy bỏ đạo đi, cách thầm lén cũng được, rồi trở về gia đ́nh, xưng tội là xong, có thiệt tḥi ǵ đâu?” Thế nhưng ngài đă từ tốn trả lời: “Thạch tín là thuốc độc, uống vào sẽ chết, nhưng cũng có thuốc giải. Tuy vậy, không ai liều ḿnh uống thạch tín bao giờ. Việc chối đạo cũng thế”. Thế là ngài bị kết án lưu đày.

Để giúp cho con cái biết yêu mến sự thật, trước hết trong mọi công việc hằng ngày cha mẹ phải hết sức tôn trọng sự thật. Mọi lời nói và việc làm của cha mẹ đều phải luôn chân thật. Cha mẹ phải luôn luôn nói sự thật với con cái. Đừng bao giờ nói dối chúng, dù chỉ là dối đùa một chút xíu. Phải làm sao để trẻ em thấy có thể hoàn toàn tin lời cha mẹ. Nhờ đó, các em sẽ cởi mở với cha mẹ cách hồn nhiên, sẽ mạnh dạn bày tỏ và bàn hỏi: Các em sẽ sống thành thật và vâng lời.

Cần dạy các em biết thành thật khi làm bài cũng như khi chơi với bạn bè. Chúa Kitô là Sự Thật. Do đó, mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của người môn đệ Ngài phải luôn trong sáng, chân thật.

Cần giúp các em biết luôn sống trong cái nh́n của Chúa. Là những người con tự do của Thiên Chúa, luôn sống trong ánh mắt yêu thương của Ngài, các em sẽ tập cân nhắc phê phán để tự quyết định theo lương tâm của ḿnh, khi nào thấy cần hỏi ư kiến nhà giáo dục trước khi quyết định th́ mau mắn hỏi ngay.

Lớn lên trong sự thật, con cái chúng ta sẽ thực sự là những đứa con đầy tự do của Thiên Chúa, không khiếp nhược trước cuộc đời.

 

.16

ĐÀO TẠO SỰ KHIÊM NHƯỜNG

 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hăy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hăy mang lấy ách của tôi, và hăy học với tôi, v́ tôi có ḷng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. V́ ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11,28-30)

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, Thánh Phaolô cũng dạy: “Đừng làm chi v́ ganh tị hay v́ hư danh, nhưng hăy lấy ḷng khiêm nhường mà coi người khác hơn ḿnh” (Pl 2,1-3).

Điều thứ nhất trong kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” là “khiêm nhường chớ kiêu ngạo”, nghĩa là biết nhận ḿnh hèn mọn trước mặt Thiên Chúa, mọi sự đều nhờ bởi ơn Chúa, biết ơn Thiên Chúa và biết ơn mọi người, đồng thời biết chăm chỉ lắng nghe và vâng lời người trên, và biết kính trọng và yêu thương mọi người, trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội.

Noi gương Chúa Kitô, ta chọn phần thấp hèn, bé nhỏ, v́ “Ai tôn ḿnh lên, sẽ bị hạ xuống; c̣n ai hạ ḿnh xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23,12). Tránh đừng nói về những thành quả của ḿnh cũng như về những cái hay của gia đ́nh và ḍng họ ḿnh. Ham danh là một dạng rất tinh vi của kiêu ngạo. Chạy theo sự khen chê của người đời, ta sẽ dần dần xa Chúa.

“Ai muốn theo Ta, hăy từ bỏ ḿnh”. Nóng giận chính là không chịu từ bỏ ḿnh, và cũng là c̣n nô lệ cho sự kiêu ngạo. Người khiêm nhường luôn ôn tồn, nhỏ nhẹ, cử chỉ dịu dàng.

Khiêm nhường c̣n là biết nhận lỗi, biết chân thành cám ơn và xin lỗi.

Cần nhớ khiêm nhường khác với khiêm tốn. Khiêm tốn là làm ra vẻ nhún nhường bên ngoài, c̣n đức khiêm nhường Chúa dạy là khiêm nhường trong ḷng, là thật ḷng nh́n nhận ḿnh chẳng quan trọng ǵ, chẳng là già cả. Nếu ta có là ǵ th́ đều do ơn Chúa, nên chẳng có lư do nào mà tự măn, tự hào, chẳng có lư do nào để coi khinh người khác. Chính v́ thế, Thánh Nữ Têrêxa Avila định nghĩa rất chính xác: “Khiêm nhường là bước đi trong sự thật”.

 

.17

ĐÀO TẠO L̉NG YÊU MẾN LỜI CHÚA

Nhờ kết quả của thừa tác vụ giáo dục, qua chứng từ đời sống, cha mẹ là những người đầu tiên loan báo Tin Mừng cho con cái. Hơn nữa, khi cùng cầu nguyện với chúng, khi cùng với chúng lao ḿnh vào việc đọc Lời Chúa, và khi làm cho chúng sống thân mật trong thân thể Đức Kitô bằng việc khai tâm Kitô giáo, họ trở nên cha mẹ theo nghĩa trọn vẹn, nghĩa là không những họ sinh ra chúng theo sự sống phần xác mà c̣n theo cả sự sống mà nhờ sự đổi mới của Thần Khí tuôn trào từ thập giá và sự phục sinh của Đức Kitô.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 39)

Kinh thánh không chỉ đơn thuần là bộ sách do người ta viết ra, nhưng c̣n là Lời của Thiên Chúa. Chinh v́ thế Kinh thánh luôn có giá trị cho mọi người, mọi thời đại. Chính Chúa Thánh Thần đă tác động và soi dẫn cho những người Ngài chọn để họ tùy theo tài năng và cách thế riêng của ḿnh mà viết lên những điều Ngài muốn họ viết ra v́ ơn cứu độ chúng ta. Thế nên, Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa nói với con người bằng ngôn ngữ loài người.

Các nghị phụ Công đồng Vaticanô II thiết tha nhắn nhủ mọi Kitô-hữu: “Hăy năng đọc Thánh Kinh”, v́ như Thánh Giêrônimô nói, “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”.

Để giúp con em tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh như Công Đồng mong ước, nên liệu cho mỗi em có một quyển Thánh Kinh riêng. Nên chọn những quyển có in những phần dẫn nhập và chú thích v́ những phần này sẽ giúp cho ta rất nhiều khi đọc và học hỏi Thánh Kinh.

Hằng ngày nên dành ít phút để đọc Thánh Kinh và đọc theo một lịch tŕnh:

- Hoặc theo niên lịch phụng vụ được ghi trong lịch công giáo (các bài đọc của thánh lễ mỗi ngày).

- Hoặc theo tuần tự các sách trong quyển Thánh Kinh. Khi đọc đến sách nào, nên coi phần dẫn nhập của sách đó trước.

Tận dụng mọi cơ hội để học hỏi thêm về Thánh Kinh: qua lời giảng của linh mục trong thánh lễ, qua các lớp học hỏi về Thánh Kinh, qua đài, qua các sách, báo, phim ảnh về Thánh Kinh hoặc qua các buổi chia sẻ Lời Chúa với nhau.

Mỗi tối Thứ Năm, cả nhà nên cùng nhau t́m hiểu trước đoạn Tin mừng Chúa Nhật sắp tới.  T́m hiểu ư chính và bài học áp dụng, rồi kiểm điểm đời sống dưới ánh sáng đoạn Tin mừng vừa đào sâu. Dành ra ít phút thinh lặng và cầu nguyện để cho Lời Chúa thấm vào ḷng. Rồi chọn một câu chính yếu để sống cả tuần.

 

.18

ĐÀO TẠO TINH THẦN HỘI THÁNH

“Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành...nhưng c̣n nhằm giúp những người rửa tội trong khi họ được hướng dẫn để dần dần hiểu biết mầu nhiệm cứu rỗi, càng ngày càng ư thức hơn về hồng ân đức tin đă nhận lănh, biết cách thờ phượng Thiên Chúa Cha trong tinh thần và chân lư (x. Ga 4,23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công b́nh và thánh thiện của chân lư (Ep 4,22-24), và nhờ vậy, họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn, đạt tới sự sung măn của Đức Ki-tô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm Thể được tăng trưởng.” (Tuyên ngôn về giáo dục Ki-tô giáo, số 2)

Thánh Antôn Nguyễn Đích tử đạo ngày 12-8-1838. Con gái ngài là cô Maria Mến cung khai trước toà điều tra phong chân phước: “Bố tôi tên là Nguyễn Đích, quê ở Chi Long, huyện Nam Sang, tỉnh Nam Định. Ông bà nội tôi vốn có ḷng đạo đức, thấy xa nhà thờ có linh mục th́ lấy làm tiếc, nên dọn đến làng Kẻ Vĩnh, rồi bố tôi lập gia đ́nh ở đó.”

Về Thánh Tôma Nguyễn Văn Đệ, ta đọc thấy: “Ra đời trong một gia đ́nh công giáo tại làng Bồ Trang, tỉnh Thái B́nh năm 1811, v́ lư do sinh kế, anh Tôma Nguyễn Văn Đệ đă theo cha mẹ về xứ Kẻ Mốt (Bắc Ninh) và ở ngay gần nhà thờ. Lớn lên anh theo nghề may và được mọi người yêu chuộng. Anh rất nhiệt t́nh với việc trong xứ trong họ. Hầu hết cờ quạt và đồ trang hoàng trong nhà thờ và nhà xứ đều nhờ đến bàn tay khéo léo và sáng tạo của anh.” (Thiên hùng sử, tr. 446)

Tinh thần Hội Thánh trước hết là gắn bó với nhà thờ, với trung tâm sinh hoạt của cộng đoàn Dân Chúa và nhiệt t́nh đóng góp vào sinh hoạt giáo xứ theo khả năng của ḿnh. Tuy nhiên ta cần giúp các cháu có cái nh́n rộng hơn, quan tâm đến Giáo Phận của ḿnh và Giáo Hội Toàn Cầu. Cần giúp các cháu biết đồng cảm với Hội Thánh, qua những tin tức về sinh hoạt Dân Chúa tại giáo xứ, cũng như những nơi khác trong giáo phận, trên đất nước Việt Nam và trên toàn thế giới.

 

.19

ĐÀO TẠO TINH THẦN PHỤNG V

Như Công Đồng Vaticanô II đă tái xác nhận thật rơ giữa kinh nguyện của Giáo Hội và kinh nguyện của mỗi tín hữu có một tương quan sâu xa và sống động. Bởi vậy, mục đích quan trọng của kinh nguyện trong giáo hội tại gia là bước dẫn nhập tự nhiên cho trẻ em đi vào kinh nguyện phụng vụ của toàn thể Giáo Hội, vừa chuẩn bị chúng đi vào kinh nguyện phụng vụ vừa mở rộng việc kinh nguyện này vào trong lănh vực của đời sống cá nhân, gia đ́nh và xă hội. Do đó cần phải có sự tham dự của mọi thành phần trong gia đ́nh Kitô hữu vào bí tích Thánh Thể, nhất là ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, cũng như tham dự vào các bí tích khác, cách riêng là bí tích khai tâm Kitô giáo cho trẻ em.

Để chuẩn bị và kéo dài ngay tại nhà ḿnh việc phụng tự được cử hành ở nhà thờ, ngoài kinh nguyện sáng tối, các gia đ́nh cũng được tha thiết khuyên bảo nên đọc và suy niệm Lời Chúa, chuẩn bị cho các bí tích, tôn sùng và tận hiến cho Trái Tim Chúa Giêsu, sùng kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a với những h́nh thức khác nhau, cầu nguyện khi ăn cơm và thực hành các việc đạo đức b́nh dân”. (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 61)

Thánh Nữ Anê Lê Thị Thành tử đạo ngày 12-7-1841. Khi con bà là cô Lucia nụ đến thăm trong ngục, bà khuyên: “Con hăy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá Chúa đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước thiên đàng.”

Để giúp con cái yêu thích tham dự thánh lễ, cha mẹ cần tập cho chúng quen đi lễ từ nhỏ, thánh lễ Chúa Nhật, và nếu được, cả thánh lễ ngày thường. Hơn nữa, cần chỉ dạy các cháu biết chuẩn bị thánh lễ Chúa Nhật từ những ngày cuối tuần, từ giặt ủi quần áo, cắt móng tay, cho đến đọc trước bài Tin Mừng Thánh Lễ. Nếu được, vào tối Thứ Năm, cả nhà cùng đọc Tin Mừng Chúa Nhật sau đó và cùng chia sẻ. Cũng cần nhắc nhở về tác phong tham dự thánh lễ. Để giúp các cháu ư thức luật kiêng việc xác ngày Chúa Nhật, cần nhắc nhở mọi người trong nhà thu xếp làm xong mọi việc vào ngày Thứ Bảy để Chúa Nhật có thể nghỉ ngơi. Khi ḥan cảnh cho phép, thỉnh thoảng nên tổ chức cho cả nhà đi chơi hoặc đi thăm bà con vào ngày Chúa Nhật.

Hằng tháng, cần nhắc các cháu xưng tội. Nhắc cho các cháu khi bắt đầu một mùa phụng vụ mới và bố trí sinh họat gia đ́nh theo tinh thần mùa phụng vụ, như dọn hang đá, ăn chay kiêng thịt, viếng nhà thờ, viếng nghĩa trang… Mỗi lần có thể được, nên thu xếp để cả nhà cùng tham dự phụng vụ với nhau, và nhiều sáng kiến khác như thế.

  Ở số 21, Tông Huấn về Gia Đ́nh c̣n nhắc ta rằng: “Cách riêng việc tham dự vào bí tích giao ḥa và bàn tiệc Ḿnh Thánh Chúa Kitô sẽ đem lại cho gia đ́nh Kitô hữu ơn sủng cần thiết và tinh thần trách nhiệm tương xứng để thắng vượt tất cả mọi chia rẽ, bước tới sự hiệp thông đích thực và trọn vẹn mà Thiên Chúa muốn, và như thế là đáp lại nỗi ước mong nồng nàn của Chúa là “xin cho tất cả được nên một” (Ga 17,21).

 

 

.20

ĐÀO TẠO TINH THẦN TRUYỀN GIÁO

 

“Tương lai việc truyền giảng Tin mừng tuỳ thuộc phần lớn nơi Hội thánh tại gia. Sứ  mạng tông đồ ấy của gia đ́nh bắt nguồn từ phép rửa tội và đă nhận được nơi bí tích hôn phối một sức đẩy mới để truyền đạt đức tin, để thánh hóa và biến đổi xă hội hiện tại theo ư Thiên Chúa” ((Tông Huấn về Gia Đ́nh, số 52)).

Đầu thập niên 1980, Giáo Hội Công Giáo Nam Triều Tiên đưa ra một chiến dịch truyền giáo, mời gọi mỗi gia đ́nh Công Giáo t́m cách đưa v ề cho Chúa một người. Chiến dịch đă đạt kết quả cao. Năm 2010, dân số Công giáo tại Nam Triều Tiên đă vượt hơn 5,4 triệu người - tức khoảng 11% dân số. Hiện nay tỷ lệ người Công giáo so với dân số Nam Triều Tiên đă cao hơn tỷ lệ người Công giáo so với dân số toàn quốc tại Việt Nam.

Điều ǵ sẽ xảy ra cho Giáo Hội Việt Nam nếu mỗi năm mỗi gia đ́nh đem lại cho Chúa một tín hữu mới?

 Hội thánh đă được Chúa thiết lập làm dụng cụ cứu rỗi nên chỉ ở trong Hội thánh mới có những phương tiện hữu hiệu cho việc cứu rỗi như các bí tích, lời giảng huấn, sự hướng dẫn, chỉ ở trong Hội thánh người ta mới được đón nhận trọn vẹn Chúa Thánh Thần, được kết hợp với Đức Kitô là Đầu và được nên con cái tự do của Thiên Chúa Cha. Hội thánh cho con người cơ hội và giúp con người điều kiện để nắm chắc được sự cứu rỗi. Chính v́ thế, mọi phần tử đă gia nhập Hội thánh đều được kêu gọi lưu tâm lo lắng giúp anh chị em ḿnh gia nhập Hội Thánh là Dân Thiên Chúa để được cứu rỗi, được nên thánh.

Có lẽ đa số gia đ́nh công giáo c̣n tiêu cực trong việc truyền giáo. Nhiều gia đ́nh công giáo sống rất tốt, được bà con người lương ở lối xóm quư mến nể phục, thế nhưng dường như họ ngại nói về Chúa Giêsu, không dám nói hoặc không biết cách nói.

Người công giáo thường ngạc nhiên trước sự nhiệt thành của anh chị em Tin Lành. Không những nhiệt thành, họ c̣n chăm học hỏi Lời Chúa và học cách truyền giáo rất kỹ lưỡng để có khả năng rao giảng Tin mừng. Đa số các gia đ́nh Tin Lành đều biết cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. Đó là một tấm gương đáng cho người công giáo suy nghĩ. Ước ǵ mỗi gia đ́nh công giáo cũng là một gia đ́nh truyền giáo, để đáp ứng điều Hội thánh mong đợi.

 

 

.21

ĐÀO TẠO T̀NH GIA Đ̀NH

Theo thánh nữ Têrêxa Chúa Giêsu, ta có thể nói: Yêu thương biến gia đ́nh thành một góc thiên đường.

Gia đ́nh, được thiết lập do t́nh yêu và được sinh động cũng do t́nh yêu, là một cộng đồng các ngôi vị: đôi bạn là nam và nữ, cha mẹ và con cái, họ hàng. Bổn phận đầu tiên của gia đ́nh là trung thành sống thực tại của sự hiệp thông, trong một cố gắng bền bỉ nhằm thăng tiến một cộng đồng đích thực gồm các ngôi vị. Nguyên lư nội tại, sức mạnh thường xuyên và mục đích cuối cùng của một sức mạnh như thế chính là t́nh yêu: Nếu thiếu t́nh yêu, gia đ́nh không phải là một cộng đồng các ngôi vị; th́ cũng thế, không t́nh yêu, gia đ́nh không thể sống, lớn lên và tự hoàn thiện xét như một cộng đồng các ngôi vị.  (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 18).

T́nh yêu giữa người nam và người nữ trong hôn nhân, và nói rộng hơn, t́nh yêu thương giữa các phần tử trong cùng một gia đ́nh: giữa cha mẹ và con cái, giữa các anh chị em, giữa tất cả bà con họ hàng, được linh hoạt và nâng đỡ do một sức năng động từ bên trong đưa dẫn gia đ́nh về một sự hiệp thông càng lúc càng sâu xa và đậm đà hơn, làm nền tảng và nguyên lư cho cộng đồng hôn nhân và gia đ́nh.

Nói cách đơn sơ, sự hiệp thông nói đây chính là t́nh gia đ́nh. Phương tiện luôn sẵn có cho ta để đào tạo t́nh gia đ́nh chính là các bữa ăn và giờ giải trí hằng ngày. Cần liệu sao để cả nhà có thể ăn chung với nhau. Trong bữa ăn, có thể nhắc nhở nhưng tránh đừng rầy la, đay nghiến. Nên khen ngợi, bông đùa, quan tâm hỏi han việc làm của cha mẹ, việc học của con cái. Cách riêng là quan tâm đến những ngày kỷ niệm: sinh nhật hoặc bổn mạng của từng người. Trong giờ ăn, nên tắt TV để có thể lắng nghe nhau và tṛ chuyện thân mật. Ăn xong, nên đọc kinh tối liền. Một tuần vài lần, nên có phần giải trí sau giờ kinh tối.

T́nh gia đ́nh là t́nh cảm giữa cha mẹ với con cái, giữa con cái với cha mẹ và giữa anh chị em với nhau.

Để đào tạo t́nh gia đ́nh cho con cái, chính vợ chồng phải thuận hoà yêu thương trong một sự hiệp nhất không thể phân ly. Tông Huấn viết tiếp:

Sự hiệp thông vợ chồng ăn rễ sâu từ trong sự bổ túc tự nhiên giữa người nam và người nữ, và được nuôi dưỡng nhờ ư chí của đôi bạn đích thân muốn chia sẻ với nhau toàn thể dự phóng cuộc đời của họ. Họ chia sẻ với nhau tất cả những ǵ họ có và chính bản thân họ

“Sự hiệp thông vợ chồng được đánh dấu không những do sự duy nhất, nhưng c̣n do tính chất bất khả phân ly của nó: Sự kết hợp mật thiết, việc hai người tự hiến cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đ̣i hỏi họ kết hợp với nhau cách bất khả phân ly” (19-20).

.22

ĐÀO TẠO T̀NH GIA TỘC

Sự hiệp thông vợ chồng tạo nên nền tảng trên đó xây dựng được sự hiệp thông rộng lớn hơn trong gia đ́nh, giữa cha mẹ và con cái, giữa những anh chị em trong nhà với nhau, giữa những người bà con gần và những thành phần khác của gia đ́nh.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 21)

Trong số 117 Hiển Thánh Việt Nam, có 3 vị cùng một gia tộc. Thánh Giuse Phạm Trọng Tả là anh em thúc bá với Thánh Đaminh Phạm Trọng Khảm. Con trai đầu của Thánh Khảm là Thánh Luca Phạm Trọng Th́n. Cả gia tộc d́u nhau trên đường nên thánh.

Trong sinh hoạt gia đ́nh Việt Nam, những dịp hồn nhiên và thuận lợi để đào tạo t́nh gia tộc là tết nguyên đán và những ngày giỗ. Những gặp gỡ, những bữa ăn trong những ngày này là dịp để mọi người sống t́nh hiệp thông không những giữa những người sống mà c̣n cả giữa người sống và những người đă khuất.

Tết Nguyên đán là dịp sum họp gia đ́nh, kính nhớ tổ tiên và thăm viếng nhau gia tăng t́nh thân ái. Cần loại bỏ những chi tiết phong tục quá rườm rà cũng như những ǵ đi ngược với Tin mừng, và lưu ư phát huy những ǵ tốt đẹp. Khởi đầu là việc dọn tất niên. Từ giữa tháng chạp là thời gian rất thuận tiện để mỗi gia đ́nh tổng kết một năm sinh hoạt. Cả cha mẹ và con cái sẽ cùng nhau làm xong những việc cần thiết c̣n đọng lại; tổng kết chi thu, thanh toán nợ nần; tổng kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc một năm qua.Tất cả cần xong trước ngày ăn bữa tất niên. Bữa ăn này được coi như để kết toán mọi chuyện: c̣n ǵ phải xin lỗi nhau hoặc góp ư xây dựng đều nói hết trong dịp này, để rồi ngày đầu năm sẽ không c̣n phải nhắc ǵ đến chuyện cũ, chỉ chúc tuổi nhau thật vui vẻ.

Dịp tết Nguyên đán, trong những gia đ́nh theo đúng tinh thần Việt Nam, ẩn dưới những niềm vui rộn ră đầu xuân là cả một thực tại linh thiêng trầm mặc đầy ắp không gian: Cơi hữu h́nh và cơi vô h́nh đan dệt vào nhau, ông bà tổ tiên đă khuất như thể đang có mặt giữa con cháu một cách thân thiết, gần gũi, linh thiêng và đầy an ủi. Có được bầu khí ấy là nhờ các nghi lễ rất nghiêm túc của phụng tự gia đ́nh. Từ buổi chiều cuối năm đến chiều mùng ba Tết là một khoảng thời gian dành riêng để tưởng nhớ gia tiên cách thật sâu đậm, và để cho tâm hồn lắng đọng trong niềm cảm mến biết ơn.

Sự sum họp gia đ́nh buổi sáng đầu năm rất quí giá. Thánh lễ ở nhà thờ xong, mọi người về nhà ngay, cùng nhau cử hành lễ gia tiên. Sau lễ gia tiên, các cháu mừng tuổi ông bà, con cái mừng tuổi cha mẹ, mọi người mừng tuổi nhau. Cũng cần tế nhị tôn trọng sự thân mật của các gia đ́nh khác, đừng vội đến nhà người khác ngay sáng sớm mùng một tết.

Bữa ăn giỗ là để phát huy t́nh cảm gia đ́nh và gia tộc, cho nên từ chương tŕnh đến cách sắp xếp chỗ ngồi, cần làm sao để cả người lớn và trẻ con đều tham dự tích cực, chan hoà trong t́nh hiệp nhất thân mật. Do đó, nên chú trọng hơn tới nội bộ gia tộc. Nếu mời vài người khách th́ nên liệu sao để sự hiện diện của họ không ngăn cản sự thân mật giữa mọi người trong gia tộc.

Việc cầu nguyện trong ngày giỗ vừa là để dâng lời cảm tạ Chúa đă giải thoát các bậc tổ tiên, đưa về hưởng nhan Chúa, vừa là để cầu xin Chúa sớm hoàn thành việc thanh luyện cho những người đă khuất c̣n vướng mắc hậu quả của tội lỗi.

.23

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐẠO HIẾU

Truyền thống xưa nay của Giáo Hội vẫn quen đón nhận từ nền văn hóa các dân tộc những ǵ thích hợp để diễn tả những phong phú vô tận của Đức Kitô cách tốt hơn. Và chỉ với sự góp sức của mọi nền văn hóa, những phong phú ấy mới có thể càng lúc càng bộc lộ rơ hơn và Giáo Hội mới có thể tiến tới sự hiểu biết ngày càng trọn vẹn và sâu sắc hơn về chân lư mà Chúa đă ban trọn cho Giáo Hội.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 10)

Nét nổi bật trong việc hội nhập văn hoá của Giáo Hội Việt Nam là truyền thống Đạo Hiếu. Từ năm 1965, chúng ta đă tiếp nhận lại việc thờ cúng tổ tiên theo cung cách Việt Nam. Đến nay sinh hoạt này đă thành b́nh thường và tạo được thiện cảm nơi bà con lương dân.

Qua chiến tranh ly loạn, gia phả sổ sách mai một, người thân xa lạc nhau. Ngày nay, khắp nơi dấy lên phong trào t́m cội nguồn, t́m ḍng họ. Người Công giáo cần chạy đua với anh chị em lương dân trong việc giáo dục t́nh gia đ́nh và gia tộc. Sự nhập cuộc này sẽ tô đậm thêm mối thiện cảm vừa nói, hơn nữa, c̣n giúp ta cơ hội để đem ánh sáng Tin mừng xóa tan bóng tối mê tín đang có nguy cơ trở lại trầm trọng.

Từ đường không c̣n, mà nếu c̣n cũng khó có người chăm sóc, v́ lắm trường hợp cả gia đ́nh trưởng tộc cũng đă lập nghiệp ở phương xa. Ruộng hương hoả không c̣n, mà nếu c̣n cũng khó đem lại đủ lợi tức cho sinh hoạt gia tộc. Để giải quyết những khó khăn ấy, nhiều gia tộc đă có sáng kiến thực hiện sinh hoạt phí hương hoả ngắn hạn và từ đường lưu động. Trong bữa ăn họp mặt gia tộc, sẽ quyên tiền sinh hoạt phí hương hoả cho ngày gia tộc lần sau và mời gọi đăng kư phụ trách bữa ăn họp mặt lần sau. Gia đ́nh t́nh nguyện phụ trách ngày gia tộc lần sau sẽ nhận số tiền sinh hoạt phí này để lo xin lễ và tổ chức bữa ăn họp mặt. Gia đ́nh này cũng nhận di ảnh và bài vị các tổ phụ đem về lo hương khói ở nhà ḿnh. Như thế, gia đ́nh này cũng đóng vai thủ từ và nhà họ trở thành từ đường cho đến dịp giỗ lần sau. Hằng ngày, mọi người trong gia tộc sẽ cầu nguyện cho gia đ́nh thủ từ. Gia đ́nh này sẽ ở trong trái tim của cả gia tộc và cả gia tộc nên quan tâm thăm hỏi cách đặc biệt, tới lui và nâng đỡ họ về tinh thần cũng như vật chất. Các gia đ́nh con và cháu trong gia tộc, nam cũng như nữ, đều có thể đăng kư chịu trách nhiệm tổ chức ngày gia tộc. Giải pháp này cũng đem lại an ủi cho những gia đ́nh lẻ loi xa xứ, v́ vẫn có cơ hội t́nh nguyện phụ trách ngày truyền thống gia tộc. Chắc hẳn việc này đ̣i phải hy sinh cố gắng nhưng là một hy sinh rất đích đáng, đạt được hai chiều kích của Đạo Hiếu, vừa kính nhớ biết ơn Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ vừa xây đắp sự cảm thông trong Gia Đ́nh và Gia Tộc. Kinh nghiệm cho thấy những người con có ḷng với t́nh Gia Tộc luôn được Thiên Chúa chúc lành, được tiên nhân bầu cử, phù hộ và cũng được mọi người trong Gia Tộc thương mến.

 

24.

TÔN TRỌNG CON CÁI

 

Giữa ḷng gia đ́nh như một cộng đồng các ngôi vị, cần phải dành một sự chú ư đặc biệt cho đứa con, bằng cách phát huy ḷng quí chuộng sâu xa đối với phẩm giá ngôi vị của nó, cũng như phát huy sự kính trọng thật lớn đối với những quyền lợi của nó, những quyền lợi mà người ta phải phục vụ một cách quảng đại. Đó là điều phải dành cho tất cả mọi đứa con, mà quan trọng nhất là đứa con nhỏ tuổi hơn, đang cần đủ mọi thứ, hoặc đối với một đứa con bị đau yếu, đau khổ hay tàn tật.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 26)

Mỗi người con là một h́nh ảnh của Thiên Chúa, thế nhưng có những người không biết tôn trọng con cái. Họ mắng chửi con cái thậm tệ và nguyền rủa con cái bằng những lời thô bỉ. Trong giáo dục, chúng ta cần biết tôn trọng con cái, v́ các cháu là con của Thiên Chúa trước khi là con của anh chị em. Chính Thiên Chúa trao gởi con cái cho anh chị em nuôi dạy.

Có những phụ huynh vẽ ra trong đầu một khuôn mẫu về đứa con của họ, rồi t́m mọi cách g̣ ép nó theo khuôn mẫu ấy. Như thế là thiếu tôn trọng con cái và không phải là giáo dục. Giáo dục không phải là uốn nắn con em theo h́nh ảnh ḿnh muốn cho nó nhưng là chú ư khám phá xem Thiên Chúa muốn ǵ trên con em ḿnh để giúp nó phát triển như Ngài muốn.

Khi con cái c̣n bé tí xíu, chúng cần cha mẹ bảo trợ và âu yếm. Nhưng sẽ tới một thời gian sớm hơn ta tưởng chúng đi t́m con người riêng trong cách xử sự và cả trong vấn đề đạo giáo nữa. Thời kỳ ấy sẽ làm cho cả cha mẹ lẫn con cái phải khổ tâm, nhưng bậc cha mẹ sẽ biết xóa ḿnh đi trước nhân cách của đứa con đang lớn lên, và t́m cách giúp con cái đáp lại tiếng gọi của Chúa theo cách của nó, chứ không rập theo cách của cha mẹ. Bậc cha mẹ nhớ rằng, dù không nói ra, đứa con sẽ rất khâm phục cha mẹ, nếu họ sống đức tin với ḷng xác tín, mà không cưỡng ép chúng làm những việc đạo đức như họ. Ước ǵ các gia đ́nh Kitô giáo có được một bầu khí vừa che chở vừa cởi mở, trong đó, con cái cảm thấy được tôn trọng và nh́n thấy nơi cha mẹ những tấm gương sáng về ḷng tốt, ḷng chung thủy, t́nh thân mật, ḷng biết ơn, tinh thần trách nhiệm và cần cù làm việc, tất cả phản ánh một đức tin sâu xa.

Chính v́ thế, cũng trong Tông Huấn Gia Đ́nh, ở số 21, chúng ta đọc thấy: “Yếu tố căn bản tạo để nên sự hiệp thông trong gia đ́nh, chính là sự trao đổi có tính cách giáo dục giữa cha mẹ và con cái, làm cho mỗi người đều có thể cho đi và nhận lại. Qua t́nh yêu, sự kính trọng và vâng lời đối với cha mẹ, con cái mang lại phần đóng góp đặc biệt và không thể thay thế được của chúng cho việc xây dựng một gia đ́nh thật sự nhân bản và Kitô. Điều đó sẽ dễ dàng hơn cho chúng nếu các bậc cha mẹ thực hành nghiêm chỉnh quyền bính của họ như một tác vụ thật sự hay đúng hơn, như một việc phục vụ nhắm tới lợi ích nhân bản và Kitô của con cái. Đặc biệt hơn, như một việc phục vụ nhằm làm cho con cái đạt được một sự tự do thật sự có trách nhiệm, nếu chính các cha mẹ cũng luôn giữ được một ư thức bén nhạy về hồng ân mà họ không ngừng nhận được từ nơi con cái họ.

 Trong giáo dục, tôn trọng con cái có nghĩa là trở nên người bạn của con cái ḿnh.

 

.25

LO CHO CON CÁI HỌC GIÁO LƯ

“Việc dạy giáo lư trong gia đ́nh đi trước, đi kèm và phong phú hoá mọi h́nh thức khác của việc dạy giáo lư. Ngoài ra, nơi nào luật lệ chống tôn giáo chủ ư cản trở việc giáo dục đức tin, nơi nào chủ nghĩa thế tục lan tràn, khiến không thể có tăng trưởng tôn giáo đích thực trong thực tế, th́ Hội Thánh nhỏ tức là gia đ́nh trở thành môi trường độc nhất trong đó trẻ nhỏ và thanh niên có thể theo học giáo lư chân chính. V́ thế, các cha mẹ kitô hữu phải hết sức cố gắng chuẩn bị để đảm nhận vai tṛ làm giáo lư viên cho chính con cái ḿnh và để thực hiện bổn phận ấy với một ḷng nhiệt thành không mệt mỏi.” (Tông Huấn về việc Dạy Giáo Lư, số 68 và 39)

“Từ tuổi thơ ấu cho đến khi bắt đầu tuổi trưởng thành, việc dạy giáo lư trở nên một trường học thường xuyên về đức tin và theo sát những giai đoạn trọng yếu của cuộc đời, như một hải đăng soi sáng đường đi của thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên.”

Thánh nữ Anê Lê Thị Thành, 60 tuổi, tuẫn đạo ngày 12-7-1841. Khi giáo quyền thẩm vấn lập hồ sơ phong thánh, cô Lucia Nụ, con gái út của ngài, đă kể về mẹ ḿnh rằng: “Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. Chính người dạy chúng ta đọc chữ và học giáo lư, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Người không để chúng tôi biếng nhác việc xưng tội. Khi chúng tôi lơ là, người thúc giục chúng tôi bằng được mới thôi. Người cho chúng tôi nhập hội Con Đức Mẹ và vào ban thiếu nữ thưa kinh ở nhà thờ.” (Thiên hùng sử, 213)

Thánh Phanxicô Trần Văn Trung, 33 tuổi. Anh tuyên xưng đức tin và bị giam trong ngục. Đứa con gái nhỏ của anh là Catarina Thông đến thăm và được phép ở lại giúp cha một tháng. Thế nhưng nghe tin ở xứ nhà có lớp giáo lư, anh đă bắt nó phải về để theo học giáo lư. (Thiên hùng sử, tr. 308)

Tiếp nối tấm gương những bậc thánh phụ huynh như thế, các bậc cha mẹ công giáo ngày nay cần quan tâm đến việc học giáo lư của con em. Ở thành phố, trẻ em lắm khi phải đi học thêm quá nhiều; ở miền quê, nhiều em phải phụ cha mẹ lo việc nhà và việc đồng áng. Thế nhưng, ư thức trách nhiệm của ḿnh, bậc làm cha làm mẹ cần biết dành mọi ưu tiên cho việc học giáo lư của con em, chủ động giúp con em thu xếp thời giờ để có thể đi học giáo lư thường xuyên đều đặn.

.26
CHĂM SÓC VIỆC HỌC CỦA CON EM

“Khắp nơi đều cố gắng đẩy mạnh công cuộc giáo dục mỗi ngày một hơn. Trước con số học sinh gia tăng mau chóng, người ta gia tăng trường ốc và cải tiến học đường, thiết lập thêm những cơ sở giáo dục khác. Các phương tiện giáo dục và giảng huấn được canh tân dựa vào những kinh nghiệm mới. Mặc dù đă có nhiều nỗ lực lớn lao để đem lại những lợi ích trên cho mọi người, nhưng vẫn c̣n rất nhiều trẻ em và thanh thiếu niên chưa được hưởng sự huấn luyện căn bản và biết bao người khác vẫn c̣n thiếu một nền giáo dục thích hợp để phát huy chân lư và bác ái.” (Lời mở đầu của Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo).

Giúp được cho con em biết ham học là đă tạo được một thuận lợi rất lớn cho việc giáo dục toàn diện. Chỉ cần con em hiếu học là cha mẹ đă đỡ lo nhiều. Muốn vậy, cha mẹ cần dành thời giờ quan tâm tới việc học của con cái.

Trước hết cần giúp các cháu nắm vững mục đích việc học. Thánh Bênađô nói: “Người hiếu kỳ học để mở mang kiến thức; người kiêu ngạo học chỉ để nâng cao địa vị trong xă hội; c̣n người mến Chúa th́ học để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho phần rỗi của ḿnh và tha nhân”.

Như thế, đối với người Kitô hữu, học là để nên người và để phục vụ hữu hiệu. Do đó, cần tránh thái độ học chỉ để đối phó với thi cử, nhưng cần học kỹ, học rộng và biết cân nhắc phê phán để nắm vững sự thật. Cần suy nghĩ dựa trên thực tế đời thường để gắn liền sự học với cuộc sống và con người.

Cũng cần giúp các cháu biết cách để học cho kết quả.

1. Muốn học tập kết quả, phải bền chí. Tâm trí phải làm việc tối đa để t́m hiểu cặn kẽ những điều chưa hiểu. Học là việc khó nhưng nhớ đến thành quả tốt đẹp mai sau, ta sẽ có nghị lực.

2. Ưu tiên cho việc học tập, biết gác lại mọi thú tiêu khiển, những chuyện vặt vănh để tập trung vào việc học.

3. Ngày nào học xong bài ngày ấy. Khi phải làm nhiều bài tập ở nhà, cần chia thời gian làm bài ra nhiều lúc để tránh t́nh trạng dồn dập, nhồi nhét.

4. Ngăn nắp thứ tự.

5. Biết cách đọc sách.

6. Bắt đầu một môn học, cần nắm vững đối tượng, mục đích và phương pháp, tức là môn học ấy nhằm t́m hiểu những ǵ, giúp ta phát huy tài năng nào và phải học môn ấy cách nào mới kết quả tốt.

7. Xem trước nội dung bài thầy sẽ giảng hôm sau.

8. Ghi lại những điểm cần thiết khi nghe giảng. Nên chia tập vở thành hai phần: Phần tự ghi chú và phần ghi chép những lời thầy cô giảng để dễ dàng ôn bài cả hai phần.

9. Mạnh dạn phát biểu, nêu thắc mắc: Nếu có điểm ǵ chưa hiểu, nên xin thầy cô giảng lại ngay.

10. Mỗi tối, xem lại bài đă nghe giảng trong ngày, viết lại các ư chính và cố gắng ghi nhớ.

11. Học nhóm: Khi học nhóm, các bạn có điều kiện để thảo luận, t́m hiểu nhiều cách giải bài tập khác nhau và giảng cho nhau.

12. Tự ra đề và làm bài kiểm tra: Nên “đánh dấu đỏ” những điểm quan trọng có thể trở thành đề thi, tự đặt câu hỏi kiểm tra và tự giải các câu hỏi ấy, nhưng vẫn phải học toàn bộ bài, tránh học tủ.

13. Làm thật nhiều bài tập: Ngoài những bài tập thầy cô cho, bạn cứ làm thêm nhiều bài tập khác.

14. Bài làm phải sạch sẽ: Hai bài giống nhau, bài nào sạch đẹp hơn thường gây ấn tượng tốt cho người đọc hơn.

 

.27

GIEO MẦM ƠN GỌI

“Tôi xin gửi đến các gia đ́nh một lời kêu gọi đặc biệt: Xin các bậc cha mẹ, cách riêng những người làm mẹ, hăy quảng đại hiến dâng cho Thiên Chúa những người con được Chúa mời gọi tiến tới chức linh mục. Xin hăy vui mừng cộng tác vào tiến tŕnh ơn gọi của con cái. Tôi đoan chắc rằng, bằng cách ấy họ sẽ được cảm nghiệm hạnh phúc của Đức Trinh Nữ Maria: “Người được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và hoa quả ḷng người cũng được chúc phúc” (Lc 1,42).

“Với những người trẻ hôm nay, tôi muốn nhắn nhủ điều này: Các bạn hăy ngoan nguỳ hơn hữa trước ơn Chúa Thánh Thần; hăy để cho vang vọng lên trong ḷng các bạn những nỗi mong chờ lớn lao của Giáo Hội và của nhân loại. Đừng ngại mở rộng cơi ḷng trước tiếng gọi của Chúa Kitô. Hăy khám phá ra ánh mắt yêu thương của Chúa Giêsu đang hướng thẳng về phía các bạn và hăy hăng hái đáp lại lời Ngài đang đề nghị các bạn nối gót theo Ngài cho đến cùng.” (ĐGH Gioan Phaolô II, Tông Huấn “Những Mục Tử Như Ḷng Mong Ước”, số 82)

Kể về chân phước Anrê Phú Yên, cha Đắc Lộ xác nhận: “Đúng 3 năm trước khi chết, mẹ thầy dẫn thầy đến cho tôi, và tôi được hạnh phúc rửa tội cho thầy”. Được rửa tội 3 năm trước khi chết, tức là năm 1641. Chính năm nầy, vào ngày Đại lễ Phục Sinh (31-03-1641) lần đầu tiên cha Đắc Lộ đến Phú Yên, tàu cập bến tại cửa biển Bà Đài, tức Vịnh Xuân Đài Ngày nay. Cha Đắc Lộ được quan Trấn Biên tiếp đón niềm nở, cha lưu lại đây 2 tháng thăm viếng mục vụ cộng đoàn tín hữu Phú Yên. Trước khi rời Phú Yên, cha Đắc Lộ đă rửa tội cho 90 người tại nhà nguyện trong Dinh Trấn, Anrê Phú Yên là một trong 90 tân ṭng nầy.

Năm 1642 cha Đắc Lộ có dịp đến Phú Yên lần thứ hai, Anrê Phú Yên ngỏ lời với cha Đắc Lộ, xin theo cha giúp việc truyền giáo. Lúc đầu cha Đắc Lộ từ chối v́ Anrê c̣n trẻ, hơn nữa trong thời buổi cấm đạo việc di chuyển của đoàn truyền giáo có đông người là điều nên tránh. Tuy nhiên rồi cha đă phải thua sự kiên tŕ nài nỉ của Anrê và của người mẹ đạo đức, đến không để van xin cho con út quư yêu của ḿnh được ‘ngồi bên tả hay bên hữu’ mà đến để van xin được đồng hành yêu mến và làm chứng cho Chúa Giêsu. Thế là năm 1642, Anrê khăn gói lên đường với cha Đắc Lộ về Hội An, theo học trường “Thầy giảng Hội An” do cha thành lập.

Hoàn cảnh xă hội ngày nay tạo ra một thực tế là phần đông các gia đ́nh đều ít con, do đó các gia đ́nh thường ngại dâng hiến con cái ḿnh cho Chúa. Thế nhưng gia đ́nh nào quảng đại với Chúa th́ sẽ cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa không bao giờ chịu thua sự quảng đại của chúng ta. Ước ǵ ngay khi con cái c̣n nhỏ, cha mẹ đă giúp chúng cảm nghiệm được nhu cầu lớn lao của Giáo Hội và nhân loại, cảm nghiệm được tiếng gọi thúc bách của Chúa Cứu Thế. Cả khi các cháu bắt đầu lớn, cũng đừng ngần ngại gợi ư các cháu dâng ḿnh cho Chúa. Gieo được ư thức ấy vào ḷng các cháu, dù chúng không trở thành linh mục hay tu sĩ th́ ít ra chúng cũng trở  nên những người có tấm ḷng, những người tốt.

 

.28

VIỆC CHUẨN BỊ HÔN NHÂN

Việc chuẩn bị hôn nhân phải được xem xét và thực hiện theo một tiến tŕnh tuần tự và liên tục. Thật vậy, nó gồm ba giai đoạn chính: chuẩn bị xa, chuẩn bị gần và chuẩn bị tức th́.

Việc chuẩn bị xa bắt đầu từ thời thơ ấu, là hướng dẫn để con cái biết tự chủ và biết sử dụng đúng đắn các xu hướng riêng của ḿnh, để biết cách nhận xét và gặp gỡ những người khác phái, và những chuyện khác như thế. Ngoài ra, c̣n phải có một sự đào tạo vững chắc về đời sống thiêng liêng và giáo lư, để hiểu được rằng hôn nhân là một ơn gọi và là một sứ mạng đích thực, nhưng vẫn không loại trừ khả năng tận hiến cho Thiên Chúa trong ơn gọi linh mục hoặc tu sĩ.

Việc chuẩn bị gần sẽ dựa trên nền tảng ấy và là một công cuộc lâu dài: Tŕnh bày hôn nhân như một tương quan liên vị phải được phát triển liên tục giữa người nam và người nữ, khuyến khích các cháu đào sâu những vấn đề về tính dục hôn nhân và về việc làm cha mẹ có trách nhiệm, với những hiểu biết cốt yếu gắn liền với các vấn đề ấy trong lănh vực sinh lư và y học, và đưa họ tới chỗ làm quen với những phương pháp tốt để giáo dục con cái; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ có được những yếu tố cơ bản cho một nếp sống gia đ́nh ổn định, như việc làm chắc chắn, đủ điều kiện tài chánh, quản lư khôn ngoan, có khái niệm về kinh tế gia đ́nh vv...

Việc chuẩn bị liền trước cuộc cử hành bí tích phải diễn ra trong những tháng cuối và nhất là trong những tuần trước lễ cưới để mang lại một ư nghĩa mới, một nội dung mới và một h́nh thức mới cho việc quen gọi là điều tra hôn phối mà giáo luật đ̣i buộc. Một việc chuẩn bị như thế vốn cần thiết cho tất cả mọi trường hợp, lại càng khẩn cấp hơn cho những đôi hôn phối c̣n gặp nhiều thiếu sót và khó khăn về mặt giáo lư và thực hành Kitô giáo.” (Tông Huấn Gia Đ́nh, số 66)

Phần đông con cái anh chị em sẽ bước theo ơn gọi hôn nhân. Chính cuộc sống của bậc cha mẹ phải là tấm gương giúp con cái thấy rơ hôn nhân là một con đường nên thánh.

Bí tích hôn nhân mời gọi đôi bạn mỗi ngày phải sống việc thánh hóa bản thân và thánh hóa gia đ́nh. Cũng do bí tích ấy họ có bổn phận và được ban ơn để biến đổi toàn thể đời sống họ thành một “hy lễ thiêng liêng” liên tục. Như lời Công Đồng dạy: “Như thế, giáo dân cung hiến cho Thiên Chúa chính thế giới này nhờ biết phụng thờ Ngài khắp nơi bằng đời sống thánh thiện của họ” (Hiến chế Tín lư Ánhng Muôn n, s 34).

Muốn con cái nên người, cha mẹ cần theo đuổi lư tưởng nên thánh. Đừng sợ gieo cho con cái ư tưởng nên thánh và nên thánh lớn ngay giữa đời thường. Đừng lo sợ một cách sai lầm rằng nếu các em theo đường tâm linh là ḿnh mất con! Thành quả lớn nhất của giáo dục là đào tạo được con cái thành những vị thánh. Chúng ta cần giúp con cái xác tín rằng ḿnh được gọi sống với Thiên Chúa, giúp con cái khao khát trở nên người con tự do, biết làm chủ bản thân và biết dùng mọi sự theo ư Cha trên trời.

 

.29

TỦ SÁCH GIA Đ̀NH

Tiếp tục suy nghĩ về giáo dục gia đ́nh, chúng ta cùng suy nghĩ về việc chọn sách vở cho con cái.

Trong Tiểu Sử Tự Thuật, chương 1, Thánh nữ Têrêxa Avila viết: “Cha tôi rất thích đọc những sách đạo đức và người cũng sắm nhiều sách bằng quốc ngữ cho con cái đọc nữa. Cùng với sự ân cần mẹ tôi dạy chúng tôi cầu nguyện và gây cho chúng tôi ḷng sùng kính đối với Đức Mẹ và các thánh, những sách ấy bắt đầu nhen nhúm những ước muốn thánh thiện trong tôi khi tôi mới được chừng sáu hay bảy tuổi.” Thế nhưng ở chương tiếp theo, Thánh Nữ lại cho biết mẹ ngài thích đọc sách kiếm hiệp, khiến ngài cũng bắt chước mà đọc say mê và v́ thế mà phai lạt hết ḷng đạo đức đă có trước đó.

Thánh nữ ghi lại cả hai mặt lợi hại của việc đọc sách, để nhắn nhủ các bậc làm cha mẹ phải quan tâm tới việc đọc sách của con cái.

Như thế là cha mẹ có trách nhiệm phải chọn sách cho con cái. Mỗi gia đ́nh cần có một tủ sách, cả cho người lớn và trẻ em. Không chỉ gồm Thánh Kinh, sách kinh, sách giáo lư mà c̣n gồm cả những sách bổ ích cho việc trau giồi kiến thức và giải trí.

Ngày nay, trẻ em của chúng ta đọc rất nhiều sách vô bổ, c̣n những sách đáng xem th́ chẳng bao giờ động đến. Điều đó khiến một số người chống chế khi nghe nói tới một tủ sách gia đ́nh. Thế nhưng kinh nghiệm của Thánh Inhaxiô, vị sáng lập Ḍng Tên, sẽ khích lệ chúng ta. Vị thánh này trước kia là một hiệp sĩ, chỉ thích đọc chuyện kiếm hiệp. Đến khi bị thương phải nằm điều trị, ông muốn đọc sách kiếm hiệp nhưng trong tủ sách bệnh viện chỉ có sách về Gương Chúa Giêsu và về cuộc đời các thánh. Ông đă đọc cho đỡ buồn nhưng rồi nhờ đó mà được ơn Chúa đánh động, trở nên một tín hữu nhiệt thành, một linh mục tông đồ và một vị thánh lớn.

Thế nhưng nếu thấy cha mẹ đọc, một lúc nào đó các em sẽ đọc.

Nên khuyến khích con em hưởng ứng hội thi đọc sách giáo xứ.

Tủ sách gia đ́nh cũng c̣n là nơi cất giữ những CD phim ảnh và âm nhạc lành mạnh, có giá trị giáo dục cao về giáo lư cũng như về nhân bản.

Nên nhờ các vị đặc trách về văn hoá trong giáo xứ hoặc nhờ các giáo lư viên đến xem tủ sách và cho ư kiến. Cũng có thể nhờ các vị mua giúp những sách khó kiếm tại địa phương.

 

.30

CÁC PHƯƠNG TIỆN
TRUYỀN THÔNG XĂ HỘI

Nói đến truyền thông xă hội là nói đến sách vở, báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền h́nh, internet, là những phát minh tân kỳ của kỹ thuật ngày nay, đang trở thành những lợi khí sắc bén nhất trong việc đem tin tức, h́nh ảnh, quảng bá tư tưởng và lối sống đến cho mọi người ở khắp nơi trên thế giới, gây nên những hiệu quả tốt xấu trái ngược. Công Đồng Vaticanô II đă dùng một trong 16 văn kiện của ḿnh để hướng dẫn Dân Chúa về vấn đề này. Trong đó, ở số 16-18, chúng ta đọc thấy:

“Để xử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông xă hội, những người xử dụng thuộc những tuổi tác và văn hóa khác nhau cần phải được huấn luyện về lư thuyết và phần thực hành một cách thích hợp và riêng biệt. Để mau đạt tới kết quả, lớp giáo lư cũng phải có phần tŕnh bày và giải thích giáo thuyết và quy luật công giáo về vấn đề này.

Thánh Công Đồng này nhắc lại cho các con cái của Giáo Hội bổn phận phải nâng đỡ và trợ giúp các nhật báo công giáo, các tạp chí, các tổ chức phim ảnh, các đài và các chương tŕnh phát thanh, phát h́nh công giáo nhằm mục đích chính là để phổ biến và bảo vệ sự thật, và cung cấp nền giáo dục Kitô giáo cho xă hội loài người. Đồng thời Thánh Công Đồng khẩn khoản mời gọi các đoàn thể và cá nhân có nhiều năng lực trong lănh vực kinh tế và kỹ thuật, hăy tự ư và rộng răi dùng tài nguyên và kinh nghiệm của ḿnh mà nâng đỡ những phương tiện này khi chúng phục vụ nền văn hóa đích thực và việc tông đồ.

Mọi giáo phận trên thế giới hằng năm phải cử hành một ngày lễ để dạy dỗ các tín hữu về bổn phận của họ đối với vấn đề này, mời gọi họ cầu nguyện nhiều theo ư chỉ này, và xin họ đóng góp cho mục đích này: nghĩa là thành thật hy sinh cho việc phát động, nâng đỡ và cổ vơ những tổ chức và sáng kiến của Giáo Hội trong vấn đề này theo nhu cầu của thế giới công giáo.”

Giáo huấn Công Đồng nhắc nhở giáo dân cần phải ư thức về tầm quan trọng của truyền thông xă hội, mời gọi mọi người cổ vơ việc xuất bản báo chí lành mạnh và hữu ích, phim ảnh mỹ thuật thuần túy, giúp phổ biến những tin tức, b́nh luận xác thực, xây dựng: để nâng cao tâm trí, mưu ich cho xă hội và tôn giáo.

Công Đồng cũng nhắc nhở mọi người, nhất là các phụ huynh, cần phải rèn luyện trí phán đoán, phân biệt điều hay, việc dở, hướng dẫn cho các bạn trẻ biết đường lựa chọn. Ngoài việc phải giúp con cái tránh những sách vở, báo chí và phim ảnh đồi trụy đang phổ biến khắp nơi, bậc cha mẹ ngày nay c̣n cần phải quan tâm hướng dẫn con cái biết sử dụng internet cách hữu ích. Đây là một lănh vực phức tạp, bậc làm cha mẹ cần trao đổi với các phụ huynh khác để có được những kinh nghiệm thực tế.


II. GIA Đ̀NH SỐNG ĐẠO




.01

GIA Đ̀NH LÀ HỘI THÁNH NHỎ

“Họ chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng… Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến phục: và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42.47).

Những lời ấy đă trở nên một khuôn mẫu cho mọi cộng đoàn Hội thánh, từ giáo phận, giáo xứ cho đến Hội thánh tại nhà là các gia đ́nh. Một nếp sống Hội thánh trưởng thành với 5 sự chuyên cần:

Một chuyên: chuyên cần giáo lư.

Hai chuyên: vững chí hiệp thông.

Ba chuyên: bền ḷng phụng vụ.

Bốn chuyên: vui thú nguyện cầu.

Năm chuyên: cùng nhau làm chứng.

Trước hết, về giáo lư, cần giúp con em sớm tiếp xúc với Lời Chúa. Bổn phận đó trước hết là của gia đ́nh, như lời Đức Giáo Hoàng dạy: “Trong nhiều hoàn cảnh ngày nay, việc dạy giáo lư ở gia đ́nh đă trở nên cần thiết đến mức tuyệt đối” (Tông huấn Gia đ́nh 52đ).

Thứ hai, để xây dựng t́nh hiệp thông gia đ́nh, mọi  người trong nhà cần phải quyết tâm không để bất cứ điều ǵ làm cho chia ĺa nhau, mau mắn giao ḥa với nhau, tha thứ cho nhau mỗi khi có điều ǵ xúc phạm đến nhau. Mỗi người cần cố gắng riêng phần ḿnh và t́m cách để tạo bầu khí chung.

Thứ ba, bền ḷng phụng vụ. Mỗi tín hữu và mỗi gia đ́nh cần tranh thủ để tham dự đều đặn các thánh lễ Chúa nhật, và nếu được, cả thánh lễ ngày thường. Những nơi thiếu linh mục, không có thánh lễ, chúng ta cố gắng tham dự các buổi phụng vụ Lời Chúa và rước Ḿnh Thánh Chúa trong các Chúa nhật. Nhớ xưng tội thường xuyên để có thể rước lễ đều đặn. Thật là tốt đẹp nếu cả gia đ́nh thường xuyên cùng đi tham dự thánh lễ với nhau.

Thứ tư, vui thú nguyện cầu: Các gia đ́nh chúng ta ngày nay cũng cần nhớ lời Chúa Giêsu dạy phải cầu nguyện luôn luôn, không được nản chí, phải tỉnh thức mà cầu nguyện (Lc 18,1; Mc 14,38). Cách riêng là giờ kinh chung sáng tối. Để kinh nguyện thấm sâu vào đời sống và để giờ cầu nguyện chung thêm phong phú, mỗi người trong gia đ́nh cần phát huy một đời sống cầu nguyện cá nhân: Thích đọc Lời Chúa riêng, suy gẫm riêng, lần hạt riêng, tập chiêm niệm trong đời sống, tập cầu nguyện đang khi làm việc…

Thứ năm, cùng nhau làm chứng cho Chúa Kitô. Đó là lệnh chính Chúa truyền cho các môn đệ trước khi về trời. Tiếp nối gương các thánh tử đạo, các gia đ́nh công giáo Việt Nam làm chứng bằng đời sống thánh thiện, bằng công việc phục vụ tận tâm và khiêm nhường trong lối xóm, trong các môi trường lao động và bất cứ nơi nào ḿnh được sai đến.

Là Hội Thánh tại gia, nếp sống gia đ́nh công giáo phải là nếp sống 5 chuyên cần, như trong thư chung 1980,  Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă từng nhắn nhủ: “Gia đ́nh của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa” (số 12c).

Kinh nghiệm mục vụ cho thấy t́nh yêu thương hiệp nhất của cộng đoàn là một sức hút mănh liệt lôi cuốn người ngoài đến với Hội Thánh. V́ thế, mọi giáo xứ, giáo họ, mọi gia đ́nh và mọi người trong giáo phận cần cam kết bảo vệ và phát huy sự hiệp nhất.

Một cách cụ thể, t́nh hiệp nhất cần bắt đầu từ gia đ́nh nhỏ tới gia đ́nh lớn, rồi đến họ hàng và thông gia. Để bảo vệ và xây dựng sự hiệp nhất, cần bắt đầu từ chính ḿnh, theo gương Chúa Kitô, Đấng đă hạ ḿnh đến tận cùng để giao ḥa loài người với Thiên Chúa và nối kết mọi người với nhau. V́ ích chung, mỗi người cần biết xóa hẳn ḿnh đi, dẹp bỏ tự ái và sẵn ḷng nhường chỗ cho người khác. Sức mạnh để xóa ḿnh cho hiệp nhất chính là Chúa Giêsu Thánh Thể. Mỗi lần rước lễ, ta cần nhắc lại lời cam kết xóa ḿnh cho hiệp nhất.

Tại gia đ́nh, t́nh hiệp nhất được biểu lộ nơi các bữa ăn và nơi giờ kinh tối. Ước ǵ mỗi gia đ́nh con cái Chúa thực sự là một góc thiên đường giữa trần gian, nhờ biết tha thứ, yêu thương, đùm bọc nhau và biết nhắc bảo nhau sống thật tốt lành.  Tại giáo xứ, t́nh hiệp nhất lộ rơ nơi mọi sinh hoạt, cách riêng là nơi thánh lễ, nhất là thánh lễ Chúa Nhật. Mọi người cần tích cực góp phần vào những sinh hoạt ấy.

 

.02

NOI GƯƠNG GIA Đ̀NH NADARÉT

Nơi gia đ́nh Nadarét, do ư định nhiệm mầu của Thiên Chúa, Con Thiên Chúa đă sống ẩn dật nhiều năm tháng. Bởi vậy, gia đ́nh ấy là nguyên mẫu và là tấm gương cho mọi gia đ́nh Kitô hữu. Và Gia Đ́nh ấy có một không hai trong thế giới, đă trăi qua một cuộc sống âm thầm và lặng lẽ trong một thị trấn nhỏ Palestina; đă bị thử thách do sự nghèo khổ, bắt bớ và lưu đầy; đă tôn vinh Thiên Chúa một cách trổi vượt và tinh khiết, sẽ không quên cứu giúp các gia đ́nh Kitô hữu và cả mọi gia đ́nh trên thế giới, để họ trung thành với các bổn phận hằng ngày của họ, để họ biết cách chịu đựng những âu lo và xáo trộn trong cuộc sống, để họ quảng đại mở ḷng ra trước những nhu cầu của người khác, để họ vui vẻ hoàn tất chương tŕnh Thiên Chúa đă định cho họ.

Ước ǵ thánh Giuse, là “người công chính”, là người công nhân không biết mỏi mệt, là người bảo vệ nguyên vẹn tuyệt đối những ǵ đă được ủy thác, luôn luôn ǵn giữ các gia đ́nh ấy, bênh vực họ, soi sáng cho họ!

Ước ǵ Đức Trinh Nữ Maria, là Mẹ của Giáo Hội, cũng trở nên Mẹ của “Giáo Hội tại gia”! Ước ǵ nhờ sự trợ giúp từ mẫu của Mẹ, mỗi gia đ́nh Kitô hữu đều có thể thực sự trở nên một “Giáo Hội nhỏ”, trong đó mầu nhiệm của Giáo Hội Đức Kitô được phản ảnh và sống lại! Mẹ là Nữ Tỳ của Chúa, ước ǵ Mẹ là gương mẫu cho mọi gia đ́nh biết khiêm tốn và quảng đại đón nhận ư của Thiên Chúa! Mẹ là Người Mẹ đau khổ dưới chân thập giá, ước ǵ Mẹ cũng ở đó để xoa dịu những đau khổ và lau sạch nước mắt của những ai đang ưu phiền v́ những khó khăn gia đ́nh họ đang gặp phải!

Và ước ǵ Chúa Kitô, là Vua vũ trụ, là Vua các gia đ́nh, Đấng đă hiện diện ở Cana, cũng hiện diện trong mi tổ ấm Kitô hữu, để thông ban cho nó ánh sáng niềm vui, sự b́nh an và sức mạnh. Hôm nay là đại lễ kính Vương quyền của Ngài, tôi cầu xin Ngài cho mọi gia đ́nh biết quảng đại đóng góp phần độc đáo của ḿnh, để Vương quốc Ngài được hiển trị trên thế giới, “Vương quốc của sự sống và sự thật, của ơn sủng và thánh thiện, của công lư, t́nh yêu và hoà b́nh”, Vương quốc mà lịch sử đang lần bước tiến về. (Đức Gioan Phaolô II, Tông Huấn Gia Đ́nh, số 86)

 

.03

MỘT BẦU KHÍ
HẠNH PHÚC VÀ THÁNH THIỆN

“Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đ́nh một bầu khí thấm nhuần t́nh yêu cũng như ḷng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện của con cái họ trong đời sống cá nhân và xă hội được dễ dàng.” (Tuyên Ngôn Giáo Dục Kitô Giáo, số 3)

 Giáo dục không phải là dạy học. Người ta không thể chia các đức tính tốt thành một giáo tŕnh giảng huấn, mỗi năm mấy môn, mỗi môn mấy tiết học… Trong việc giáo dục, sẽ không thể xé lẻ ra từng điểm, nhưng phải nhào trộn tất cả thành một bầu khí có khả năng giúp mỗi người trong gia đ́nh triển nở và đạt tới được những điểm ấy.

Bầu khí ấy phải là một bầu khí hạnh phúc và thánh thiện, ở đó mỗi người đều có thể yêu thương và cảm thấy ḿnh được yêu thương, ở đó mỗi người đều thấy ḿnh được tín nhiệm và có thể tín nhiệm người khác, mỗi người đều cảm thấy ḿnh được lớn lên thật sự trong tương quan với mọi người và với Thiên Chúa.

Không cần phải nhiều tiện nghi cũng không cần phải sung túc mới có được bầu khí đó, nhưng cần phải có một cái nh́n rơ rệt đầy xác tín thế nào là hạnh phúc thật. Cần phải tin tưởng vững chắc rằng hạnh phúc chúng ta kiếm t́m trước hết phải là hạnh phúc siêu nhiên: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có hạnh phúc. Điều chênh lệch thực sự giữa t́nh trạng hạnh phúc và t́nh trạng bất hạnh chính là ở chỗ ta có cảm nhận được có Chúa đang ngự trong gia đ́nh hay không.

Khi cải cách ḍng Cát Minh, Thánh Nữ Têrêxa có cao vọng biến mỗi cộng đoàn tu sĩ thành một góc thiên đường, nhờ mỗi người đều biết sống yêu thương, khiêm nhường và từ bỏ. Ngày nay, chính Thiên Chúa cũng đang ước mơ thực hiện điều ấy cho mỗi gia đ́nh anh chị em, để ngay giữa thế gian này mỗi gia đ́nh anh chị em đă là một góc thiên đường.

 

.04

PHẨM GIÁ NGƯỜI PHỤ NỮ

Tông Huấn Gia Đ́nh, số 22 và 24 nêu 3 ư lớn:

1. Người phụ nữ phẩm giá và trách nhiệm b́nh đẳng với phẩm giá và trách nhiệm của người nam. Thiên Chúa lại bày tỏ phẩm giá của người nữ cách cao cả hết sức có thể khi chính Ngài mặc lấy xác thịt từ Đức Trinh Nữ Ma-ri-a mà Giáo Hội tôn kính như Mẹ Thiên Chúa, gọi Mẹ là E-và mới và giới thiệu Mẹ như là kiểu mẫu của người nữ đă được cứu chuộc.

2. Đáng tiếc là hiện nay trong xă hội vẫn tồn tại một tâm thức sai lạc nh́n con người không phải như một ngôi vị, nhưng như một đồ vật, một món hàng mua bán, để phục vụ cho lợi thú ích kỷ và lạc dục. Nạn nhân đầu tiên của tâm thức ấy là người phụ nữ. Tâm thức ấy gây ra những kết quả thật cay đắng, như sự khinh rẻ người nam và người nữ, t́nh trạng nô lệ, việc áp bức những người yếu đuối, sách báo phim ảnh khiêu dâm, nạn măi dâm và mọi thứ kỳ thị gặp phải trong lănh vực giáo dục, nghề nghiệp và phân phối công việc v.v...

3. Thượng Hội Đồng Gíam Mục về gia đ́nh kêu gọi tất cả mọi người hăy dấn thân hành động để có thể loại bỏ hẳn những kỳ thị ấy, và để nhờ đó mà đạt tới chỗ kính trọng trọn vẹn h́nh ảnh Thiên Chúa đang chiếu tỏa nơi mọi người chẳng trừ ai.

Áp dụng giáo huấn ấy vào phạm vi gia đ́nh, chúng ta cần biết tri ân đón nhận con cái Thiên Chúa ban, không phân biệt giới tính. Cần dạy các cháu trai ngay từ nhỏ biết tôn trọng nữ giới và dạy con gái ngay từ nhỏ phải biết tự trọng.

Ở đây cũng cần nói riêng về y phục. Y phục không những để che thân và trang hoàng thể xác mà c̣n để giúp ta giữ nết na trong sạch, xứng đáng con cái Chúa. Nước ta từ xưa đă có những cách ăn mặc kín đáo, nết na, được các nước khen ngợi. Thế nhưng với làn sóng văn minh tiêu thụ, nhiều kiểu ăn mặc lố lăng mất nết đang phá hoại nền phong hoá nước nhà, và nó cũng c̣n xâm nhập cả vào nơi nghiêm trang thờ phượng. Người công giáo phải cương quyết tránh những cách ăn mặc hở hang, những hàng vải thưa mỏng, những kiểu may bó sát, những kiểu cách khêu gợi, lố lăng và mất nết. Người phụ nữ công giáo cần nhớ lời dạy của thánh Phêrô: “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mă bên ngoài như kết tóc, đeo ṿng vàng, hay ăn mặc xa hoa; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thuỳ mị, hiền hoà: đó chính là điều quư giá trước mặt Thiên Chúa. Xưa kia, các phụ nữ thánh thiện là những người trông cậy vào Thiên Chúa, cũng đă trang điểm như thế” (1Pr 3,3-5).

Thánh nữ Têrêxa Avila viết về bà mẹ của ngài rằng: “Mẹ tôi cũng là một phụ nữ nhân đức, đoan trang, tiết hạnh và suốt đời mang bệnh. Dù rất nhan sắc, người chẳng bao giờ màng đến điều ấy; và dẫu chết lúc mới ba mươi ba tuổi, người đă trang sức như những bậc cao niên. Mẹ tôi là một phụ nữ rất trầm tĩnh và rất thông minh. Suốt đời, người đă chịu nhiều thử thách cam go và chết một cách thánh thiện.”

  một phụ nữ như thế sinh ra một người con đại thánh th́ chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên.

 

.05
NGƯỜI NAM LÀ CHỒNG VÀ LÀ CHA

Bên trong sự hiệp thông của cộng đồng hôn nhân và gia đ́nh, người nam được mời gọi sống sự tự hiến của ḿnh trong vai tṛ là chồng và là cha.

T́nh vợ chồng đích thực giả thiết và đ̣i hỏi rằng người chồng phải có sự kính trọng sâu xa đối với phẩm giá của vợ ḿnh, như thánh Ambrôsiô đă viết: “Con không phải là chủ của nàng nhưng là chồng nàng; nàng được trao cho con để làm vợ chứ không phải làm nô lệ ... Hăy đáp lại những