DUYN NƯỚC TNH QU

VietNam

 

 

 

Người xưa c cu: "L rụng về cội, mu chảy về tim” Mu no chẳng trở về tim? V mu chỉ l mu khi mu cn trở về tim. L no chẳng rụng về cội? V l chỉ l l khi l cn lin hệ vớ cội nguồn. Cũng thế, con người chỉ thực sự l con người khi cn quyến luyến v lin hệ tnh cảm với xứ sở, qu hương. Hai chữ “Qu Hương” l m hưởng hm chứa nhiều nghĩa thiết. Thật m i ngọt ngo, lun ngn vang suốt ging kỷ niệm đ đi vo lng người như bản tnh ca mời gọi, Qu hương nghĩa nặng tnh thm, v l nơi chn nhau cắt rốn. Cn nằm đ. Mi mi cn đ!.

Qu hương như nguồn suối bởi đ tun xuống hoa nin bao tuổi mộng. Ging mật sữa ngọt ngo mẹ cha tận tụy nui đến ngy khn lớn. Tuổi thơ được nhn đi mắt cha cần c. Được thấy đi mắt mẹ nhẫn nại. Được nghe quả tim cha kn đo tnh thương lặng lẽ như chim tha mồi về tổ. Nơi đ quả tim mẹ bt ngt một trời. Hai tm hồn nhưng chỉ cng một điệp khc: giữa lc cha đi th mẹ ở, lc cha ở th mẹ lại lam lũ ngoi nắng mưa. Cha mẹ đ khc cười cng con thơ cho đến khi đủ sức vo đời.

Nơi đ, c khi cha bất khuất như ni. Mẹ rộng bao dung như trng dương. Ni v sng vừa l hai cuộc đời, nhưng chung một định mệnh như cha mẹ l hai c-thể song đ cng dưới một mi ấm.

Qu hương khởi đi từ gia đnh lan qua lng mạc, thn xm thnh thị. Tất cả lm nn một giang sơn kỳ t rực rỡ. Đồng bằng c phải mỏi cnh bay vẫn chưa cng. Sng biển ni rừng chim vỗ cnh vẫn cn thăm thẳm ngt xa. Khng những ở đ v vn kỷ niệm, m ở đ con người được nghe những bản ha m tuyệt diệu, Khc tnh ca đầu đời l khc sinh ca hm chứa một hoa nin đơn thuần chất phc mặc d sống giữa ci biển du mịt m. Con người học ni yu khi bắt đầu bập bẹ hai tiếng mẹ cha,ba m.

Qu-hương v thế đ trở thnh khc ca thần thnh vang ngn suốt định mệnh con người. Qu hương như một thứ nước trường sinh tưới ln mọi sinh hoạt. Lịch sử đng ty, cổ kim, suốt ging sinh mệnh nhn loại, con người lun ci đầu knh cẩn khi nhắc đến hai chữ “QU-HƯƠNG”. Bởi nơi đ vừa l trường học đầu tin, v cũng vừa l bi thứ nhất dạy cho con người biết chia sẻ, biết sống tnh nghĩa, biết chịu đựng, biết cộng tc, khng những phấn đấu để cn m nhẫn nại để thnh cng. Cho nn con người khng m qung khi cho rằng: “Qu hương l nơi đẹp nhất” (Le pays est le lieu le plus beau). Qu hương khng chỉ đẹp về phương diện địa l, cũng khng hẳn ph nhiu sung tc ti nguyn qu hương diện địa l, cũng khng nhất thiết đẹp bởi c cuộc sống thỏa thu ăn nn lm ra. Ci đẹp của qu hương l ci đẹp hệ tại ở một gắn b, mật thiết giữa con người với con người. Nhờ qu hương con người pht triển thể l v tm tnh. Gip con người nhận thức để trực diện với bản ng đch thực của mnh, con người nhờ qu hương để thnh đạt, lm cho thức ln cao độ. Sự trở về nguồn cội, nơi con người được nhiệm tc để hiện hữu giữa khng thời gian.

Nếu từ hư-v, con người nghiễm nhin c mặt th một ngy cuối định mệnh, con người sẽ lại trở về ci mốc đầu tin ấy. Sự xuất hiện của con người tại qu hương c nghĩa trong tiếng khc mở đầu, định mệnh. Suốt dọc lịch sử triết học m hệ thống luận l lun tra hỏi về mệnh vận con người vẫn chỉ l những vấn nạn đặt ln cu hỏi về yếu mệnh: tại saohiện hữu, c mặt? Hiện hữu, c mặt để lm g? Với mục đch no? Một khi gi từ hiện hữu, vắng mặt th con người sẽ về đu?

Nếu con người đ từ hư khng bỗng một ngy xuất hiện ngự giữa thực tại trần gian để sống v tham dự vo mọi sinh hoạt, chịu đủ mọi thứ chi phối v lần lượt theo nhau trở về…Như tế bo trong cơ thể hết non đến gi để rồi mất ht, th con người d muốn hay khng, một ngy no đ cũng sẽ phải ln đường trở về nguyn qun. Được về “nguyn qun” để cng tham-dự vo sinh hoạt thần thnh hay mi mi chịu lưu đy khỏi qu hương linh thing, đ l cu m con người phải trả lẽ về sự cộng tc của chnh c nhn đ được hiện hữu trong thời khng gian ny.

Từ thức c qu hương. hnh diện nhờ qu hương để con người pht triển ti năng, pht huy nhn phẩm, v nhờ qu hương con người biết chia sẻ cuộc sống bằng cố gắng hy sinh gp phần vo mộng để thnh mộng của đời người, đến nhận thức con người chỉ c thể xao xuyến c đơn khi con người biết nghĩ đến qu hương cch trực tiếp hay gin tiếp, lm cho qu hương hiện hữu cng sự hiện hữu của chnh mnh. Bởi con người hiện hữu nhờ qu hương, th con người cũng chỉ tm thấy bnh an thoi mi khi con người cn nu giữ được qu hương tm về bằng mọi ng để c mặt trn qu hương. D đ l qu hương v hnh hay đ l qu hương hữu hạn. Qu hương v hnh, bởi con người c hai cuộc đời. Một cuộc đời hướng thượng,nhắc nhở con người đi ln tm về tuyt đối. Một đời hướng hạ, nhắc nhở con người tham dự vo cc hoạt động tương đối gắn liền với thực tại trần gian. “Nhn linh ư vạn vật”, “L’homme est un Roseau, mais c’est un Roseau pensant”. (Con người l một cy sậy, nhưng l cy sậy biết suy tư). Phải, tuy l cy sậy nhưng con người biết tư duy. Chỉ nơi con người mới c khả năng tư duy.

V con người khng những c thể l m cn c khả thể tm linh. Đ l một thực tnh hiện hữu ngay trong sinh hoạt c no tm hồn con người đểcon người đạt khả năng từ v thức đến hữu thức hầu vin dung được cả hai: vừa trở về qu hương qua ng thể l, vừa trở về qu hương theo ng tm linh. Cả thể l v tinh thần gip con ngườ dung kỷ niệm m-ả ngọt-ngo ở qu hương hữu hạn lấy đ phng ln qu hương v hnh.

Con người bất mn, v con người lun xao xuyến. Con người xao xuyến, v con người phải xa qu hương. Chỉ khi con người trở về nguyn qun cội nguồn đ được nhiệm tc, con người mới tm thấy bnh an thoải mi trọn vẹn. Ni cch khc, qu hương đ gip con người by tỏ cảm tnh, v qu hương đ chia sẻ vui buồn cng với con người. Chỉ trn qu hương v trong qu hương con người mới biết diễn tả kht vọng. Ngoi qu hương, con người lun trong trạng thi hoi vọng nhớ nhung v lung tng. Bởi ngn ngữ qu hương trong thực tại siu nhin hay tự nhin cởi mở. Khi qu hương đ nn một chứng t v chứng tch th con người kh tm thấy một qu hương như đi mắt mở lớn ngắm nhn đứa con m mnh đ cưu mang gio ha cho nn người. Bởi thế, khi con người cố tnh xa qu hương d lẫn trnh cch no, th đi mắt lặn lẽ ấy, kỷ niệm ấy vẫn lun theo di bm st như người cha mong chờ đa con hoang trở về để chia sẻ tm tnh cốt nhục.

Từ nhận thức qu hương l nơi by tỏ, diễn tả cuộc đời con người đến nhận thức con người xao xuyến khi đnh mất qu hương sẽ cho ta nhận thức: trạng thi trống vắng, no nề, thiếu thốn như cơ thể thiếu mu, như sng thiếu nước, như biển cạn nguồn khng qu hương cũng như bến vắng thuyền. Đnh mất qu hương c nghĩa con người đứng ngoi lề cuộc đời, lạc lỏng bơ vơ. Nỗi buồn d thể hiện hay chm khuất vẫn l nỗi su xa thấm tha nhất. Cn g đau đớn hơn khi con người vẫn l nỗi trầmthống bi phẩn của đứa con khng ai thừa nhận. Một đứa con khng biết cha mẹ ging tộc mnh l ai l đứa con bất hạnh nhất trn đời. Nhờ c cha-mẹ, tri-tim con biết rung động yu thương. Song nếu sinh ra, suốt cuộc đời lang thang khng nguyn qun gia đnh, lm sao người con ấy hiểu v thot được cơn bo sầu buồn phủ kn định mệnh? Lm sao c nụ cười hồn nhin bn cạnh một đời người được lớn ln nhờ mật sữa yu thương săn sc nơi qu hương, Bởi thế, khi con người mất gốc vong bản l v tnh con người quay mặt với qu hương, khước từ qu hương hữu tnh cũng c nghĩa l phủ nhận một qu hương v hnh. Cng như thế, con người cng bất an xao xuyến c đơn.

Từ niệm qu hương như một xc định lm nn hạnh phc con người, chng ta trở về nguồn cội qu hương Việt Nam thn yu nơi đ,mặc d trăm năm hương khi phi pha vẫn cn v vn dịu m ng ả của một tiền vận, trung vận, hậu vận tuyệt vời d đau thương cch mấy.

Trn bnh diện thi ca, một người cũng như mọi người: nhờ gắn liền với giang sơn nn tm-tnh khi pht tiết, cũng cho thấy một sắc hương đậm tnh nặng nghĩa non sng, Mở đầu “Thề Non Nnước”. Thi sĩ Tản Đ bằng một bt php nhẹ gọn, đ by tỏ Duyn Nước Tnh Qu bằng một đường thơ rất tự nhin thnh khẩn:Nước non nặng một lời thề

Nước đi đi mi khng về cng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non cn đứng khng
Non cao những ngng cng trng
Suối kh ging lệ chờ mong thng-ngy
Xương mai một nắm kh gầy
Tc mai một mi đ dy tuyết sương
Trời ty ng bng t dương
Cng phơi vẻ ngọc nt vng phi pha
Non-cao tuổi vẫn chưa gi
Non thời nhớ nước nước m qun non
D cho sng cạn đ mn
Cn non cn nước hy cn thề xưa
Non-cao đ biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ cn lun
Bảo cho non chớ c buồn lm chi!
Nước kia d hy cn đi
Ngn du xanh tốt non th cứ vui
Nghn năm giao ước kết đi
Non non nước nước chớ ngui lời thề.

Rồi trn bnh diện nhn bản, phong ha mỹ tục qu hương đ được con người nhắc nhở tỏ by qua ca dao:

Cng cha như ni Thi Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lng thờ mẹ knh cha
Cho trn chữ hiếu mới l đạo con

Như thế, d v tnh hay hữu con người Việt Nam đ mặc nhin xc nhận gi trị nhn bản nằm trong tnh người. Ni v sng l biểu tượng của truyền thống. Cn non nước l cn phong ha mỹ tục, Cn phong ha mỹ tục l cn tnh qu tnh nước. Bởi người Việt Nam coi sự nghiệp cũng như tinh hoa tiền nhn để lại như của gia bảo, cho nn tm tnh người ở trn qu hương hay xa qu hương vẫn l tm tnh biết ơn, Biết “cng cha” “nghĩa mẹ” con người đ chọn ni lm biểu tượng cho tinh thần bất khuất chịu đựng định mệnh phong trần của cha ng v lấy biển sng lm biểu tượng cho tnh cảm hiền ha bao la của mẹ. Non non nước nước l một song trng lun chuyển. Mun đời nước ln non để lại về nguồn. Từ nguồn nước tiếp tục bốc hơi tưới cho non cao rừng biếc, ci đẹp cua qu hương về phương diện địa l trải di từ Bắc xuống Nam, băng qua ni đồi, tt tấp tận bnh nguyn, c lc uốn mnh men theo duyn hải cực kỳ thơ mộng, ci đẹp đ đ đi vo văn hiến, chạy di suốt lịch sủ bốn ngn năm. Những tinh hoa đ đ lm nn ci Duyn DnTộc. Chỉ c thể tm thấy v trọn vẹn với qu hương khi con người thể hiện cuộc đời mnh trn nền tảng nhn i hiền ha ở non sng.

Hơn ai hết, tm hồn thi nhn Việt Nam như Tản Đ đ đại diện cho tập thể quần chng hiểu biết v trnh by nghĩa nhn bản. Lời Thề Non Nước l lời thề của nước non hội ngộ. Người Việt Nam coi nước v non,sng v biển l hnh ảnh từ huyền thoại RồngTin. Tin về non, Rồng xuống biển. Con chu RồngTin l biểu tượng cho hai loi qu tộc cng một hong nghiệp, V Tin từ thin thai lạc bước xuống trần ở trn non cao. Rồng tung honh giữa biển Thi Bnh. Rồng đứng hạng tứ-qu: Long, Ly, Quy, Phượng, Cuộc ngẫu hợp Rồng Tin đ lm cho qu hương mang đủ mu-sắc duyn-nước tnh-non. Mặc d u-Cơ Tin Nữ ln non trong khi LạcLong Qun xuống biển, nhưng khng v thế Nội Tổ xa nhau vĩnh biệt, m đ lun trở về hợp nhất nằm trong nghĩa “nước đi ra bể lại mưa về nguồn” phải chăng Rồng đ thăm lại Tin bằng cuộc biến hnh mun thuở qua cch thế lm nước bốc hơi, mưa tưới cho non cao trng điệp, nơi Tin Nữ đ một lần bt ngt nhớ thương, nơi Rồng đ một lần tưởng tiếc khi vẫy tay gi biệt.

Từ huyềnThoại RồngTin mở dầu lịch sử v dịnh mệnh qu-hương xuyn qua văn học, phongha, mỹ tục, cc ngy giỗ tổ người VIệt Nam được thnh tựu nt nhn bản độc do khng chỉ ở tinh-hoa nằm trong học thuyết của Khổng Mạnh Lo Trang, m cn nhờ kh thing sng ni đ phổ vo tm no nn dẫu xa qu khng người no lại c thể qun được cội nguồn. D qu hương c l biển du đổi thay hưng phế, nhưng biển nhớ dng tnh vẫn chảy khng ngừng qua bao thế hệ.

Khi ni: non cao đ biết hay chưa? L hm ngụ nghĩa Rồng ni với Tin: “Cn non cn nước hy cn thề xưa”, v việc Rồng xuống biển hm ngụ một tỏ by tnh cảm su sắc tế nhị hơn: “Ra bể để mưa về nguồn” một khi Rồng ni với Tin:” Bảo cho non chớ c buồn lm chi!”. Phải chăng Lạc Long-Qun v u-Cơ Tin Nữ đ ngầm đồng một hội ngộ lin tục sau lần chia ly định mệnh đ? V “nước kia hy cn đi” nhưng “ngn du xanh tốt non th cứ vui”. Ngn du xanh tốt l con chu Rồng Tin Việt Nam hm qua v hm nay, khi lời thề giữa ni sng, non nước đả như một giao ước nghn năm cho giang sơn Việt Nam cn mi. Cn ở thn qu đến thị thnh. Cn trong phong ha tập tục từ gia đnh đến x hội. Cn ở người sống trn miền Thượng đến miền kinh. Cn trong ci duyn trai lng gi qu giữa ngy ma dưới đm trăng vng thổn thức, cn trong những ca khc dn tộc. Cn trong cc dịp lễ lạc hội h đnh đm từ miệt hậu giang ngược ln kinh thnh, vươn mnh tới Bắc Lạng. Mỗi thị trấn, lng mạc đều c nt tnh duyn thắm đượm hồn nước. Thắm trong những ci liếc lc nghing che vnh nn. Thắm ở đi m đỏ au ửng hồng e ấp của c thn nữ v thắm ở cử điệu nng dn chất pht của ch trai lng mộc mạc đơn sơ qua cu đối đp trao duyn bắt tnh. Chnh ngy ma v cc hội lớn ở qu hương ta l nt tnh duyn đặc th một dn tộc tnh thuần chất Việt-Nam Đng Phương, hiền ha như bức tranh thủy mạc.

Từ nhận thức về qu hương trong sinh hoạt con người trn bnh diện nhn loại tnh đến thức về qu hương c biệt của Việt Nam Đng Phương ta c thể kết luận: C người Việt Nam no lại khng yu qu hương? C người Việt Nam no dm phủ nhận rằng qu hương khng l nơi đẹp nhất? Khng những đẹp lc my vương khi chiều ấp ủ mi tranh trong đ c mẹ hiền tần tảo, c cha từ ngoi đồng vc cy dắt tru trở về, c anh chị em giải nắng dầm mưa tản mc ngoi đồng, từ thnh đến qu, giữa dồng chua nước mặn đến những “quanh năm ở ven sng”.

Nt đẹp trải di ma la chn, lc mạ trổ đng đng lm nn một thảm nhung vng xanh rộng đến cuối trời. Ci đẹp trong ngy thanh minh c hội đạp thanh v tất cả cng đến cha hi lộc cầu an hay ci lắng trầm ở cung gio đường lc chung ngn vang mời gọi tm về hiệp nhất. Những ngy đng gi rt c huyền thoại cổ tch hư một mn ăn tinh thần trong mi ấm, nơi đ c nội ngoại vừa nhai trầu vừa kể chuyện cho con chu. Chnh những nt son đ đả t đậm v nui dưỡng cho Duyn Nước Tnh Qu thm nhiều sắc thi dn tộc lm nn thể tnh một Việt Nam Đng Phương vừa cổ knh vừa tn thời, khng những giu sang cho văn hiến, văn ha, tập tục m cn lm giu cung điệu tiết tấu nhịp nhng, khởi sắc cho mọi miền. Con người c thể lng qun qu hương nhưng qu hương đ khng bao giờ qun con người một lần hiện diện. Qu hương Việt Nam ta như một b mẹ tảo tần, như c gi khng son phấn. Qu mẹ Vlệt Nam như một tiếng gọi lc con trở về tnh tự dn tộc để giữ ci duyn nước tinh qu. Mẹ qu hương tuy đi rch, nhưng tnh mẹ bao la tun trn như thc chảy. Yu qu hương v giữ thơm tnh mẹ chnh l sồng tinh thần hiền ha m hai tn gọi biển Thi Binh l biểu tượng cha ng hm ngụ một lời k thc gởi gắm đến thế hệ mai sau. Biểu tượng ngn năm đ đ đi vo lịch sử ging Lạc Việt ta. Tinh thần đ vừa bất khuất vừa nhẫn nại bao dung tha thứ một cch lặng lẽ.

Yu qu hương, l giữ cho mối giền quốc gia tổ quốc khng những tch cực giữa nước non m cn chứng tỏ một cuộc sống khng lm nhục cho qu hương, sống can đảm như người mẹ qu chất phc:

Quanh năm bun bn ở ven sng
Nui lấy năm con với một chồng
Lặn lội thn c nơi quảng vắng
Eo xo mặt nước lc đ đng.

Chnh tinh thần khng đua chạy theo thời đại qua hnh tức văn minh kỷ huật ồn o, chnh ci tinh thần khng ci đầu khom lưng trước quyền lực, khng đnh ất bản ng cha ng truyền cho con chu l lc con người duy tr nhn bản v cc tinh hoa trong truyền thống của một nền văn hiến sung mn, m tổ tin từng nhắc nhở dạy bảo.

Kỷ-niệm sẽ qua đi, dĩ vng khng bao giờ trở lại như thời gian khng bao giờ chờ đọi con người. V thời gian mất khng ai tm được. Tuổi thơ đ qua khng ai c thể nu ko, th kỷ niệm hay dĩ vng tực sự khng ăn nhập với ging sng cuộc đời hm nay.

Cc chế độ sẽ qua đi như cc thể chế chnh trị đ đi vo lịch sử, những bn tay lm nghing ngửa định mệnh con người, dồn p con người đu giy với mọi hiểm nguy gian khổ đều lần lượt đi đến chỗ bị tri tiu mất ht, nhưng đ khng phải l qu hương. Qu hương khng phải l cc thể chế chnh trị hay tn gio. Lầm lẫn yu qu hương khi phục vụ đảng phi chnh trị, phục vụ tinh thần yu nước quy về sự sng bi ngẫu tượng hư ngụy, tn thờ một c nhn quả thật v tnh đ đnh mất qu hương ngay từ căn bản trn lộ trnh trở về nguồn cội. V qu hương khng l những thứ đ. Qu hương khng nằm trong chương trnh v dự n bời kế hoạch. Đ l những hnh vi con người cố gắng tham dự để lm vinh hoặc lm nhục cho qu hương. Tnh tự dn tộc phải được nhn cch đơn sơ. Qu hương phải được khởi đi từ tm tnh một cch tự do để gip con người thăng hoa thnh đạt nhn phẩm m gi trị l tinh thần tự động dng hiến như cha mẹ tổ tin đ hiến dng bao hy sinh cho con mnh khn lớn. Trong tinh thần đ qu hương được hiểu như một bản ng đch thực.

Chỉ khi con người sống đng v thể hiện dược cc nt độc-đo trong duyn nước tnh qu lm đẹp qu hương l con người tm thấy sự hiện hữu. Sự hiện hữu đ chnh l sự c mặt trong qu hương thn yu của mnh. Một hiện diện khng chỉ về mặt thể l hay php l m l một vị tr được nhn-nhận trong sinh hoạt quốc gia ngay trn qu hương mến yu.

Một lc no đ trong đời người chng ta bị cm dỗ theo con đường vọng ngoại ngoảnh mặt với qu hương, rời xa duyn nước tnh non mộc mạc đơn thuần để ra đi mơ một hội nhập xa hoa, lủi su vo tiến bộ khoa học kỷ thuật để được thoải mi, chng ta tường rằng: nơi no sống thoải mi ấy l qu hương (Ubi bene est, ibi patria est), nhưng chưa hẳn đ hết xao xuyến tưởng tiếc một qu hương đ mất! C nghĩa l nỗi niểm vọng nhớ cội nguồn vẫn kn dấu hoi mong một ngy trở lại m tận dưới đy lng, con người thồn thức muốn tm về ci đ la xa.

Từ nhận thức đau buồn ấy, thiết nghĩ Cicero lầm lẫn đối với tm tnh người Việt tha hương. Bởi tận đy lng khng một người Việt Nam no lại khng cho rằng qu hương l nơi đẹp nhất. Bởi thế, yu qu hương khng c nghĩa l tm lại kỷ niệm để sống ci đ qua. Đ chỉ l những m đềm chốc lt trong long mỗi c nhn. Hai chữ tổ quốc v qu hương cần được diễn tả bằng tnh tự của con người với con người. Yu qu hương l yu ngay trong thực tại. Gắn b với qu hương l pht huy nhn cch, phẩm gi m tổ tin,ng b cha mẹ, lng nước đ truyền thụ cho con chng ta một cch thn thương mật thiết.

Cho d khước từ qu hương chăng nữa, cho d hnh ảnh rực rỡ hiền ha qu hương đ phổ ln hồn đời bản tnh ca bất tuyệt c bị mai một chăng nữa, nhưng chắc chắn đến một ngy no đ trong đời người, ta vẫn dừng chn lm khch gọi đ. Mặc d thuyền đ bn kia sng, tiếng vọng vẫn cỏn ngn vang. Bởi sau những đua tranh, cố gắng thch ứng hội nhập x hội mới, con người tha hương rồi ra vẫn cảm thấy mnh như một lữ khch c đon chơ vơ ngoi hải đảo. V một thong chốc no khi con người ng xuống hồn mnh, con người sẽ cảm nhận sau cuộc phiu du vẫn khng sao tm được một an nghỉ. Chnh giy pht ấy, tiếng mời gọi của qu hương vọng ln, con người sẽ cảm thấy cn một cht g để nhớ, v một cht g để thương.

 

  Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D

 


Xem cc bi viết khc trong Rev. Nguyễn Quốc Hải, Kho 7 GHHV Đ Lạt Việt Nam.