SAMARITANÔ
HIỆN THÂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

VietNam

 

 

 

 

 

 

Chân Lý Dưới Dạng Thức Nghịch Lý Mâu Thuẫn

Tất cả cuộc đời Chúa Kitô quy vào một sứ mệnh duy nhất là đưa nhân loại đi vào con đường hạnh phúc! Ba mươi ba năm tuổi đời rạng ngời trong ba năm rao giảng Tin Mầng! Ba năm truyền giáo cao điểm ở Bài Giảng Trên Núi về Tám Mối Phúc Thật: đó là Tám Ngọ Môn dẫn đưa con người tìm vào ngưồn chân hạnh phúc! Tám Mối Phúc Thật mạc khải cho nhân loại con đường Thiên Chúa hoặch định với những sắc thái đặc thù siêu vượt trên mọi khôn ngoan trí tuệ của con người! Tám Mối Phúc Thật vén màn bí mật của lối đi hạnh phúc chưa từng có ai dám nghĩ tới. Con đường Chúa hoặch định, tư tưởng Chúa dẫn vào, hình như ngôn ngữ của loài người chưa sẵn sàng để ôm tròn ý nghĩa, vì thế những chân lý Chúa phán truyền, nhiều khi dưới dạng thức của những nghịch lý, mâu thuẫn! Để lãnh hội ý nghĩa qua dạng thức nghịch lý mâu thuẫn, con người bắt buộc phải thay đổi não trạng, thay đổi lề lối suy tư! Trong Thánh Kinh Cựu-Ước, Thiên Chúa đã phán:" Tư tưởng và đường lối của ta không phải là tư tưởng và đường lối của các ngươi"! Chưa có bậc thày nào trong nhân loại dám qủa quyết: nghèo khó, khóc than là lối dẫn vào chân hạnh phúc! Chỉ có Chúa Kitô bắt đầu Bài Giảng "Nguồn-Phúc-Thật khởi nguyên từ tinh thần nghèo-khó, bằng sự biết khóc-thương, Và trong bài viết nẩy, chúng ta nhắc lại lời khẳng định của Chúa là lòng thương xót, từ tâm sẽ đưa con người vào niềm hạnh phúc vững bền!

 

Ý Nghĩa Của Lòng Thương Xót

Hai chữ thương xót(từ tâm)dùng trong Thánh Kinh Tân Ước mang một nội dung và ý nghĩa khác với quan niệm thường tình của xã hội! Người đời hiểu từ tâm như một thái độ tốt lành, từ bi hỷ xã đối với người kém may mắn, hay thái dộ bao dung tha thứ cho người phạm pháp như một ân huệ, một bố thí của kẻ ở thế thượng phong!

Ví dụ như cư xử tử tế của bên thắng trận đối với tù binh của phe định! Từ tâm, thương xót mà Tân Ước dùng còn đi xa hơn nữa, còn hơn là một thái độ, một cách xử thế, từ tâm, nhân ái bao hàm một cách thế hiện sinh của hữu thể, một cách sống ở đời, một triết lý, còn hơn thế nữa, nó bày tỏ hành động của Thiên Chúa trên giòng lịch sử nhân loại!

Người ta kể chuyện trong thời thế chiến thứ hai, khi cuộc chiến đang leo thang cao độ, khi mà thành phố Luân Đôn chịu những trận bom cũa Đức giáng xuống ngày đêm, chương trình Phát thanh Kitô giáo tổ chức những buổi cầu nguyện trực tiếp truyền thanh. Ông C.S Lewis được mời sang Luân Đôn để điều khiển chương trình phát thanh đặc biệt nầy. Lewis là một nhà hùng biện nổi danh trong các cọng đoàn kitô giáo trên khắp thế giới. Mọi người đều hoan hô, ngưỡng mộ tài ăn nói phun châu nhả ngọc của ông...Cho đến một ngày kia trong một chương trình cầu nguyện đặc biệt cho các nạn nhân chiến tranh, nhất là cho những người đang chịu trải qua cơn sầu khổ vì sự tàn phá của cuộc chiến. Mọi sự đều tốt đẹp cho đến khi kết chương trình bằng kinh Lạy Cha, Lewis hăng say cần nguyện cho mọ người, cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa....Xin Chúa tha nợ cho chúng tôi...cũng như chúng tôi tha cho kẻ làm cho chúng tôi phải sầu khổ...và tha cho những người Đức...là kẻ thù đang dội bom xuống trên thành phố chúng tôi...thế là trận bom bắt đầu rền nổ, không phải bom từ bên phía nguời Đức, mà là những trận bom nguyền rủa, thóa mạ từ các thính gỉa của đài phát thanh...những lời trách cứ nặng nề từ ban quản trị của đài...và những phê bình gay gắt đến từ phíca chính quyền của thành Phố Luân Đôn. Họ là những người kitô giáo, họ xin Chúa tha thứ cho họ...cho mọi người, tha mọi tội ác họ dã xúc phạm..nhưng họ nhất định không thể tha cho nhữngngười Đức, kẻ thù của họ...Họ trả thù quân Đức bằng cách hạ những đòn phê phán chua cay ác nghiệt lên đầu ông Lewis! Hằng nghìn cú điện thọa tưới tấp réo vào đài phát thanh...hằng nghìn lá thư phản đối lên ¥\án ông Lewis, hằng nghìn chử ký đồi phải đuổi ông rời thành phố Luân Đôn và rời khởi Nước Anh! Sau cùng ông Lewis nhận được văn thư chính thức của chính quyền địa phương kết án ông vì tội phản bội nước Anh tội liên kết với quân thù, tội phản quốc...

Quan niệm "thương xót,từ tâm, nhân aí" của Tân Ước siêu vượt trên quan niệm thông thường của các nền văn hóa, các lý thuyết luân lý đạo đức của nhân gian! Hai nghìn năm lịch sử Kitô giáo ảnh hưởng đối với văn minh nhân loại, nguời Kitô hữu, nhất là người tín hữu Kito giáo Âu Châu, vẫn còn chưa thấu triệt sứ điệp của Chúa Cứu Thế! " Thương xót, nhân ái" phát xuất từ cung lòng Thiên Chúa, vì thế nội dung của nó phảng phất hương vị thần linh! Là yêu thương nhập thể, một hành vi của Thiên Chúa trong lòng nhân loại! Cần có một tâm hồn mới, một não trạng mới, một thái độ mới, một tinh thần mới ngõ hầu lãnh hội giáo-thuyết nhập thể nầy!

 

Lòng Thương Xót và Công Lý Bất Khả Phân Ly

Người ta thường hiểu hai chữ thương xót, từ tâm như là một cái gì đối nghịch với công lý. Từ tâm, công lý được xem như hai trạng thái đối nghịch khi phải đương đầu với hành vi sai quấy, phạm pháp! Trong khi công lý là tư tưởng nhằm vào việc đưa ra sự xét xử, án lệnh cho người vi phạm lề luật, xứng với việc của y làm, thì từ tâm, thương xót ,trái lại, chú trọng vào việc làm sao thả người đó đi, cho họ được tư do! Lấy công lý mà đối xứng với từ tâm thương xót là đều sai lầm căn để! Bởi vì, đều đối nghịch với công lý là sự bất công, chứ không phải là "lòng từ tâm dung thứ"!

Trọng tâm của vấn đề chứa đựng trong “Mối Phúc Thật Thứ Năm”, không quan hệ gì đến hình thức luân lý nhẹ nhàng hay gắt gao, nhưng nhằm giải nghĩa một hình thức khác, mới mẽ của công lý. Nói khác đi, công lý thánh thiện và từ tâm nhân ái cũng là một thực tại liên quan đến cuộc sống con người, cả hai dều đề cập đến tính cách phải-trái của hành dđông nhân bản! Từ tâm nhân aí tìm kiếm một cái gì khác hơn là sự tuyên án lệnh, ra hình phạt cho tội nhân!Nói khác đi, lòng từ tâm thương tìm cách sửa chữa hành vi sai quấy, đồng thời lưu tâm đến việc cứu giúp phạm nhân trở nên người lương hiện!

Dùng lý giải để phân biệt công lý với lòng từ tâm nhân ái sẽ gây nên ngộ nhận, phương thức hữu hiệu hơn tìm về thực tế cuộc sống để nhận diện sự khác biệt trời biển nầy! Câu chuyện sau đây hy vọng giúp soi sáng vấn đề của chúng ta:

Đó là câu chuyện của một học sinh trung học trốn học đi vào nghề ăn cắp. Trong một thị trấn nhỏ miền duyên hải đông nam Hoa Ký, một học sinh lớp mười một, đã bí mật trốn học, bỏ nhà ra đi không ai biết hành tung của cậu trong một thời gain ngắn: sau khi ăn cắp được chiếc xe hơi của trong vùng nông trại gần đấy, cậu ta bắt đấu tái xuất giang hồ hành nghề ăn cắp cách táo bạo, không hề sợ pháp luật, cậu ta lái xe đi vòng khắp nơi trong thị trấn, la cà trong các quán ăn , các tiệm café, tiệm rượu để dò la. Sau cùng , ngay giữa thiên thanh bạch nhật, cậu xông vào các tiêm buôn cướp công khai trước mặt chủ tiệm, rồi lặng lặng ra đi, từ tiệm nầy dến tiệm khác, không ai dám ra tay vì sợ liên lụy! Dẫu khéo léo lẩn tránh tới đâu, ít ngày sau, cậu cũng đã bị cảnh sát địa phương thọp cổ, giam tù chờ đợi ngày xét xử! vì còn là vị thành niên, phiên toà xử tội cậu được diễn ra âm thầm tại tòa hòa giải rộng quyền của thành phố, trong phiên tòa, ngoài một vài nhân viên cảnh sát giữ an ninh, có một số ít người tham dự, trong số đó ba chủ tiệm bị mất cướp được mời tói làm nhân chứng. Sau phần buộc tội có tính cách giáo dục của công tố viện thành phố, cácchủ tiệm nạn nhân được mời len phát biểu ý kiến về vụ cướp:

1- Người thứ nhất là một cựu quân nhân, ngoài sáu mươi, đã từng tham chiến tại việt nam, từng vào inh ra tử, cho nên ông có thái độ rất bình thản, coi như không có việc gì quan trong xảy ra! bằng một giọng ôn hòa, bình tĩnh, ông thưa với toà rằng theo ông: học sinh trốn học đi ăn cắp là chuyện qúa tầm thường trong xã hội ngày nay, nhất là tại thành phố ven biển nầy, tử khi ông đến sinh sống tại đây, đã chứng kiến hằng trăm vụ ăn cắp, có vụ còn ghê gớm gấp mấy lần vụ nầy, ông nói, tiệm ông bị cắp mấy đồ nhỏ không đáng kể, ai buôn bán vùng nầy mà không bị mấy cậu nhóc con phá phách đôi chút.�ng xin tòa phạt nhẹ tha cho cậu học sinh để cậu trởlại trường kịp học, coi như không có gì quan trọng đã xảy ra! Ông tha không lên án cậu, cũng không bắt phải đền bù gì, ông xin tòa tha bổng cho cậu về bình an, tiếp tục đi học lại! ông còn khôi hài với củ tọa xem vụ xử: các gia đình sinh sống vùng nầy, c ó gia đình nào nguyên vẹn một trăm phần đâu! Nhà nào lại không có con cái gây rắc rối trong khu phố, nhà nào có con tuổi mười lăm mười sáu mà không có chuyện ăn cắp vặt trong các chợ búa, trong khu xóm, hồi còn tuổi trẻ như chúng, bản thân tôi cũng chẳng khá hơn chúng là bạ! tuổi trẻ ai mà tránh khỏi những chuyện cỏn con ấy! Chuyện nhỏ mà, bỏ qua đi, tha thứ cho tưởi trẻ hôm nay. Hôm nay, nếu tôi lên án gắt gao cậu nầy, ngày mai con cháu tôi phạm tội, tôi ăn nói làm sao với bà con cô bác trong làng xóm!Thôi xin tòa tha cho cậu, tục ngự có câu: một sự nhịn bằng chín sự lành!

2- Người thứ hai cũng là một chủ tiệm tạp hoá, anh ta chừng trên ba mươi tuổi, ăn nói đanh thép, thái độ hung hãn với giáng điệu đằng đằng sát khí, anh trích nhiều đoạn về luật pháp Hoa Kỳ phạt nặng những người ăn cắp. Anh bắt đằu bằng những danh từ dao to búa lớn như: tội ác, bạo động lộng hành trên đất nước Hoa Kỳ, nhất là tại các thành phố lớn. Người dân Hoa Kỳ ngày nay không còn cảm thấy được an bìnhnữa, ngay cả trong khu phố của mình, tài sản, sự nghiệp bị đe dọa bởi những phần tử bất lương, lười biếng không chịu làm ăn lương thiện bằng cách bình thường tức đổ dọt mồ hôi kiếm bát cơm, họ là những sâu mọt của xã hội, rồi bằng một giọng giận dữ, anh ta chỉ vào mặt cậu học sinh bị cáo, xỉ vả nặng lời: thứ nầy là bụi bặm của xã hội, thứ bụi đời nầy cần quét sạch, cần phủi đi khỏi cuộc sống, cần thanh toán đi cho xã hội bớt đi phần lo lắng sầu khổ. Chúng tôi, những thương gia vùng nầy mất ăn mất ngủ vì tuị trẻ khốn nạn mất dạy nầy. Kết luận anh xin tòa ra hình phạt nặng nhất có thể, bỏ vào tù lâu nhất có thể, để đồng bào trong phố được sống bình yên!

3-Người thứ ba là một phụ nữ, bà ta trạc tuổi ngoại tứ tuần, khi được mời lên phát biểu về tội ăn cắp của cậu học sinh, bà ta có thái độ như một bà mẹ quan tâm đến con cái, khi phát biểu, bà ta không nói với quan tòa, hoặc phân bua với cử tọa! Bà kêu tên đích danh người bị cáo, bà ta nói bà rất ngạc nhiên về hành động sai quấy của cậu trai: bà tỏ ra buồn thay cho gia đình bị cáo có đứa con trai duy nhất, không chịu học hành theo đuổi chúng bạn, học thành tài, mà lại bỏ học ngang xương đi cắp đường cắp chợ thật là nhục nhã cho gia đình, nhất là làm khổ tâm người mẹ rất hiền từ, cũng là bạn thân của bà! Một đều đáng ghi nhận, trong lúc hai người đàn ông lên phát biểu, cậu rai tỏ ra thản nhiên, mặt lạnh như tiền, nhưng từ khi bà thứ ba lên tiếng, cậu bắt đầu tỏ ra ngậm ngùi, nhất là khi bà ta nhắc đến chuyện mẹ của cậu là bạn thân của bà, mẹ cậu rất đau lòng khi biết người con trai duy nhất của mình trốn học, đi hành nghề ăn cắp chợ! Sau khi nói với cậu trai về sự thiệt hại của việc bỏ học, sự nhơ nhuốc của hành vi ăn cắp, hậu qủa khôn lường khi bị vết đen luật pháp Hoa Kỳ phết lên tên tuổi,vết đen theo suốt cuộc đời, hồ sơ ăn cắp không cho phép cậu có một tương lai trong sáng! bà ta quay lại nói với vị quan tòa đang chăm chỉ lắng tai nghe lời của bà mẹ khuyên con trước vành móng ngựa! Bà ta trích câu ngạn ngữ Việt Nam về hình phạt cần có đề sữa sang thói xấu, bà nói :" tục ngữ có câu, người thì roi, voi thì búa, xin tòa ra hình phạt cho bị cáo, vì cậu nầy phải phạt xứng với tội câu đã gây nên, nhưng xin quan toà ban cho tôi một đặc ân là tôi muốn dấn thân vào vụ sử phạt nầy, bằng cách bắt cậu ta, mỗi ngày sau khi đi học về, phải đến tiệm trình diện tôi, tôi muốn coi, tôi sẽ làm được gì để giúp bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, tôi chịu trách nhiệm về bị cáo trong suốt thời gian quan tòa đặt dưới quyền giám hộ săn sóc của tôi!

 

Ba Thái Độ Trái Ngược Trước Một Thưc Tại

Đứng trước một trường hợp phạm pháp thông thường, thế mà có ba cách phân xử khác nhau, tượng trưng cho ba thái độ trái nghịch nhau:

1- Người thứ nhất xuề xoà dễ tính, tượng trưng cho lương tâm dễ giải, một luận lý nhẹ nhàng, uyển chuyển theo hoàn cảnh, tóm lại, loại người nầy, tượng trung cho mộ thứ thái độ luân lý dững dưng, không lấy gì làm quan trọng, miễn là có sự dàn xếp ổn thỏa, tránh phiền phức sau nầy. Với thái độ luân lý dững dưng trước công lý và tội ác, thái độ huề cả làng, chẳng ai thua ai được, tha cho phạm nhân đi trong tự do là thượng sách! Loại người nầy có đầy dẫy trong xã hội tân tiến của chúng ta, một xã hội chủ trương chung sống hòa bình, lấy sự nhường nhìn, thỏa hiệp làm căn bản lý thuyết áp dụng trong mọi lãnh vực của cuộc sống:

Thương thuyết, thỏa hiệp(compromise) là chủ thuyết hướng dẫn cuộc sống, với chủ thuyết nầy, chẳng ai hoàn tòn hơn, mà cũng chẳng có ai hoàn toàn thua lỗ: mỗi người nhường nhìn một chút là xong, chẳng cần có một nguyên tấc tối thượng nào cả, cũng chẳng có ai là tuyệt đối đúng hay sai, có đúng mà cũng có sai, chi bằng dung hòa, thỏa hiệp để mọi người đều có lợi, thế là vấn đề được giải quyết ổn thỏa. Áp dụng vào vụ án ăn cắp cũa cậu học sinh, người khổ chủ thứ nhất không kết án việc làm bị cáo, vì cho không quan trọng, không đáng lưu tâm cho lắm. Đàng khác, tránh kết án, theo kinh nghiẹnm của ông ta là một đều khôn ngoan, vì trách cho ông phiền hà bị băng đảng trả thù mai sau. Tránh vấn đè cũng là một hình thức giải quyết vấn đề! Không kết án tội phạm, không những tỏ ra nhân từ mà còn đề phòng lỡ sau nầy người nhà của mình phạm pháp, người khác cũng cư xử dễ dàng với mình! Đàng nào thì thái độ dững dưng của người thứ nhất cũng dựa trên một thứ lý thuyết gọi là "tiện lợi chủ nghĩa"(utilism), hoặc thực tế chủ nghĩa(pragmatism) theo đó cái gì thực tế có lợi cho ta là tốt, nên theo, nên thực hiện!

2- Người thứ hai tượng trung cho thái độ bảo thủ, nhất định lên án, xét tội người đã gây nên tội ác, không chút thương xót! Thái độ này biểu trung cho một thứ luân lý khắt khe" mắt đền mắt, răng đền răng", đã phạm luật, phải đền tội! Cần sát phạt để giữ uy quyền cho luqât pháp, đòng thời phạt để nên gương cho người khác trong chiều hướng:"Sát nhất nhân, vạn nhân cụ" Giết một người để làm cho một trăn người khác phải khiếp sợ mà tôn trọng luạt pháp! Anh thứ hai vì thế, khi được mời nói, anh ta không thèm quan tâm đến bị cáo, anh ta chỉ nói với quan tòa, nhằm chinh phục quan tòa phạt bị cáo thật nặng, với anh, càn phải xét xử, cần phải lên án, cần phải quét sạch buị bậm cuộc đời! Nghĩa là, với anh ta, công lý cần được tôn trọng, cần duy trì sức mạnhcủa công lý, tình thương xót không cần xét đến trong tòa án. Nơi đây chỉ quan tâm một đều: có tội hay không( guilty or not guilty). Nếu có bằng chứng rỏ ràng và hiển nhiên bị cáo phạm tội, lên án, ra hình phạt là bổn phận của người có trách vụ bênh vực cho công lý! Cần phải trừng trị tội phạm xứng với việc nó làm! Cần sát phạt nhân danh nhân loại, nhân danh các gía trị cao cả! Càn sát phạt tội phạm để bảo đản an toàn cho người dân vô tội. Nhân danh công lý, nhân danh uy quyền của luật pháp, nhândanh cho xã hội, phạm nhân phải đền tội, phải chịu phạt cách xứng đáng với tội ác đã phạm! Tất cả mọi lý giải, tất cả mọi biện minh, tất cả mọi bằng chứng đều nhằm một mục đích duy nhất là kết án, buộc tội, và ra án lệnh! Nơi đây phạm nhân không được đề cập đến, không có chỗ cho tình thương yêu nhân aí cảm thông! Mọi sự đều phải tuân theo quy luật:" Thẳng mực tàu, đau lòng ghỗ" hoặc nói theo ca dao việt nam:" thương em thì để trong lòng, việc quan thì cứ phép công mà làm"!

Từ cổ chí kim, đương đầu với người phạm pháp, hình như chỉ có hai thái độ: cứng rắn hay mềm dẻo: Nếu chủ trương cứng rắn, ta phải theo kiểu lý luận của nhân vật thứ hai trong câu chuyện, phải lên án phạt người đã gây nên tội ác! Nếu mềm dẻ , ta nên theo sự dễ dàng, không lấy gì làm quan trọng của người thứ nhất, cứ thả cho người ta đi bình an, khỏi gây thù oán phiền phức, biết đâu sau nầy có lợi cho mình, đượ người ta nghĩ tình ma trả ơn hay , mai sau nếu lỡ ra con cái mình rơi vào hoàn cảnh tương tự, nười ta nhớ lại chuyện xưa mà tha cho con cáo mình! Nhưng tốt hơn hết là không đặt thành vấn đề. Chạy trốn vấn đề là thượng sách" Đào vi thượng sách" cổ n hân c6 dạy trong muôn vàn kế, chạy trốn là kế hay nhất!)

3- Người đàn bà trong câu chuyện đại diện cho một thứ luân lý mới, luân lý tình người, luân lý của tứ tâm nhân ái!

Nơi người đàn bà nầy có ba đức tính quan trọng tạo nên một con người có nhân vị vững chãi:ba đức tính đó là: mạnh dạn, khôn ngoan, và thực tế.

a-Mạnh dạn, vì dám nhìn thẳng vào thực tế, tức là hành động phạm pháp của cậu trai trẻ. Cậu trốn học là đều đáng trách, vì thiếu trách nhiệm không chu toàn bổn phận của mình! Ăn cắp là tội ác làm thiệt hại tha nhân, khi chủ trương đi ăn cắp, cậu ta vi phạm vừa luât đạo vừa luật đời. Mạnh dạn, vì bà ta dám nói thẳng vào mặt cậu tra trẻ không sợ bị trả thù. Mạnh dạn vì bà ta bắt phạm nhân phải nhìn nhận hành động sai trái của mình, mạnh dạn vì bà không biện minh, bênh vực cho ai, nhưng chỉ muốn làm sáng tỏ công lý!

b-Khôn ngoan, vì bà nói với phạm nhân, không phải với uy quyền của ông chánh án, nhưng nói với trái tim của một người mẹ, bà khôn ngoan vì đánh trúng điểm tâm lý, cố khêu gợi lên trong lòng phạm nhân tình thương cảm và sự đau lòng của người mẹ, như thế, bà vừa đánh một lúc hai chiến trận, bà vừa làm sáng tỏ công lý, bắt phạm nhân nhìn nhậm một thực tế phủ phàng là mình đã vi phạm lề luật, mặt trận thứ hai là bà làm cho cậu ta phải mềm lòng vì tình thương người mẹ, nhờ đó, trong lòng cậu đã loé lên sự ăn năn thống hối, sẳn sàng chấp nhận chịu hình phạt vì tội mình gây nên!

c-Thực tế, bà không lý luận suông, hay chỉ lấy lòng cậu trai trẻ một cách mỵ dân, nghĩa là dùng những lời khôn ngoan cốt đẻ chinh phục người khác vì tô0 aí, co ngạo của mình thôi, khôngnhắm mục đíc gì nữa. Trong trường hợp nầy, người đàn bà rất thực tế, trong cách đề nghị hình phạt áp dụng thực tế cho phạm nhân, tức là đặt phạm nhân dưới quyền giám hộ cua mình, để ra tay giáo dục nhằm cải hoá con gười của chàng trai. Thực tế, vì đó là cách trừng phạt qua con đường giáo dục, một qúa trình giáo giáo hóa con người, nhất là đối với giới trẻ! Cả ba đức tính mạnh sdạn, khôn ngoan, thực tế đều nói lên một đều là bà ta có lòng từ tâm, bà bênh vực cho công lý, nhưng công lý là nhằn giáo hóa thương xót con người. Chính lòng từ tâm nhân ái của b7 đã khiến bà có thêm can đảm, dám dấn thân vào một việc khó khăn, là dám giáo hóa một thạnh niên phạm pháp, không bằng hình phạt vũ lực, nhưng bằng tình thương và niềm tin của bà. Bà tin vào tình thương, tin vào con người, và dám hy vọng mình sẽ làm được việc giáo hóa con người. Bà không ngần ngại khi tin vào bảmn tính tốt lành của con ngưừi, tức là tin vào"Nhân chi sơ, tính bản thiện". Có lễ bà nói thay câu nói của cô bé Do-Thai Anna Franks:"Dẫu sao chăng nữa, tôi vẫn tin vào con người"!

Chấp nhận con người, ngay cả trong tình trạng tội lụy nhơ nhuốc, dể yêu thương, để cải hóa, để thăng hóa nhâm phẩm cũa con người! Đó là con đường thiên Chúa đối xử với nhân loại. Đó là lịch sử cứu cghuộc củatôi và của bạn! Đó là cách thế, chúng ta được mời gọi đi vào mối tương giao với Thiên Chúa chúng ta!

Bây giờ hãy đẻ cho tâm tư lắng đọn, hãy đẻ cho những lý thuyết nằm yên, hãy đễ lời Phúc Thật thứ năm vang vọng tận đáy lòng"Phúc cho ai có lòng từ tâm nhân ái, vì sẽ nhận được lòng xót thươg"(Matt 5:7)

 

Cám Dỗ Trở Nên Pharisêu Thời Đại

Khi Chúa lê chân rảo bước trên khắp nẻo đường xứ Palestina, từ đồi núi đến bờ biển, từ thành thị đến thôn quê, lòng Ngài không mong gì hơn là giáo thuyết Bát Phúc của Ngài được người đời chấp nhận làm mẫu mực của đời sống hạnh phúc!nhất là đối với những ai chọn Ngài là đường chân lý. Một khi người tín hữu hăm hở chấp nhận và lựa chọn một trong Bát Phúc làm lý tưởng sống, Thiên Đàng hãy còn xa, phiền lụy hãy còn nhiều! vì nếu không có một lòng đạo đức cao độ, một sự quân bình đời sống tuyệt diệu, người con cái của Chúa vẫn còn cái nguy cơ liều lĩnh đi vào cơn cám dỗ biến thành pharisêu tân thời! Ví dụ sự liều lĩnh đi vào nguy cơ đới với những ai hăm hở ôm ấp lý tưởng công lý làm lẽ sống, nếu khônh khôn khéo, họ có thể đi đến chỗ đánh mất cảm thức về tình trạng tội lỗi và yếu đuối của thân phận làm người!

Chúa Kitô ý thức được sự liều lĩnh mất thăng bàng trên, nên người đã có dụng ý khi kể cho các môn đệ về dụ ngôn có hai người lên đền thờ cầu nguyện!

Tại sao con người cần phải lên đền thờ cầu nguyện? Để được lượng định gía trị của mình! Được lượng định gía trị, là một nhu cầu thiết yéu của con người! Được lượng định gía trị có nghĩa là muốn biết thực trạng lân lý tính của chính mình, có nghĩa là con người muốn biết xem ình xấu tốt đến mức nào! Một con người dẫu có sa đọa, hư đốn tới đâu, vẫn muốn đứng dậy lên đường đi về tìm nguồn chân thiện mỹ, để thấy mình còn là mình, để thấy mình còn là người được Thiên chúa đóng ấn luân lý treên trái tim, chôn vuì trong thân xác! Thân xác ấy dẫu có bị vuì dập bởi sóng gió ba đào, đẫu có bị gông cùm hãm nhố bởi dục vọng và tội lỗi đến đau chăng nữa, con người , tự sâu thẳm trong trái tim, niềm khát vọng muốn thấy mình còn gía trị luân lý! chính gía trị luân lý ấy là tiếng chuông làm cho con người tỉnh giắc mê phù phiếm!

Hai người lên đền cầu nguyện trong chuyện Chúa kể, một người thuộc giai cấp biệt phái, còn người kia là một kẻ thu thuế vô danh tiểu tốt, hạng người bị xã hội coi khinh vì làm tay sai cho ngoại lai, áp bức, bóc lột dân chúng!

Những người phái pharisêu tự kiêu tự phụ về lòng trung thành tuân giữ lề luật Moisen trong từng chi tiết nhỏ nhặt! Họ là những người Do-Thái đạo đức, tận tụy duy trì và phát huy truyền thống văn hóa đặc thù của tổ tiên họ, ngay cả trong những thời kỳ bị ngoại bang đô hộ!Những người dân nghèo nàn đơn sơ tán dương, ca tụng họ, phong cho họ là bậc thày của của đại chúng, họ có một thế đứng oai phong trong cộng đoàn những người Do-Thái.Họ đóng vai lảnh đạo, hướng dẫn quần chúng! Không lạ gì khi những người pharisêu khinh khi miệt thị đám người gọi là Republicans, thu thuế, tay sai của quân xâm lược Roma! Những người thu thuế, vì miếng cơm manh áo phải làm công cho quân đội viễn chinh, bị mang tiếng là những kẻ phản quốc, chống lại với truyền thống của tổ tiên! Xã hội Do-Thái nhìn những người thu thuế như những con người không còn chút gía trị, tóm lại, họ bị coi là phường tội lỗi!

Để giúp các môn đệ đề cao cảnh giác khỏi vướng vào "men Biệt-Phái", khỏi sa chước cám dỗ tự cao tự đại, khinh khi tha nhân, đồng thời giữ cho môn đệ có sự thăng bằng, không liều lĩnh theo lý tưởng mà quên lảng đi con người bằng xương bằng thịt, quen đi chân lý căn bản nầy là con người vốn bản tính dòn mỏng yếu đuối, thuộc về gia đình nhân loại tội lỗi cần lòng từ tâm nhân aí của Thiên Chúa.

Chúa Kitô dùng dụ ngôn hai người lên đền cần nguyện để bày tỏ với các môn đệ việc lượng định gía trị của Chúa khác xa sự lượng định của con người! Vì bậc thang gía trị của Chúa cũng khác với bảng gía trị của con người! Ngài phán bảo họ:" Người Biệt Phái đứng sững nghênh ngang cầu nguyện độc thoại với chính mình mà rằng:" lạy Chúa tôi, tôi cảm đội ơn Ngài vì tôi không giống nh3 nhữngngười khác gian tham, bất lương, ngoại tình, hay là như tên thu thuế tội lỗi kia!Tôi ăn chay mỗi tuầnhai lần, tôi dâng cúng cho đề nthờ một phần mười bổng lộc! Trong lúc đó, người thu thuế đứng lén đàngxa xa, không dám ngước mắt lên nhìn trời, nhưng một đấnm ngực mà rằng:"Lạy Thiên Chúa, xin khấng thương xót tôi là kẻ tội lỗi"!

Ta bảo các ngươi, người nầy ra về được ơn tha thứ, còn người kia thì không, vì hễ kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống, sẽ được nhắc lên"( Luca 18:11- 14a)

Kết qủa của việc lên đề cầu nguyện: người thu thuế ra về được ơn tha thứ, còn người biệt phái trở về nhà tay không! Lý do sâu xa là tại vì người biệt phái không tìm gặp Thiên Chúa, cũng chẳng cần chi đến Ngài! Ông ta không cầu nguyện với ai cả, nhưng là độc thọai với chính mình. Lòng tự cao tự đạii của ông qúa cao khiên ông không còn nhìn thấy ai khác, ngoài chính cái tôi kiêu căng tự phụ! Ông đã tự xây ngục tù và tự nhốt mình vào trong đó! Bức tường của tự tôn mạc cảm đã che khuất mắt mũi của ông! Ông ta đứng sững nghênh ngang, chẳng còn nhìn thấy gì, chẳng còn trông thấy ai, ngoài mớ công đức do mình tạo nên để khoe khoang, tự phụ! Ông không cần Thiên Chúa lượng định gía trị, vì chính ông đã tạo nên gía trị do các hành vi của bản thân. hành động như thế, người biệt phái tự tách lìa mình xa khỏi gia đình nhân loại, khi ông không muốn giống như những con người khác, ông cũng đánh mất luôn Thiên Chúa, vì ông hết còn biết cần Thiên chúa để làm gì, ngoài việc để nghe ông ta khoe khoang về thành tích nhân đúc của mình! Một khi cô lập khỏi cộng đồng nhân loại, khinh khi, lên án và xa lánh con người bằng xương bằng thịt, ông ta trở nên tha hoá, phóng thể, trở nên xa lạ với chính mình, không còn sống"ở đời, và với tha nhân nữa". Nói theo danh từ triết hiện sinh, người biệt phái trở thành vong thân! Từ vong thân đến vong ân cùng Thiên Chúa không bao xa. Khi ông ta khước từ con người, ông cũng hết lý do liên hệ với Thiên Chúa nữa, vì Thiên Chúa là Cha nhân ái đối với con nguời lầm than, kêu van cần tình yêu thương tha thứ của Ngài!

Cám dỗ của "Men Biệt-Phái" là đây! Tức là khi con người tưởng mình là thần thánh, quên đi gốc tích phàm hèn của mình, quên đi thân phận làm người trong sự dòn mỏng, trong cảm năng tội lỗi yếu đuối! Tóm lại, mất đi sự thăng bằng của đời sống con người! Khi kể dụ ngôn trên, Chúa có giáo huấn các môn đệ không đi vào đường mòn của người biệt phái, con đường đưa đến sự tự hủy diệt mà thôi!

 

Lòng Thương Xót và Công Lý Luôn Song Hành

Chúa Kitô không trách cứ những nỗ lực theo đuổi công chính của biệt phái, đều tai hại, cứ tưởng mình là công chính để rồi khinh chê người khác, lên án mạ lỵ đồng loại, khinh thường những người không có may mắn hoặc gặp hoàn cảnh ưu đãi như mình! Chúa Kitô khi long trọng tuyên dương Phúc Thật cho những ai có lòng thương xót người, là cố ý giáo huấn các môn đệ cần có sự thăng bằng trong cộc sống, cho dẫu hăm hở theo đuổi sự công chính, cho dầu ôm trọn công chính như lý tưởng cuộc đời, người môn đệ Chúa cần có lòng từ tâm nhân ái. Nói khác đi, sự công chính cần được đo lường bằng trái tim từ tâm nhân ái, bằng hành động độ lượng khoan dung. Dẫu đang chiến đấu cam go dành lại công chính cho đời, con cái Chúa luôn phải có trái tim yêu thương tha thứ đối với những ai không cùng một chiến tuyến với mình! Cũng như đức công chính chú trọng đến việc sai quấy như một dữ kiên, lòng từ tâm dung thứ chú tâm đến con người gây nên sự sai quấy, với mục đích giúp con người đó có cơ hội sửa sai để trở nên hoàn bị hơn.

Hăm hở theo đuổi công chính mà thiếu đi trái tim độ lượng khoan dung, chúng ta dễ đi vào nguy cơ đánh mất cảm quan là con người và thân phận làm người của mình! Dẫu bản thân ta có đạt tới mức công minh chính trực bao nhiêu chăng nữa, chúng ta không quên chân lý nầy: chúng ta thuộc về gia đình nhân loại yếu đuối tội lỗi! Tính cách dòn mỏng, yếu đuối tội lỗi đã ghi dấu đặm đà trên thân phận làm người của ta, như một nét đặc thù: là con người, có nghĩa là có thể sa đoạ, hư đốn ! Thánh phaolô khẳng dđịnh, "trong tôi có mầm mống của mọi sự dữ, nếu không có ơn thánh của Chúa phú trợ, tôi có thể làm bất cứ đều đồi trụy nào mà người ta làm được!(....)

Nhìn nhận thân phận và điều kiệnlàm người giúp ta biết cư xử từ tâm khoan dung với anh em đồng loại, nhất là những người đang sống trong vòng kiềm tỏa của dục vọng, tội lỗi!

Mặt khác, để giúp ta biết khiêm nhu nhân ái đối với tha nhân, ta nhận diện nhu cầu khẩn thiết của cuộc sống riêng tư của chính mình, đó là hu cầu cần đến lòng từ tâm độ lượng của Thiên Chúa! tác gỉa ThánhVịnh nhắc nhớ ta:" Nếu Chúa chấp tội Chúa ơi, nào ai sống nổi, nhưng vì trong Chúa có ơn tha thứ, làm cho nhân loại được nhờ”

Là một phần tử của gia đình con cái Chúa, mỗi hành động ta làm , tốt hay xấu , đều có âm hưởng đến các phần tử khác, là anh chị em ta. Tục ngữ Viẹt có câu, một con sâu làm rầu nồi canh" hoặc, "một con ngựa đau, cả tàu biếng cỏ"! Thánh phaolô khẳng định về tính cách liên dđới mật thiết giữa cá nhân và cọng đoàn dân Chúa:"có ai buồn sầu khổ sở mà tôi sung sướng được sao, có ai hư hỏng mà tôi vui mầng sao...vui với nguời vui, khóc lóc với những ai khổ sầu...tôi trở nên tất cả cho mọi người..Omnia omnibus factutus sum)..Nhân lọa mang theohình ảng của ta, và ta mang theo hình bóng của nhân loại...Cứ nhìn thật sâu vào đáy của con tim, hãy lắng đọng tâm hồn, chúng ta sẽ phám phá ra cội nguồn và dấu vết tội ác ghi rõ vết lằn trong ta! Khuynh hướng về sự dữ và dấu vết tội lỗi ghi đậm nét trong lòng nhân tính của ta. Tự sức lực riêng tư, ta hoàn toàn bất lực vượt thoát khỏi vực sâu ngun ngút nầy! Thánh Phaolô có lần đã kêu lên: " Khốn thân tôi! Ai sẽ cứu tôi khỏi trạng huống đen tối tội lỗi nầy! Đều phải làm tôi lại không làm, đều tôi không muốn, tôi lại làm"! ( I Cor....)

Tự vực sâu thăm thẳm của kiếp đọa đày, con người nâng tâm hồn lên cùng Chúa, tha thiết kêu cầu Ngài cứu giúp:" Trong gian nan tôi đã kêu cầu, và Chúa đã lắng tai nghe tiếng tôi van xin" ! Thật vậy, Chúa không bao giờ làm ngơ trước tiếng van xin câù khấn của ta, Ngài lắng nghe lời cầu của ta với tình thương yêu nhân ái. Ngài chấp nhận lời nguyện xin của ta với tất cả thứ tha thương xót!

Cảm nghiệm được lòng từ tâm nhân ái của Chúa, chúng ta mới thấm thía sứ điệp vang vọng trong Phúc Thật thứ năm:"Phúc cho người có lòng thương xót". Lòng thương xót người là mỗt ân huệ, một qùa tặng tù cung lòng Thiên Chúa! Ai đối xừ nhân aí xÔt thương đối với đồng loại, người đó sẽ được thiên chúa chúc phúc cho, vì họ đi trong quỉ đạo yêu thương của Thiên Chúa! Họ trở nên nhân aí độlượng như Cha trên cư xử đô lượng với hết mọi loại thọ sinh! Yêu thương tha thứ được coi như trọng tâm giáo thuyết của Chúa Kitô, mà Ngài gọi là giới răn mới:" Thầy ban cho các con một giới rănmới làcác con hãy yêu thương nhau! Cú dấu nầy, thiên hạ nhận biết các con là môn đệ của ta, làcác conbiết yêu thương nhau! TTrong suốt ba năm đi rao giảng tin mầng, Chúa Kitô đã dùng mọi cơ hội, dùng nhiều ví dụ, nhiều câu chuyện khác nhau để quảng diễn giáo thuyết mới của Ngài, giaó thuyết Yêu Thương. Bởi vì Yêu-Thương định nghĩa bản vị của Thiên Chúa:" Deus caritas est!" Thiên Chúa là tình yêu"(1Jn 4,8-16) Thánh Gioan qủa quyết thế!

Nói theo ngôn từ triết học, yếu tính của Thiên Chúa là hữu thể tự hữu, mà hiện hữu theo cách thế đặc biệt của Ngài là yêu thương . Nói khác đi, tình yêu là con đường đưa ta đến sự hiểu biết về Tiên Chúa, không chỉ bằng trí thức, mà cảm nghiệm bằng toàn diện hữu thể con người! Chúng ta không ngần ngại khi khẳng định Tình Yêu mặc khải cho ta , vén màn bí mật về thực thể của Thiên Chúa! Nói theo ngôn từ thân thương của thánh Gioan:" Ai biết yêu là biết Thiên chúa"! (1Jn 4, 7)

Cảm nhận như thế, Thiên Chúa không còn là một cái gì xa lạ với con người, Ngài là chính sức sống của nhân loại, một sức sống dạt dào tuôn chảy từng giây phút qua giòng huyết quản, và qua từng nhịp đập của trái tim. Khi trái tim ngưng đập, sự sống chấm dứt! khi con người hết biết yêu thương, dẫu thể xác còn sống, nhưng tâm linh coi như đã chết rồi! Thánh Gioan còn qủa quyế mạnh mẽ hơn, khi Ngài nói:" Ai biết yêu thương, người đó nhận biết Thiên Chúa! Khi hết còn biết yêu thương, con người không cảm nghiệm được Thiên Chúa nữa"! Nói khác đi, yêu thương đòng loại, là con đường Thiên Chúa bày tỏ chính mình cho con người, vì Ngài là một thực thể sống động trong chính thực thể sống động của nhân loại. Thực thể đó chính lá tình yêu thương nhân ái!

 

Người Samaritano, Hiện Thân Của Lòng Thương Xót

Chúa Kitô, trong qúa trình huấn luyện các môn đệ, luôn luôn dạy cho các ông bằng những hình ảnh, những dụ ngôn lấy chất liệu trong đời sống, về lòng yêu thương đồng loại! Một ngày kia , có một học sĩ đến hỏi ngài những câu hỏi hiểm hòc, khi trả lời câu hỏi ông ấy đưa ra: "Ai là người đòng loại của tôi"?Chúa trả lời ông ta bằng cách kể câu chuyện "Người bộ hành xấu số"đi tù Jerusalem tới Jericho, dọc đàng chẳng may bị sa vào tay bọn sơn tặc! Sau khi bóc lột hết tiền bạc, người bộ hành khốn khổ bị bọn cướp đánh cho nhừ tử rồi bỏ dở sống dở chết quằn quại bên đường. Xảy ra là có thầy tư tế cũng qua đường đi về hướng ấy, ông ta trong thấy cơ sợ bèn lánh sang một bên đường rồi đi vợi vàng! Ít lâu sau đó có thầy Lêvi cũng qua lối ấy, khi trong thấy sữ tình, ông nầy cũng vội vàng bỏ đi vì sợ phải liên lụy! Sau cùng, có một bộ hành người dân ngoại sứ Samarita cũng qua đường, khi trông thấy tình cảnh người bộ hành bất hạnh, ông ta bèn xuống ngựa, lấy rượu dấm ra mà rửa rấy băng bó nạn nhân,( Luca 10; 29-35) Sau cùng vực nạn nhân lên ngựa về quán trọ cho tiện bề săn sóc. Sáng mai, trước khi đi lo công việc, ông ta kêu chủ quán ra dặn dò phải chăm sóc nạn nhân chu đáo, khi xong việc trở về sẽ trả công cho bộ hậu! Kễ đến đó, Chúa Kitô đưa mắt nhìn ông luật sĩ và hỏi ông:" Trong ba người qua đường trên đây, ai là đồng loại của người bộ hành xấu số? ông luật sĩ trả lời không ngần ngại:" Người đã tỏ ra lòng thương xót cứu giúp đối với người kẻ gặp hoạn nạn!" (Luca 10: 36-37).

Qua câu chuyện, Chúa Kitô muốn dạy các môn đệ về cách lượng gía của Chúa khác xa cách thức của thế gian: người mà quần chúng Do-Thái khinh khi, coi rẻ là "tà ma ngoại đạo" lại có tác phong hào hiệp, nghĩa khí, có lòng nhân đạo, biết thương xót cưu giúp ngưưòi đồng loại! Trong lúc đó, hạng người được quần chúng đề cao khen ngợi, chiếm một chỗ đứng cao trên bực thang gía trị , người mà dân chúng tôn trọng cung kính với danh hiệu “ hàng đạc đức", tượng trưng cho những gì linh thiêng cao quí của tôn giáo truyền thống dân tộc của họ, lại tỏ ra hết sức hèn mạt, nhu nhược, thiếu tình người trong cách cư xử đối với kẻ gặp rủi ro hoạn nạn! Những người mà Chúa đã dùng miệng lưỡi tiên tri Isaia lên án :

"Dân nầy kính ta bằng môi miệng, còn lòng trí chúng ở xa ta"( Is.39,13; Mt 15,8.).

Nói tóm lại, Chúa dùng lòng thương xót, tình bác ái làm chiếc cân để xem xét, để lượng định giá trị con người! Gía trị nội tại của con người không căn cứ vào giai tầng xã hội hay địa vị cao thấp trong vai trò tôn giáo, mà là ở tấm lòng từ tâm độ lượng nhân ái của người đó đối với đồng loại! Sự ngộ nhận tai hại của truyền thống Do-Thái đối với dân ngoại Samarita là một lầm lẫn ghê gớm cần phải sử đổi!

Chúa Kitô đã dâng hiến các môn đệ Do-Thái của ngài cơ hội bằng vàng để học hỏi và sửa đổi! Một khi đã trở thành môn đệ của Chúa Kitô rồi, không còn biên giới chủng tộc, không còn hàng rào của văn hóa truyền thống, không còn phân ranh giữa người với người: tất cả đều là anh em trong một đại gia đình nhân loại mà Thiên Chúa là vị Cha Chung! Ngài là Cha của mọi tình nhân ái! Cũng như người Samarita trong câu chuyện, khi đối diện với nạn nhân cần sự cứu giúp, ông ta không bận tâm cật vấn:" người nạn nhân nầy là ai? là người Do-Thái hay dân ngoại? Ông cũng không cần biết đến ngyên nhân tại sao xảy ra tại họa? ai đã gây nên và tại sao? Người Samaritanô tốt lành nầy đã siêu vượt trên những chi tiết nhỏ mọn, chỉ có một đèu ông quan tâm đến, một đêu ông phải tay thi hành là cứu giúp người đang trong cơn đau khổ, không cần biết người ấy là ai, chỉ biết đó là một người cần sự giúp đỡ! Người Samaritanô nầy không phân biệt biên giới của "tình người"! vì biên giới của tình thương là thương khơng biên giới"! Thương không điều kiện, thương không bien giới là tình yêu thương khởi nguyên nơi Thiên Chúa, đó là một thứ tình yêi thương chân chính, bất vị lợi, là "tình cho không biếu không", tình như một quà tặng, một trao ban nhưng không cho người cần tình yêu thương!

Quần chúng Do-Thái lần đầu tiên nghe câu chuyện "Người Samaritanô tốt lành",và ngay cả các môn đệ của Chúa nữa, có lẽ đã mở to đôi mắt ngạc nhien khi Chúa nói: "Người dân ngọại Samarita giúp người Do-Thái"! Một điều không thể tưởng tượng nổi đối với truyền thống tôn giáo và văn hoá Do-Thái! Với truyền thống nầy: Dân ngoại là tà ma ngoại đạo, là xấu xa thấp kém, Do-Thái là Do-Thái: Một bên là Đạo, một bên là đời: Đạo-Đời hai ngã song đôi, như hai đường tàu song đôi mà kgông bao giờ gặp gỡ, như hai giòng sông song đôi, không bao giờ hội ngộ! Truyền thống tai hại đã ngụy tạo nên những làn ranh chia cắt, đã gieo vào lòng người những ngộ nhận mù quáng, đã phát sinh ra những cừu hận không bao giờ có thể phai nhoà! Đó là lý do cho thấy tại sao có sự cừu hận truyền kiếp giữa hai dân tộc Do-Thái và Samarita!

Tại sao có lòng đố kỵ giữa Do-Thái và các dân ngoại khác! Chúa Kitô muốn dạy các môn đệ của Ngài rằng "Nước Trời" không có biên giới, Tình Yêu-Thương Thiên Chúa dành cho con người không còn giới hạn! Khi "Nước Trời" hiển trị, sẽ xảy ra hiện tượng" Tứ Hải Giai Huynh Đê": người trong bốn bể là anh em! Yêu thương sẽ chan hoà tràn ngập đó đây!

VietNam

 

 

Ai Là Người Đồng Loại Của Tôi?

Câu hỏi được nêu lên từ hai nghìn năm lịch sử, hiện đang đực vả sẽ còn được nêu lên giữu lòng nhân loại đầy nghi nan :" Ai là đồng loại của tôi?

Người luật sĩ, đầy chữ nghĩa trong câu chuyện Kinh Thánh, ông học biết hiều đều, nhưng có mọt điều thật cơ bản của con người ông không hiểu được "Ai là đồng loại" của ông?

Giòng lịch sử của nhân loại vẩn trôi đi biền biệt, và con người với năng khiếu tri thức nhất trong muôn loài thụ tạo, con người vẩn từng nghìn năm miệt mài trong câu hỏi ngớ ngẩn:" Ai là đồng loại" của mình?

Vì con người chưa tìm biết ai là đồng loại của mình, cho nên chiến tranh vẫn tiếp tục chiến tranh,và con người vẫn nhân danh tình đồng loại để ghét bỏ và chém giết lẫn nhau! Chiến tranh mãi mãi là trò chơi thô bỉ trong đó con người chối bỏ con người, con người giết chết con n gười dưới danh hiệu vì tình đồng loại! Từ Feurbach, Card Max đến Stalin, Lenin, mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và các ông trùm cọng sản khác vẩn hô hào giải phóng con người, đi tìm hạnh phúc cho con người, và nhân danh con người"mai sau" của xã hội chủ nghĩa, độc lập tự do hạnh phúc để triệt hạ hằng triệu sinh linh, để giết hại hằng triệu con người bằng xương bằng thịt trong càc trại giam khổng lồ, trong các nhà tù vĩ đại! Qua hai cuộc thế chiến, trong cuộc chiến tranh lạnh, cuộc phân tranh thế giới thành tư bả tụ do, hai phe đối nghịch vẫn nhân danh đồng loại để mà giết con người! Tai sao?Bởi vì đâu? vì loài người còn chưa biết ai là đồng loại của mình!

Người luật sĩ, chữ nghĩa đầy mình, mà không biết đồng loại mình là ai! Qua người luật sĩ, chúng ta có hình ảng của thế giới văn minh tiến bộ, kthế giới của kỷ thuật khoa học vượt bực hôm nay, đui mù, thui chột mà ác độc hơn loài người tiền sử ăn lông ở lỡ, không biết xót thương con người, vẩn nhân danh đồng loại mà chối bỏ con người!:

"Ai là đồng loại của tôi"?

Chúa Kitô trả lời người luật sĩ, một lần thay cho toàn thể gia đình nhân loại, và thay cho suốt dọc giòng lịch sử của tư duy của con người, bằng cách đặt câu hỏi trên lương tâm của người có trách nhiệm trước lịch sử và trước Thiên Chúa: "Ai trong ba người trong câu chuyện là đồng loại của người xấu số lâm nạn"?

Chân lý ló dạng, ngời sáng từ lương tri, nhân tính của con người , với tư cách là người, qua mọi thời đại, đã vang vọng từ môi miệng của nguời luật sĩ:" Người có lòng từ tâm, nhân ái, biết xót thương trợ giúp đối với người trong cơn hoạn nạn!(Luca 10: 36).

Và Chúa Kitô đã long trọng tuyên dương tấm lòng từ tâm nhân aí, đựợc phát biểu qua câu trả lời của người luật sĩ :" Cả ông nữa, hãy đi và làm như thế, ông sẽ tìm được cuộc sống muôn đời"!(Luca 10:37)!

Đọc lại câu chuyện Người Samarinô tốt lành, một đèu làm ta phải chú ý, là Chúa Kitô không dạy các môn đệ về tình nhân ái, không phải bằng lý thuyết trừu tượng cao xa, nhưng bằng chính thực tại của con người! Con người xưa hay con người hôm nay vẫn là con người, nạn nhân của sự tàn bạo do đồng lọai của mình gây nên! Lòng nhân ái Chúa đề cập đến là tình yêu thương trợ giúp cho con người trong cơn hoạn nạn! Con người đang kêu gào tình thương của con người! Con người cảm thấy mình bất lực, đang cần đến những bàn tay, và những trái tim của con người! Nhận thức được lòng từ tâm nhân ái là chính hành vi của Thiên-Chúa nơi con người, cho con người, chúng ta bắt đầu lắng nghe sứ điệp của Chúa Kitô, theo bước chân của Ngài trên con đường sứ mệnh! Vẫn biết đường sứ mệnh "lấy yêu thương đáp lại oan khiên! Đem nhân ái thế niềm thù hận" là con đường gian khổ chông gai, đối với con người, vì thế ta cần học đức khiêm cung, biết đặt hết niềm tín thác vào Chúa, biết xếp lại một bên, những suy đoán hàm hồ, những thói quen thành kiến, biết dẹp đi những dự phóng, những ước mong có tính cách trần thế nhấ thời, biết hãy chấp nhận đường lối của Chúa! Đó là những tâm tình cần có của người môn đệ muốn tâm thành lắng nghe sứ điệp "Mối Phúc Thứ Năm"! Bài tường trình của Thánh Gioan về buổi chiều Phục Sinh, vén màmn cho ta thấy hành vi , thái độ của Chúa Kitô quang toả sứ điễp của Ngài:

" Vào lúc xế chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi ở của các môn đồ, các cữa đều đóng kín, vì sợ người Do-Thái, Chúa Kitô đã đến , đứng giữa họ và phán:"Bình an cho các con"! Nói thế rồi, Người cho họ xem chân tay và cạnh sườn của Người! Các môn đệ mầng vui hớn hở vì được trông thấy Chúa! Một lần nữa, Người lại phán bảo các ông : " Bình an cho các con! Cũng như Cha đã sai ta, ta cũng sẽ sai các con"! Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên các môn đệ mà nói:" Hãy nhận lấy Thánh Thần, Các con tha tội cho ai, tội họ được tha, các con cầm giữ tội ai, tội họ bị cầm buộc"!(Jn 20: 19-23).

Với văn mạch thật trong sáng, tác gỉa đoạn Kinh Thánh có dụng ý dùng lời tuyệt diệu: hai chữ "Môn-Đệ" được lặp lại hai lầm với chủ ý nói lên nhữngngười đang "học "baì yêu thương tha thứ của Thầy! Câu " Bình an cho các con" cũng được lặp đi lặp lại vơi chủ ý giải thích về hành dđộnh và thái độ của Ch6a Kitô trong hoàn cảnh thật đặc biệt nầy! Lý do Chúa nhắc đi nhắc lại "Bình an cho các con" là cố ý đánh tan mặc cảm tội lỗi của các môn đệ! hơn một lần! Ngày Chúa lâm nạn, các ông bỏ Ngài "dọt lẹ", đào tẩu vì nhát đảm hay vì sợ liên lụy! Các ông chạy trốn như những kẻ phản thầy! Mới ngày nào đó thầy trò "đồng tịch đồng sàng", cùng sát cánh với Thầy trên con đường truyền giáo, mớingày nào đó được Ngài cho chứng kiến những dấu kỳ phép lạ! mới lúc nào đây đầu dựa bên lòng Chúa cùng chung chén biệt ly với bao hứa hẹn thề nguyền:" Dẫu cho ai bỏ Thầy! chúng con thề hứa sống chết bên Thầy! Thế mà khi giờ nguy cơ vừa tới, khi vừa giáp mặt quân thù trong Vườn Vườn Nuí Cây Dầu, đã vội vang co dò tẩu thoát yên thân, để lại mình Thầy một mình trong tai biến! Thầy bị hành xử bất công, Thầy bị toàn dân lên án tử hình, bị hành xử, bị treo trên thập tự ô nhục trên đồi Calvê trơ trọi, chỉ có Mẹ Ngài với người môn đệ trẻ và mấy bà đạo đức đứng dưới chân thập tự khóc than não lòng! còn đoàn đôn đảo các môn đồ thân tín đang chui lủi trong đo thành tìm yên thân! Câu chuyệm phản thầy với mặc cảm tội lỗi còn ngun ngút tâm tư các ông! Thấy Chúa đứng sừng sửng trước mặt nhưng các ông vẫn còn bán tín bán nghi, lòng các ông bối rối như tơ vò, biết ăn nói sao đây, biét dùng lời nói nào đây, biết dùng lý giải nào đây về câu chuyện bỏ Thầy tẩu thoát! Chúa Kitô biết lòng dạ các ông, biết vì quá sợ hãi, khiếp nhựợc, còn "rất con người" tham sống sợ chết, cho nên mới bỏ Ngài tẩu thoát! Chúa đọc thấy từng nhịp thở áy này mà rộn ràng có buồn vui lẫn lộn, có vui sướng xen ngậm nguì, có tự hào pha lẫn niềm tuỉ nhũc! Chúa biết thế, nên câu nói đầu tiên Ngài rót thấm vào đáy lòng các môn đệ:" Bình an cho các con"! Nhu cầu khẩn thiết của các môn đệ lúc ấy là "Bình-An", một sự bình an đúch thực không ai cban cho họ được, vì hai tiếng bình an ấy mang một ý nghĩa rất đặv biệt, đó là sự "Tha-Thứ", hai chữ "Bình-An" dường như cánh thiên thần mang sứ điệp "Tha-Thứ" xuống cho các môn đệ từ cung lòng Thiên Chúa! Với sứ điệp "bình an tha thư" đó, Chúa Kitô muốn qủa quyết với các môn đệ là Ngài bỏ lại đàng sau trong qúa khứ, những gì đã xảy ra! Ngài đã chôn xuống mộ sâu những qúa khứ bội phản vì yếu đuối của các ông! Mặc dù các ông đã hèn nhát bội phản bỏ rơi Ngài, Nhưng chiều nay Ngài đến đây mang cho các ông một tình yêu tha thứ trọn vẹn!Qúa khứ đã không còn! Thầy đây! các con dđừng sợ hãi, hãy an tâm! hãy mầng vui, hãy can đảm mạnh dạn lên! Chuyện cũ đã không còn! Các con cần vui mầng can đảm hăng say tiếp tục con đường sứ mệnh! Ngày thương Khó chỉ là một chút thử thách lòng người! Chúa nhấn mạnh đến một đều làm các ông ngạc nhiên là:" Hãy nhận lầy Chúa ThánhLinh". Ngài muốn nhắc các ông một chân lý mà ngài đã có lần đề cập trong bữa " Tiệc-Ly" về nhu cầu"Nhận Lấy Thánh-Thần". Để mặc cho sức riêng của con người trần tục, sứ mệnh linh thiêng khó được chu toàn vì yếu đuối tội lỗi, việc các con bỏ thầy là chuyện bình thường có thể xảy ra cho con người! Vậy muốn tiếp tục con đường sứ mẹnh , các con cần thiết" Nhận Lấy sức mạnh của Chúa Thánh Linh", vì Chúa Thánh Linh là Đấng Cha gửi xuống hoàn tất công trình cứu chuộc! Với lời "Bình An", Chúa Kitô đưa các môn đệ ra khỏi thảm trạng mặc cảm buồn sầu! Với tình yêu thương tha thứ trọn vẹn, Chúa đưa đến cho các ngài nguồn sinh lực mới, niềm tín thác mới mà các ngài cần thiết để thi hành sứ vụ đưa "Tin-Mầng" đến cho đồng loại! Chúa nhắc đến nhu cầu nhận lãnh Thánh Thần, vì nhờ quyền lực mới của Thánh Thần, các ngài mới đủ khả năng tha thứ như chính Chúa đã tha thứ cho các ngài. Tình Yêu tha thư đến từ Thiên Chúa! nhằm đưa con người trở về với Thiêm Chúa!

 

Cảm Nghiệm Bị Tổn Thương, Lăng Nhục

Ai đã sống và lớn khôn trong cuộc đời mà không có những giây phút cảm nghiệm bị tổn thương, nhục mạ, dèm pha hoặc bị người đời bày đều đặt chuyện cố ý bôi nhọ thanh danh, mà lý do chỉ vì ghen ghét tỵ hiềm!?

Ai đã làm ơn cho người mà không có những lần bị mắc oán, rước họa vào thân?!

Chúa Kitô là vị đại ân nhân của nhân loại, thế mà loài người đã trả ơn Ngài bằng cách đóng chân tay Ngài vào thập tự gía, chết nhục nhã như một tội phạm!

Nếu bạn có cảm nghiệm về bất công , bị lăng nhục, hàm oan, uất nghẹn do lòng độc ác của người đời, bạn đừng lấy làm lạ, vì đó là lối đi của những ai được mời gọi để chia sớt phần cay đắng nhục nhằn với Đức Kitô, Đấng đã làm gương chấp nhận khổ nhụcvì Nước Trời, và tấm gương sống động cho Tám Mối Phúc Thật!

"Phúc Thật Thứ Năm" khuyên ta biết chấp nhận hai yếu tố "thắt-buộc, cởi-mở" như những thực trạng của cuộc sống trần gian! Hành vi "thắt-buộc, cởi mở" được hình thành khi giữa con người, hai bản ngã, có lời qua tiếng lại đầy cay chua miả mai nhức nhối, những hành động vô ý thức, những cảm giác thù nghịch! Người ta ác cảm với nhau, thù hận nhau, ghanh ghét căm hờn nhau, người ta trói buộc nhau bằng sợi giây thù hận vô hình! Nếu không buông tha cho nhau, nếu người ta không tự cỡi giây hận thù đi, nếu người ta không bắt đầu làm lại mối tương giao trong tình yêu thương tha thứ, cả hai cá nhân đều bị ngập chìm trong sầu muộn hờn căm, cả hai đều sống trong nỗi bất hạnh không tên tuổi do chính mình tạo nên!Sợi giây vô hình trói buộc nguời ta trong đắng cay phiền não, sự tương giao bị cắt đứt, tình người bị tê liệt! Để chấm dứt tình trạng căng thẳng dằng co đong đưa sầu khổ nầy, cả hai liên hệ phải tự động tháo gỡ giây ràng buộc, bằng cách tha thứ cho nhau! Đừng đạt điều kiện cho bên kia phải xin lỗi trước! Thoạt nghe có vẻ như sẵn lòng tha , nhưng kỳ thực chỉ là hình thừc của lòng tự aì, vì bắt người kia phải đi nước trưp36c, tức là đỗ hết phần lỗi cho người, bắt người phải đi nước trước xin lỗi mình! Để cho giây cầm buộc cắt đứt, beên bị thương tích nên đi nước trước, sẵn lòng tha thứ cho kẻ thù đã gây nên rạn vỡ! Bước thứ nhaứ quan trọng, không những phải thành thực tha thứ tự trong lòng, mà còn cần cởi mở tâm hồn với tất cả từ tâm độ lượng của Chúa. Cần cho bên kia biết họ không còn bị bị cầm buộc nữa, vì đã được hoà giải thứ tha trong tình yêu thương tha thứ của Thiên Chúa:" Xin tha nợ cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi"!(Matt 6:12).

Khi nghe Chúa Kitô thuyết giáo về sự cần thiết phải tha thứ, nhiều thặc mắc gợi lên trong lòng các môn đệ, Phêrô là người có can đảm nói lên những thắc mắc ấy:" Thưa Thầy, khi anh em tôi làm mất lòng tôi, tôi phải tha thứ cho họ mấy lần? Bảy lần được chăng? Phêrô nghĩ thầm, tha đến bảy lần là quảng đại quá rồi! một cách thực tế, trong mới tương quan giữa con người trong cuộc sống xã hội, mấy ai có thể tha thứ cho người xúc phạm đến những bảy lần. Phêrô đưa ra con số bảy, con số biểu tượng cho truyền thống tôn giáo, con số huyền thoại ! Nhưng câu trả lời của Chúa làm cho các ông phải sửng sốt đến ngạc nhiên:" Ta bảo thật các ngươi, không phải bảy lần, nhưng là bảy mươi bảy lần"! Dùng con số nhiều như thế, Chúa Kitô muốn nói, cần phải tha thứ mãi, tha thứ không ngừng, tha thứ luôn luôn! nghĩa là bao lâu người ta keêu xin sự tha thứ, ta phải sẵn lòng tha, khôngtừ chối tha thứ. Sự tha thứ không giới hạn,không lằn ranh, không biên giới, không mức độ!

Khi nghe sứ điệp Chúa Kitô về nhu cầu cần tiếp tục tha thứ cho kẻ làm hại ta, chúng ta nên phân tíc có sự khác biệt giữa tha thứ và lảng quên! Vì có nhiều người chân thành tha thứ những tổn thương người khác gây nên, nhưng nổi đau thầm kín trong qúa khứ thỉnh thoảng tìm về tràn ngập trái tim và làm sống dậy cả một trời thù hận!Nhiều lúc chỉ nhìn thấy bóng giáng người ấy, là chuyện củ với niềm đau xưa chợt tràn về xâm chiém cõi lòng! Niềm xót xa tưởng chừng đã chết đi, hận thù tưởng chừng đã quên đi, nhưng vẫn còn sừng sửng đó xói vào sâu trong tim đau nhói làm nhức nhối như tai hoạ đang hiện thực xảy ra trong giây lát! Trong những giây phút như thế, người có lòng từ tâm dung thứ chợt thấy nghi nan không biết mình , trong qúa khứ đã thật sự tha thứ cho người hay chưa, hay còn chôn dấu thật sâu lòng cừu hận hờn căm?!

Theo khoa tâm ly thực nghiệm: đời con người là một bức thảm thêu dệt bởi cả qúa khứ , hiện tại với tương lai, cả ba giai đoạn thời gian là những nhân tố quan yếu cấu tạo nên cuộc đời! Những kỷ niệm dấu yêu trong qúa khứ, những dự phóng rạng ngời về tương lai, và những cảm nghiện buồn vui sướng khổ đang ghi dấu treên tâm hồn ta trong giây phút hiện tại, tất cả thuộc về ta, được ấp ủ và chôn vùi trong trái tim ta, dù ở dạng thức tri thức hay trong tiềm thức, tạo thành luồng sống thực của ta. Chỉ cần gõ nhẹ vào tâm thức, chỉ cần soi chiếu một chút tư duy, là những hình ảnh với cảm xúc sẽ tràn về sống động trong ta!

Những lúc ta có cảm nghiệm qúa khứ hận thù tràn về làm tim ta nhức nhối, thay vì mặc cảm tội lỗi nghi nan, ta nên làm sống lại ý chi tha thứ của ta! Nên dùng cơ hội đó như cơ hội ta tập sự quảng đại vớitâm tình tha thứ của Chúa Kitô:" Tội ngươi đã được tha, hãy ra đi bình an"! Rồi hãy để qúa khứ chôn vùi qúa khứ! Hãy phó thác mọi sự trong bàn tay nhân ái khoan dung của Ngài, Đấng đã quên tha thứ và quên hết tội ta, như đông tây xa nhau vời vợi, lòng Thiên Chúa cũng lắng quên và làm xa mờ đi những xúc phạm ta gây nên cho Ngài. Đó cũng là cơ hội bằng vàng cho ta tự nhắc nhớ mình là con người dòn mỏng, như lời của triết gia Emmanuel Kant nói:" Con người được tại nên trong giới hạn, con người phải học biết để sống trong giới hạn của mình (Kant). Và điều mà con người cần học biết là:"Phúc cho ai có lòng xót thương tha thứ, họ sẽ gặp được lòng tha thứ xót thương(Matt 5:7)

 

Những Người Khó Quên Được Niềm Đau Qúa Khứ

Đó là những người bị niềm đau qúa khứ ngun ngút, lấp kín cả linh hồn, họ hết còn muốn thỏa hiệp, nhượng bộ, họ muốn người gây nên oan trái phải đền bù xứng với tội ác! Họ thàsốnt trong nỗi đắng cay xưq với hy vọng nuôi giắc mộng trả thù rử nhục!

Tôi nghĩ đến những thanh niên nam nữ là nạn nhân của chính người cha của họ, đã nhục mạ, hãm hiếp, đánh đập tàn nhẫn khi họ còn trẻ! Họ trưởng thành trong tuởi đời với nỡi chua xót gặm nhắm trái tim! Họ luôn đề cập đến người cha khốn nạn làm những đều tàn ác, nhưng họ che dấu một đều là cõi lòng họ bị vây phủ bởi lớp sương mù dày đặc của tuyệt vọng, ác cảm, và mong ước báo thù!

Tôi nghĩ đến những thiếu nữ con nhà nghèo, suốt đời thơ ấu, nữ sinh của họ, bị đám bạn cùng lớp loại ra khỏi vòng chơi, chỉ vì hoàn cảnh nghè khó của gia đình! Họ lớn lên bị khinh khi xỉ nhục bởi đám con nhà giàu kiêu ngạo vô tâm làm tổn thương! Họ luôn thèm muốn hoàn cảnh sung túc, thèm muốn ngay cả những thứ aó quần thời trang, những đồ dùng , đồ chơi, những cuộc nghĩ hè, những cuộc du hý đắt tiền với cha mẹ vả thân nhân giàu có. Họ thèm kát được có ngay đến những thái độ "vô ăn vô lo" thái độ hồn nhiên của một tuổi trẻ thiên thần, trong lùc đó họ và gia đình họ không đủ ăn đủ mặc, Họ bị thua thiệt, bị thiên hạ coi khinh, xem thường. Họ hận đời bất công, chênh lệch. Họ cảm thấy máu căm hờn nổi dậy mỗi khi nhớ đến lũ bạn học con nhà giàu đó, luôn coi họ như những người ngoại cuộc, như những bóng ma đáng xa lánh trong đời, chỉ vì hai chữ nhà nghèo!

Tôi nghĩ đến những người cựu chiến binh đã bị mất đi những phần cơ thể, luôn cảm thấy một sự bực tức bất mãn chua cay vì thân thể của mình đã bị ghi dấu một cách tàn ác vì cuộc chiến vô nghĩa mà họ không bao giờ muốn dính líu liên hệ! Có khi họ âm thầm giận ghét cả Thiên Chúa tại sao tạo ra cái thứ thế giới đầy dẫy những nham nhỡ dơ bẩn, nơi mà lửa chinh chiến không bao giờ tắt, nơi mà những con người trẻ phải bất đắc dĩ trở nên những con thiêu thân một cách phũ phàng! Họ oán hận chính quyền đã đưa đẩy họ đi viễn chinh nơi những vùng đất xa lạ, chém giết kẻ thù mà họ chưa hề biết đến là ai! Để rồi khi trỡ ở về quê nhà, bị xã hội khinh thường, sống như những con chó ghẻ bên lề cuộc sống trong tàn tật cô đơn lẻ loi!

Tôi nghị đến những nguời có tài năng đức độ lại bị người ta khước-từ, bị hãm tài, không có công việc xứng vớikhả năng! Trong khi đó danh vọng và vinh dự lại dồn vào tay những kẻ vô tướng, bất tài , thiêéu tư cách! Nhưng vì biết nịnh bợ tâng hót cấp trên nắm được địa vị ưu tiên, trở nên quyền thế, ăn trên ngồi trốc, coi khinh, tác oai tác quái trên người khác!

Nỗi đau dày vò những tâm hồn nầy, họ sống trong thổn dằn vặt, cảm thấy bất mãn, bất hạnh chung thân!

Tôi nghĩ đến hình ảnh người anh cả trong câu chuyện "Đứa Con Hoang Đàng": những lời chua cay đầy hờn oán của người con cả khi cha gìa đích thân mời anh vào chung vui bữa tiệc mầng vui ngày đoàn viên của người em út:"Anh ta không những từ chối vào dự tiệc, còn buông ra nh39ng lời trách móc cha gìa:" Cha không bao giờ thí cho tôi lấy một con bê béo để con thiết tiệc cùng với bè bạn trong xóm!(Luca 15:29). Lòng người anh cả trong câu chuyện chất chứa đầy những ghen tỵ, bất mãn, cay đắng, chua chát, và tâm hồn bất khả thứ tha, dung túng chấp nhận, thương xót đối với người em lỡ bước phong lưu !

Chúa Kiô thấu suốt lòng người! Ngài nhìn thấy có biết bao người nuôi dưỡng nỗi đớn đau sầu muộn và những vết hằn của thù hận lớn dân với tháng năm!Có biết bao tâm hồn khổ đau bên cạnh những người thân thiết ruột thịt sung sướng hạnh phúc! Có những cá nhân, những gia đình, những giòng tộc nuôi mộng trả thù suốt bao nhiêu thế hệ! Hờn căm, ghen ghét, báo thù, gây hấn, sát hại, gây thương tổn là những hiện thực của cuộc sống xảy ra chung quanh ngài, Ngài thấy những thứ đó nơi nguời đồng hương, nơi thôn xóm, nơi bạn bẻ , nơi các môn đệ, và ngay cả nơi những bà con thân thuộc của ngài!

Trong suốt cuộc đời công khai rao giảng Tin-Mầng, Ngài luôn luôn nói đến :tình yêu, sự tha thứ, sự tha nợ nần, lòng nhân ái dung thứ, độ lượng! Chúa dạy bảo nhân loại lòng nhân ái thứ tha, vì Ngài qúa nhiều hận thù nơi con người và trong lòng nhân loại! Ngài không ngừng kêu gọi con người biết sống với nhau trong tình thương và trong lòng nhân hậu theo khuôn mẫu của tiên achúa:" Càc con hãy yêu thương tha nhuú cho nhau như thầy đã yêu thương các con! hãy ăn ở nhân lành như Cha các con nhân lành, Đấng làm cho mặt trời mọc lên soi chiếu cả kẻdữ lẫng ngưpời lành! hãy trọn lành như cha trên trời là Đấng trọn lành!( Mat.5, 45-48)

VietNam

 

Chúa Kitô, Lòng Thương Xót Nhập Thể

Một ngày kia Chúa kể cho các môn đệ và dân chúng the nghe ngài giảng dạy về dụ ngôn ông vua tính sổ với gia nhân đầy tớ mình :

" Nước Trời cũng giống như vua kia tính sổ với bầy tôi, nhà vua vừa khởi sự tính sổ, thì người ta điệu đến một người mắc nợ một vạn nén vàng, vì y không có gì để trả nợ, nên tôn chủ của nộ y ra lệnh bán y cùng vói vợ con sản nghiệp hết thảy để trả món nợ. Vậy người bày tôi phục xuống bái lạy mà tau rằng:" Xin Ngài khoan hồng cho với, thần sẽ trả hết"! Tôn chủ người nợ chặng lòng trắc ẩn, đã thả y ra, còn tha bổng cả hết món nợ! Vừa được trả tự do, người bày tôi ra bắt gặp một người bạn mắc nợ y một trăm đồng bạc, y liền bóp cổ chận họng người bạn mà rằng:"Nợ đâu? Trả cho ta ngay"! Người bạn đồng liêu quì xuống van xin:" Xin ông khoan hồng cho tôi với, tôi đoan h36a sẽ trả hết nộ cho ông"! Nhưng y không chịu lại đem người bạn đi bỏ tù cho đến khi nào trả nợ xong! Các bạn bè đồng liêu thấy sự thể xảy ra thì đau lòng, bèn đến tường trình đầu đuôi câu chuyện cho tôn chủ. Bấy iờ ton chủ cho điệu y đến trước mặt mà bảo rằng :" Đồ bất lương, ta đã thương mà tha cho ngươi tất cả món nợấy, chỉ vì ngươi nài xin tha thiết! Sao ngươi không biết thương xót người bạn khốn cùng của ngươi như ta đã thương xót ngươi(Mt 18,23-33)

Trong cơn thịnh nộ, tôn chủ giao y cho lý hình hành hạ cho đến khi y trả hết nợ nần! Cũng vậy, Cha Ta, Đấng ngự trên trời sẽ cư xử với các ngươi như vậy, nếu các ngươi không thật lòng tha thứ cho anh em mình"(Mat. 18:23-35).

Lòng thương xót tha thứ của tôn chủ trong câu chuyện được Chúa lấy làm ví dụ về lòng tha thứ của Thiên Chúa: Lòng thương yêu tha thứ của Chúa tuy nhưng không, không biên giới, không hạn định, nhưng có một điều kiện được đặt ra: ta phải biết yêu thương tha thứ cha anh em đồng loại của mình! Chúa tha, nhưng phần ta, ta cũng phải tha! Nếu ta không tha cho anh em đang mắc nợ t, thì Chúa cũng không tha cho ta! Tóm lại, muốn nhận được ơn thứ tha, ta phải thực hành sự tha thứ trước! Người không thứ tha, sẽ không nhận được sự tha thứ!

Sự tha thứ Chúa đòi hỏi phải thành thật, phát xuất từ trái tim, chứ không phải là bề mặt bên ngoài, trên đầu môi chót lưỡi! Lời Chúa khẳng định:

" Cha Ta trên trời cũng cư xử với các ngươi như thế, nếu các ngươi không thật tình yêu thương tha thứ cho anh em mình"! Bởi vì thứ tha giả trá bôi bác, hời hợt bên ngoài không xứng với Thiên Chúa, là chính nguồn mạch và bản chất của yêu thương tha thứ!

Đây có lẽ là cơ hội thuận tiện để chúng ta, một lần nữa, dừng lại trong giây lát suy tư về mối liên hệ giữa lòng từ-tâm dung thứ và sự khát mong công chính! Như đã nói trên, lòngtừ tâm là một hình thức của sự công chính! Trong câu chuyện ngụ ngôn trên, người bầy tôi ác nghiệt, không những tỏ ra tàn bạo, bất nhân vì khước từ lời van xin tha thiết của bạn đồng nghiệp về món nợ nhỏ, mà còn vi phạm tới đức công chính, vì biết lấy đức báo đức, mà lấy oán báo đức: anh ta nhận được lònh từ tâm dung thứ của vua , người đã tha bổng cho anh ta chỉ vì lòng nhân đạo, vì tình người! Lẽ ra anh ta nhận được bài học xót thương tha thứ, anh phải trả lại lòng độ lượng của nhà vua bằng cách tha cho đồng nghiệp, như thế là phải lẽ công chính! Mạng sống, gia đình vợ con, tài sản của anh, đáng lẽ phải bị bán đi trả nợ vua, nhưng vua tha cho anh vì động lòng trắc ẩn trước lời van xin của anh! Nói rằng anh vi phạm đức công chính, vì anh lấy sự gian ác:"bóp cổ bạn, tống giam hành hạ để đòi lại chỉ một số nợ không đáng kể so với món nợ lớn lao anh mắc nhà vua! Chính lúc anh không tỏ lòng nhân aí xót thương với đdồng nghiệp, cũng là khi anh vi phạm sự công chính đối với nhà vua, người, theo luật, có quyền hành hạ anh, hoặc ra lệnh bán anh làm nô lệ, hoặc hành hạ, tống giam anh, hoặc làm bất cứ những gì nhà vua muốn, vì ngài là vua, ngài có quyền ban hành bất cứ luật lệ nào để trừng phạt bầy tôi mang món nợ kích xù! Khi nhà vua tha cho người bầy tôi, anh ta mắc vua một món nợ nữa to lớn hơn món nợ cũ, đây là món nợ của tình yêu thương tha thứ, món nợ tinh thần. vậy phạt vạ là quyền của nhà vua, xét theo đức công chính! Và đối xử tình nghĩa với bạn đồng nghiệp cũng là một hình thức của công lý: " Vì ơn huệ được nhưng không, phải cho nhưng không" . Người bầy tôi đã nhận nơi vua lòng tư tâm thương xót, đến phiên anh, anh phải hành sự thương xót với bạn đồng nghiệp của mình! Anh ta đã khước từ lời van xin của bạn mình, đã ra tay gian ác, tàn bạo với bạn mình! Như thế cùng một lúc anh ta vi phạm một trật: lòng nhân aí độ lượng dung thứ và sự công chính!

 

Con Người, Với Trái Tim Đầy Mâu Thuẫn

Siêu vượt trên câu chuyện ngụ ngôn, hãy nhìn cách xử sự của người đời trong cuộc sống thực tế: Con người , một trật kêu van khẩn cầu lòng nhân lành của thiên chúa, nhưng mặt khác, con gười vẫn cư xử tàn bạo, gian ác bất nhân vô nhân đạo đối với con người. Tục ngữ La-Mã có câu:" Homo homilibus lupus est" ( con người là chó sói đối với những con người khác)

Hay nói theo ngôn từ thời đại"Người trở nên lang sói với người"! Còn JeanPaul Sartre thì gọi:" L'enfer c'est les autres":( người ta trở nên hỏa ngục cho nhau)! Cũng như người bày tôi trog câu chuyện nợ nhà vua đến cả nghìn lượng vàng mà không biết làm sao trả nổi, anh ta chỉ còn biết khóc than kêu khấn và nhà vua đã tha! Chúng t a cũng vậy, mỗi người là con nợ của Thiên Chúa, mọi sự của ta là do món qùa tặng của ngài ban cho, suốt dọc cuộc đời ta còn mang biết bao nhiêu món nợ, nợ „ân phúc, nợ tình thương, nợ lòng khoan dung tha thứ! Biết bao nhiêu lần ta xúc phạm đến Ngài, theo sự công chính, ta đáng nài phạt bỏ vào Hỏa-Ngục chịu thiêu đót muôn đời! Thế mà Ngài đã tha cho ta nhưng không! Ơn Cứu Chuộc của Ngài cho ta biết bạ cơ hội làm lại cuôc đời! Cuộc đời chúng ta không là gì hết, nếu không phải là một chuỗi ngày kết bằng tình yêu thương tha thứ ủa Thiên Chúa! Chúa không sát phạt ta, lòng nhân lành dung thứ của Ngài có lẽ chờ ta đến ngày Chung Thẩm! Sát-phạt là quyền của Chúa! Phần chúng ta, vì đã nhận lãnh vô vàn nơi lòng độ lượng khoan dung của Thiên Chúa, chúng ta có nghĩa vụ theo phép cơng bình, phải đối xử độ lượng viới tha nhân.Cũng như người bầy tôi đạ thọp cổ, đã hành hạ hạ đập đánh . đã cư xử bất nhân với bạn đồng nghiệp, chúng ta cũng thế, biết bao lần trong dđời. đã hành sự bất nhân bất nghĩa vô nhân đạo đối với tha nhân, chúng ta đã đóng vai "Thượng-Đế" để sát phạt người khác! Chúng ta đã đóng vai quan tòa để xét xử đồng nghiệp của mình không chút nhân nhượng xótt thưong, trong lúc đó, hằng ngày ta ngước mắt lên trời đọc kinh Lạy Cha:

 

" Xin Tha Nợ Chúng Tôi, Như Chúng Tôi Cũng Tha Kẻ Có Nợ Chúng Tôi"!

Xét xử là phần của Chúa dành cho đến ngày thế mạt!Chúng ta được Chúa đoan hứa:" Những ai đói khát sự công minh chính trực, sẽ được no thỏa, mãn nguyện

(Mt 5:6). Trong lúc hiện tại, nghĩa vụ chúng ta là thực thi lòng nhân aí độ lượng với tha nhân! Cũng như Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi cho ta, không oán phạt tiêu diệt ta thế nào! Chúng ta cũng phải học mà tha thứ cho những ai không sống theo tiêu chuẩn của ta, không chấp nhận lập trường và đi theo đường lới của ta, có khi làm thiệt hại ta, xúc phạm đến bản thân và nhữngngười ta yêiu thương! Ta phải học chấp nhận lỗi lầm của ho, chấp nhậtha thứ không giới hạn, tha thứ một cách chân thành , tha thứ phát xuất từ trái tim yêu thương, cho dù ta đang hăng say " làm cho danh Cha cả sáng, Nớc Cha trị đến"! Chúng ta, dẫu đang dấn thân đấu tranh cho công lý, chúng ta không có quyền áp đặt công lý trên người khác, không có quyền cương chiếm lòng tin của kẻ khác, chúng ta không có quyền bắt kẻ khác phải sống theo nhãn quan và kỳ vọng của mình! Trái lại biết kiên tâm chấp nhận tha nhân, ngay cả thái đạ và cách sống ngược với đức công chính thánh thiện của ta! Cũng như Chúa Kitô hiền lành là khiêm nhượng trong lòng, người môn đệ theo Chúa cũng phải đi con đường khiêm nhu, hiền hậu:" Hãy học với ta, vì ta hiền lành và khiên nhượng trong lòng, linh hồn các ngươi tìm thấy nơi an nghĩ!

Lề luật xưa của Do-Thái khuyến khích :"Mắt đền mắt, răng đền răng", bộc lộ một não trạng áp đạt sự công chính trong mối liên hệ nhân sinh!

Đi ngược lại vớitruyền thống áp đặt đó, Chúa Kitô chủ trương:

" Các ngươi đã nghe người xưa nói: mắt thế mắt, răng thay răng! Phần ta, ta bảo các ngươi: đừng chống cự kẻ làm đều ác! nhưng nếu có ai vả má phải ngươi, thì hãy giơ má kia nữa! và kẻ muốn kiện ngươi lấy áo lót, hãy cỡi aó choàng cho nó nữa, và ai bắt ngươi làm phu đi một dặm, thì hãy đi vói nó hai dặm! Ai xin, ngươi hãy cho! Ai muốn vay mượn, chớ khước từ!!( Mt 5:35042)

Thoạt nghe những lời khuyên trên, ta có cảm giác như một ngây ngô khờ khạo tai hại cho bản thân! Gỉa thử ta không đứng ra chống cự lại những người gian ác hoặc cứ để mặc cho người ta ưng đưa ta ra tòa án khi nào tùy ý, làm sao con người có thể sống trên đời nầy được. Lòng tốt mà không có công lý sẽ bị người đời lạm dụng vì trên đường đời, có lắm thứ tiểu nhân bần tiện! Lời dạy trên đây của Chúa Kitô thoạt nghe thật khó thực hành, nhất là trong cuộc sống phức tạp hôm nay! Đoạn văn trên cần được hiểu trong ánh sáng giáo huấn chúa về lòng nhân ái độ lượng đi đôi với niềm xác tín mãnh liệt rằng chính Thiên Chúa nắm chủ vận mạng của thế giới! Chính Ngài là Đấng làm cho hết thảy mọi tạo vật dưới vòm trời hoà nhịp với nhau đem sự tốt đẹp tối hậu cho toàn thể mọi vật mọi loài!

Thánh Phaolô qủa quyết chân lý nầy trong thư ngài gửi cho giáo đoàn Crinthô:" Chúa làm cho hết mọi sự xảy ra hòa điệu với nhau nhằm sự tốt lành tố hậu cho những ai Chúa yêu thương(God make everything work together for the good of the people tht he love). Ta có thể ví Thiên Chúa như người điều khiển cuộc đại hòa tấu với vô vàn hạc cụ và nhạc công. có những nốt nhạc gnhe một mình thật chói tai, có những nhạc cụ nghe ra lạc loài làm sao ấy, nhưng khi tất cả mọi âm thanh ấy hò với nhau trong sự điều khiển tài ba của ngón tay rành nghề của nhạc trưởng, chúng ta sẽ nghe được những âm điệu tuyệt vời, những âm hưởng vô cùng thần diệu như khúc nhạc chốn thần tiên vọng lại! Vũ trụ là một cộc đại hòa tấu mà mỗi tạo vật là những nhạc cụ, những âm thanh đặc thù, để cho mội nhạc cụ gióng lên do mỗi nhạc công riêng rẽ, âm tanh dường như lạc điệu, nhưng khi các âm thânh hòa lẫn vào với nhau do tài nghệ của nhạc trưởng, thanh âm sẽ tuyệt vời, ý nghĩa của âm thanh sẽ sáng rõ cho người biết thương thức âm nhạc hòa tấu!

Với niềm xác tín:" Chúa là chủ tể, thế giới là của Ngài, trời đất muôn vật muơn loài là của Ngài! Qùa khứ là của Chúa, hiện tại là của Chúa, tương lai là của Chúa, ch6ng ta sẽ không còn bận tâm chi đến tiểu tiết về lòng độc ác của những kẻ tiểu nhân làm hại ta! Thánh Vịnh hát:" Chúa là mục tử chăn giắt tôi, tôi không còn thiếu gì, tôi khôg còn lo sợ nỗi gì! Vi Ngài giắc tôi qua đồng cỏ xanh tươi, qua thung lủng có tràn trề nước mát, Ngài dọn bữa cho tôi trước mặt quân thù, đầu tôi Ngài xức dầu thơm, chén tôi luôn đầy tràn chan chứa..Cây roi và cây gậy của Ngài làm cho tôi an tâm.(Ps. 23, 1-6)

Khi biết được và tin được Chúa là khởi nguyên và chung cục của mọi biến cố trong lịch sử đời yta và của thế giới...ta hết còn âu lo..chỉ còn một điều ta phải thực thi, đó là cách sống ở đời với người: cách thế khoan dung nhânái, đối xử độ lượng từ tâm với mọi người như Chúa đã đối xữ với tôi. Tôi đã không là gì hơn là bước sống thực hành tấm gương nhân ái của Ngài với đồng loại của tôi! Lời Ngài vẫn còn vang vọng bêntai tôi:" Cả con nữa, con hãy ra đi và làm như thế..con sẽ có sự sống muôn đời !

 

Lòng Thương Xót, Sứ Điệp Muôn đời Cho Nhân Loại

Ngày nay, khi đọc Phúc-Âm, khi suy niệm về cuộc đời rao giảng Tin-Mầng của Chúa Cứu-Thế, ta thấy Chúa luôn nói về tình yêu, lòng khoan dng và sự tha thứ! Không những chỉ rao giảng mà thôi, Ngài còn ban bố thành luật của Phúc-„m, lập thành Giao-œớc Mới:" Thầy ban cho chúng con một giới răn mới:là chúng con hãy yêu thương nhau"! hoặc nơi khác Ngài phán: " Cứ dấu nầy mà thiên hạ nhận biết các con là môn đệ ta: là các con hãy yêu mến nhau"! " hãy yêu nhau như Thầy đã yêu thương chúng con"! Cuộc đời của Ngài là một bức tranh thêu dệt bằng ba nét rực rỡ, đó là:"Tình-Yêu, Từ-Tâm, Tha-Thứ": ba thứ gia bảo vô cùng cao quí mà Ngài trao ban cho nhân loại, nói theo ngôn từ Triết-Học: đó là những nét đặc trưng của"Đạo Nhập Thể", là Tinh-Hoa của Kitô giáo!

Chẳng có ai trên đời có thể vẽ cho ta hình ảnh vẹn toàn về cuộc đời khoan-dung, nhân aí cho bằng Chúa Kitô; Ngài đã dâng hiến chúng ta cã cuộc đời, đặc biệt, những giờ phút cuối cùng cuộc sống, khi mà đủ thứ áp lực, thử thách, chèn ép, khó khăn ghê gớm đổ xuống trìu nặng trên toàn thân Ngài! Ngài chấp nhận tất cả với trái tim từ tốn khiêm cung!

Đừng chống cưỡng chống lại với kẻ làm đều ác cho bản thân ư? Chúa Kitô, không những chỉ khuyên bằng lời thôi, ngài còn nêu gương mẫu sống động cho ta: Ngài hôn lại kẻ dùng cái hôn mà bán rẻ Ngài cho quân dữ! Ngài hạ lệnhcho các môn đệ bỏ khí giới xuống, không chống cự những kẻ đến bắt ngài:" Hãy bỏ gươm vào vỏ, vì ai dùng gươm, sẽ chết vì gươm (Mt...)! Ngài đứng lặng thinh trang nghiêm trước mặt thầy cả thương tế cật vấn Ngài về nhiều lẽ đạo đời, rồi trước toà Philatô, toàn quyền Lamã, trấn thủ Juđêa. Ngài can đảm chịu tra tấn đòn vọt và nhục nhã do đám lính tráng ngoại đạo, thô bạo, tục tằn ở sân sâu dinh trấn thủ! Ngài dùng hết sức sực bình sinh vác cây thập tự gía lê lết trên đường phố Jêrusalem giữa muôn tiếng hò la đá đảo nhục mạ của đám đông cuồng nhiệt, thác loạn, ghê tởm. Ngài gắng gượng vác thập gía leo lên đồi Calvê, nơi pháp trường lenh láng máu, nơi Ngài phải xử treo lên trên cây gỗ như một tên tội đồ nguy hiểm của loài người! Ngài chịu nhuốc hổ khi phải lột trần truồn trước toàn dân! Ngài bị các môn sinh tẩu thoát, bạn bỏ trốn các thân nhân lẩn tránh. Ngài cảm nghiệm bị chính Thiên Chúa, Cha của Ngài bỏ rơi( Eloi, eloi, lema sabathani!( Lạy Chúa Trời tôi, lạy Chúa Trời tôi, sao Người bỏ rơi tôi?!( Mt 27: 46 )! Trong cơn hấp hối thương đau, phiền nảo trăm bề, khổ sầu muôn nỗi, đớn đau ngút ngàn, Ngài đã ngước mắt lên trời cầu xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ đa ra tay làm khốn mình!:" Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm"( Luca 23; 34 ).

Và ít ngày sau, Ngài sống lại từ cõi chết, không còn trong chốn mộ phần nữa! Bấy giờ các bà đạo đức đi viếng mộ, đem theo thuốc thơm và mộc dược cho việc tẩm lượm theo truyền thống! Thiên Thần Chúa hiện ra đưa tin cho các bà:" Hãy về báo cho các mơn đệ, và Pherô hay là Ngài đã đi trước đến Galilêa, nơi đó họ sẽ gặp ngài"! Thánh sữ Marcôlưu ý đến một chi tiết nhỏ:" Báo cho các môn đệ...và cho Pherô hay tin Ngài đã sống lại...Tại sai tên tuổi Phêrô được nhắc nơi đây, tách biệt các môn đệ khác...Ta còn nhớ đêm Chúa bị tra tấn hành hạ, Phêrô có mặt đó..và đã chối Thầy đến ba lần...Phúc-Âm kể là Phêrô ra ngoài khóc lóc ăn năn vì hành động chối Chúa...Tên Phêrô được đến ngay sau Chúa sống lại...là cố ý dọn lòng cho Phêrô queên đi chuyện tội lỗi xưa để mầng vui hoan hỷ vì thầy đã không còn chết nữa...Ngài đã sống lại thật như lời đã phá hứa!

Riêng thánh sử Gioan, với ngòi bút linh động đã kể lại sự việc sống lại của Chúa được phát hiện do việc viếng mồ của người thiếu phụ tên gọi Maria magdalêna, người được Chúa ban ơn ăn năn thống hối thay đổi cuộc đời! Bà đến mộ khóc lóc vì không tìm được xác thầy:" Maria đứng sat bên mộ ở phía ngoài mà khóc,, vừa khóc, bà vừa cúi nhìn vào mộ, bà thấy hai thiên thần ngồi đó , aó trắng xóa, một ngồi phía đầu, một ngồi phía chân nơi đã để xác Chúa Jesu! Các Ngài hỏi tại sao bà khóc? bà nói với họ: người ta đã cất xác Chúa tôi đâu, không biết bây giờ xác đã đ28 đâu. Nói thế, bà quay lại nhìn phía sau, thấy Chúa jesu đứng đó, nhưng không biết là Chúa jesu. Chúa Jesu hỏi bà:" Nầy bà, bà tìm ai? Tại sao lại khóc?Tưởng đó là người làm vười, bà nói:" ông ơi, nếu ông đã đưa xác Ngài đi một nơi khác, xin chỉ dùm tôi, để tôi đến cất xác ngài?Bằng cung giọng quen thuộc, Chúa nói với bà:" Maria! Bà quay lại, và thưa:"Rabbuni" có nghĩa là:"Lạy Thầy", theo tiếng do-Thái!Và Chúa nói với Maria:" Hãy về nÔi với anh em ta, rằng ta đã sống lại, rằng ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha của anh em"( Jn 20:11-17)

" Hãy về nói với anh em Ta"! Ối câu nói thân thương làm sao! Chúa gọi các môn đệ là"anh em ta"! Các ngài chắc phải vui mầng khi nghe Maria báo tin vui mầng đó! Chúa gọi các" môn đệ là anh em ta", Ngài cố ý muốn họ quên dđi chuyện củ của ba ngày về trước. Chuyện ngày lâm nạn của Ngài. ! Chuyện các môn đệ bỏ trốn tẩu thoát lấy thân bỏ nàilại chịu trận một mình! có nghĩa là Ngài muốn họ quên hết như Ngài đã quên tội lỗi và lòng sự bất trung hèn nhát của họ! Chúa đã dộ lượng không để lòng căm giận trách móc họ, Ngài độ lượng tha thứ cho họ. Ngài muốn họ vui lên để nhận tiếp tục con đường sứ mệnh tương lai đang chờ đợi họ! Không quay về dĩ vãng, không thắc mắc tìm lý giải biện minh, không đổ lỗi , không kết án, không buộc tội! Tất cả được lắng quên trong lòng dung thứ độ luợng thần linh! Yêu thương, độ lượng, tha thứ là con đường của Ngài, Ngài đã dạy, đã sống và đã chết đi sống lại làm chứng cho giáo thuyết của Ngài: Tôn Giáo của Tình-Thương! Thánh Phaolô quảng diễn thêm:

" Tình thương thì chấp nhận tất cả, tha thứ tất cả, cho đi tất cả, hy vọng tất cả, trao ban tất cả..( I cor 13,13)

Lòng thương xót khoan dung của Chúa, không những đã rửa sạch tội bội phản của các môn đệ, đặc biệt là Phêrô, mà còn tạo cho các Ngài cơ hội để làm lại cuộc đời mới, cao cả hơn, can trường hơn xứng với sứ mệnh cam go mai ngày! Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần các Tông-Đồ đã chia tay nhau ra đi khắp chân trời góc biển để làm nhân chứng cho Thầy Chí Thánh. Sử sách ghi khắc cuộc đời truyền giáo truân chiên của tất cả các Ngài, và lạ lùng hơn nữa, hầu hết các ngài đã chết can trường, chết"tuẫn giáo"để minh chứng lòng trung thành với Chúa!:" Không có tình nào cao quí hơn là liều mạng sống mình vì bạn hữu"( Jn 15, 13)!

Xin cảm tạ đến muôn đời lòng từ tâm của Chúa! Nhờ đó phát sinh lịch sử Cứu-Rỗi, và lịch sử riêng tư của đời mỗi người chúng ta!

" Phúc cho ai biết dung thứ xót thương, vì chính họ sẽ tìm được lòng khoan dung thương xót"! Vì tình thương sẽ tạo thêm tình thương, khoan dung làm phát sinh lòng độ lượng! Nơi cung lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, phát sinh nguồn Ơn Cứu Rỗi. Giòng sông viên mãn của nhân loại và lịch sử riêng tư của đời mỗi người chúng ta cũng được khơi nguồn từ lòng thương xót bao la đó của Thiên Chúa.

 

  Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D

 


Xem các bài viết khác trong Rev. Nguyễn Quốc Hải, Khoá 7 GHHV Đà Lạt Việt Nam.