ĐẤNG KITÔ, NGÀI LÀ AI ?

VietNam

1 2

 

 

 

 

 

 

Hai Từ Ngữ Then ChốtTrong Bài Giảng Trên Núi

Có hai danh từ quan trọng cần bàn đến trong khi đề cập đến vấn đề”Bát-Phúc”: đó là chữ “Có Phúc” và “Nước-Trời”, thấu triệt ý nghĩa thâm sâu các danh từ nầy, chúng ta nắm được chìa khóa mở ra kho tàng ý nghĩa của “Bát-Phúc”.

 

Có Phúc

Từ ngữ “Có phúc” dùng để dịch chữ “Blessed”, bắt đầu bài giảng trên núí,cũng gọi là”Beatitutde” đến từ gốc la Ngữ “Beatus” có nghĩa hạnh phúc, beatus, hay là blessed. Chữ beatus hay blessed dùng nhiều lần trong Tân-Ước, và ngay cả trong Phúc Âm, Thánh Mathêô, nhưng các lần khác có ý nghĩa về luân lý, đạo đức những gì ta nên làm, cần làm để đạt tới cao điểm cuả lý tưởng mong muốn: hạnh phúc như một nguyện ước chưa được thành tựu. Trong bài giảng trên núi, Chúa Jesus nói đến dữ kiện của những kẻ đang hưởng sự hạnh phúc, một thứ hạnh phúc Chúa ban cho những ai thông phần trong biến cố “Nước Trời” đang xảy ra cùng với biến cố Chúa Kitô đến trong thế gian. Đó là những lời khẳng định, những lời tuyên bố, hay nói mạnh mẽ hơn những tuyên dương công trạng, những lơì ban khen, danh từ hạnh phúc nơi đây được dùng dưới dạng thức một tán thán tự, tức là “O blessed! Hạnh phúc biết bao cho các ngươi là những kẻ khó nghèo, hiền lành, trong sạch…Trong trường hợp bài giảng trên nuí, khi chúa Kitô nhìn thấy đám đông dân chúng, những kẻ theo Ngài, những kẻ tìm kiếm nước Thiên Chúa, Ngài nhìn thấy họ, Ngài có những nhân xét như sau, được diễn tả bằng 8 mệnh đề, bắt đầu bằng tán thán từ “Ôi hạnh phúc biết bao...những kẻ ngheò khó trong tinh thần. Hạnh phúc biết bao, những kẻ khóc than, những kẻ hiền lành, những kẻ biết khao khát đều công chính…Những người nầy sẽ đứng vững khi Nước Chúa đến, Nước Trời sẽ thay đổi những cơ cấu hiện tại của cuộc sống, và đưa vào những cơ cấu mới, trái ngược với cơ cấu của thế gian hiện tại..

Những lời tuyên dương hạnh-phúc, được diễn tả cách trịnh trọng trong “Bát-Phúc”trên đây, chúng ta có thể thay vào bằng ngôn ngữ thường tình trong cuộc sống có tính cách thân mật hơn, chẳng hạn, thay vì kêu lên ôi hạnh phúc biết bao! Chúa có thể nói: các con hãy nhìn đến quanh các con, tất cả những gì là ngheò nàn đói rách tả tơi, những phiền não oan khiên, những nỗi vất vưởng nhục nhã, những đói khát ước mơ Nước Thiên Chúa Trong cọng đồng của những người con cái của Thiên Chúa, tất cả những thứ đó sẽ biến mất, sẽ không còn tồn tại. Những ai mà bây giờ đang phải chịu thiệt thòi nghèo khổ, những người đó sẽ có ngày toại nguyện với mơ ước củamình.Trong lúc đó, những kể dư tiền thừa của, những phường kiêu căng hống hách, những hạng người mang trái tim chai đá không biết xót thưong ai, sẽ có một ngày những loại người nầy bổng trở nên khốn cùng và than khóc tiếc xót những gì không còn nữa.

Câu chuyện người trọc phú khờ dại trong phúc âm của thánh Luca 12:16-21: trong đầu hắn chỉ nghĩ đến chuyện lo thu tích của cải bằng cách cho xây thêm kho lẫm thật nhiều, nhưng khốn nỗi anh ta không biết giờ chết đang chờ chực, anh ta chết trong khi không có chút của cải thiêng liêng nào cho đời sau.

Đọc câu chuyện khác của Phúc ÂmThánh Luca về tên phú hộ bất cảm và gã ăn mày Lagiarô Luca 17:19-31.Người phú hộ sống dửng dưng trong xa hoa nhung lụa, trong tiệc tùng tưng bừng hoan lạc không thèm để ý đến người ăn xin nằm chờ bố thí trước cữa nhà mình. Rốt cuộc rồi cả hai cùng đều chết, người ăn xin thì được thiên thần rước về thiên quốc, được hưởng hạnh phúc tràn trề bên lòng tổ phụ Abraham, trong khi đó tên nhà giàu thì bị nung nấu trong hỏa ngục khốn cùng. Câu chuyện không có ý là khuyên những kẻ phú hộ bất cảm về nhu cầu đề phòng tai hoạ cho tương lai, hay khuyến khích những ai cùng cực như Lagiarô, trong lúc trông chờ phần thưởng tương lai, câu chuyện kết thúc bằng cách nhắc nhở cơ cấu khác biệt giữa hai giai đoạn, nghĩa là cơ cấu mới của Nước Chúa sẽ đến thay thế cơ cấu cũ, đem lại sự đền bù và công chính cho toàn dân, bất cứ trạng huống xã hội hoặc hoàn cảnh nào trong đó người dân bị thiệt thòi hay lảng quên, chính

Thiên Chúa sẽ bù đắp lại cho họ, chính Ngài sẽ sửa sang lại mọi sự mọi đều khi Nước của Ngài ngự đến.

Bấy nay, đã có sự ngộ nhận về ý nghĩa của “Bát-Phúc”, trong chiều hướng coi”Bát-Phúc” như là một thứ qui thức, luật lệ luân lý nhắm tới một cuộc sống cao hơn, lý tưởng hơn, và nhiều thế hệ trôi qua nhiều người tín hữu đã hiểu “Bát-Phúc là giấc mộng khó thành sự thật, một đỉnh cao khó mà trèo. Thực ra, chân lý cuả”Bát-Phúc” là tâm-điểm sứ điệp của Chúa Kitô rao giảng cho nhân loại. Hảy nhớ lời tuyên bố thật trịnh trọng của Chúa:

“Tiên vaǹ hãy tìm kiếm Nước Chúa, và sự công chính của Ngài, còn các đều khác sẽ được ban cho các con”
(Quaerite autem primum regnum Dei et iustitiam eius, et haec omnia adicientur vobis. Mat, 6:33).

Trên đây là thên chốt của Bài Giảng Trên Núi về hạnh phúc. Chúa muốn nhắc nhở con cái Ngài chân lý căn bản nầy là :nếu lề luật Thiên Chúa chiếm địa vị ưu tiên trong đời ta, dù ý thức hay không, mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp, và chúng ta sẽ được liệt vào trong số những người được chúc phúc. Đây là điều cốt lỏi của nền luân lý mới, mọi sự sẽ xoay quanh cột trụ nầy: một khi chúng ta coi Nước Chúa, Lề Luật Chủa Chúa là trung tâm sinh động của đời sống, chúng ta khỏi cần phải lo lắng về mức độ thực thi các giới răn hoặc “Bát-Phúc”chúng ta hết phải tính toán đắn đo về cách thức sống làm sao cho ra bề thế là con cái Chúa. Đây cũng chính là lý do khiến Chúa trả lời khi được hỏi về giới răn quan trọng nhát, Chúa phán:

” Hãy nghe đây, hởi Israel, đây là giới răn trọng đại nhất là ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa hết trí khôn, hết linh hồn và hết cả trái tim ngươi, và hãy yêu thương tha nhân như chính bản thân mình”
Ait autem illi: “ Diliges Dominum Deum tuum in toto corde tuo et in tota anima tua et in tota mente tua: (Mat 23:37).

Thánh Augustinô, sau khi khám phá ra được Lề Luật của Thiên Chúa, đã gĩa từ lối sống tự do phóng khoáng qúa khứ, cảm nghiệm sâu xa được ngọt ngào của Tình Chúa yêu trong Nước Trời, Thánh nhân đã phát biểu như sau:” Hãy yên mến Chúa đi, rồi bạn muốn làm gì thì mặc sức”!(Ama fac quod vis). Một khi Nước Chúa ngự trị trong trái tim và trong trí não của chúng ta rồi, luân lý đạo đức của đời ta tự nhiên ổn thỏa, có thể nói, khi ta có Chúa ở với, thì”bất chiến tự nhiên thành”

 

Nước Trời

Danh từ thứ hai có tầm quan trọng không kém, đó là hai chữ “Nước Trời”.

Hai chữ “Nước Trời” dịch từ Anmh Ngữ có nghĩa là:”Kingdom of Heaven”. Thánh Mathêô dùng từ ngữ “Nước Trời” (The Kingdom of Heaven” trong khi đó Thánh Luca dùng chữ:”Kingdom of God”, nghĩa là Vương quốc của Thiên Chúa.Lý do thánh Mathêô dùng hai chữ:”Kingdom of Heaven” (Nước Thiên Chúa) thay vì dùng “Kingdom of God (Vương Quốc của THiên Chúa), vì Ngài viết cho cọng đoàn Do-thái. Chúng tabiết, dân do-Thái có nhiều từ ngữ để chỉ về Thiên Chúa của họ, chẳng hạn như “The Holy One:Đấng Thánh”, Lord, nghĩa là Chúa Tể,hoặc danh từ Yahveh, có nghĩa là Chúa Cả Trời Đất, Thượng Đế, Đấng Cao Vượt trên mọi Thầh Linh,nguơi Do Thái sớm nhận ra rằng họ không thể múc cạn chân lý về Chúa ,nên họ thôi dùng từ ngữ chỉ Chúa. Sống trong một thời đạI khoa học kỷ thuật, chúng ta khó mà hiểu được não trạng tôn giáo của người Do-Thái, Thánh Mathêô sống gần với đồngbào của Ngài, chia sẻ truyền thống văn hóa của họ, hiểu được ước vọng chung của họ, nên Ngài dùng từ ngữ họ chấp nhận dễ dàng, đó là từ ngữ”Nước Trời. Dùng hai chữ “Nước Trời, để tránh dùng chữ “Vương Quốc Thiên Chúa” đế tránh xa cái mặc cảm của dân Do-Thái phải đặt mình dưới ách dô hộ cũa “Vương quốc La-Mã”, mà họ muốn tìm cơ hội lật đổ vương quốc ấy, dành lại uy quyền của “vương Quốc Thiên Chúa” đã bị người ta cướp mất từ mấy nghìn năm nay. TRánh dùng hai tiếng vương quốc, cũng là tránh những ngộ nhận tai hại , vì trong truyền thống văn hóa Mỹ hiện nay, đề cao tinh thần dân chủ, hai chữ vương quốc hàm ý chống lại trào lưu dân chủ, nhất là phái nữ giới, hai chữ vương quốc hàm ý sự cai trị của dàn ông nam giới, sau bao nhiêu đấu tranh đòi bình quyền, phụ nự thời nay, ngay cả ỡ nước Hoa Kỳ mới được phép đi bầu phiếu từ thập niên 1960 mà thôi.

Sở dĩ chúng ta bàn thêm vào những tiểu tiết văn hóa, chủng tộc và tâm lý như trên lả cố ý giúp cho con người thời đại mới thấu hiểu sứ điệp “Phúc-Thậth"

Kitô, các tông đồ và quần chúng Do-Thái hiểu lời giảng của Chúa. Đều quan trọng cần chú ý là Chúa Kitô muốn diễn tả một chân lý quan trọng nầy là:Chính Thiên Chúa đã tạo dựngnên thế giới, Ngài có quyền cai trịtrên thế giới đó một cách không hạn định.Chúa Kitô biết rõ là Ngài làm cho sáng tỏ trong tâm trí các thính gĩa của Ngài về cái bản chấ thực thụ của “Nước Thiên-Chúa” ( God’s Kingdom ). Khi Chú xuơớng lên chữ Kingdom(Nước Trời) thì das2n chúng vui sướng phấnkhởi đáp lại hai tiếng “Nước Trời(Kingdom), vì đ9 từ lâu, họ luôn tìm kiếm một nhân vật nào giúp họ giải thoát họ khỏi quyền đô hộ của đế quốc La Mã, đ29 tái thiết Nước Chú nơi trần gian. Họ hy vọng tràn trề rằng Jésus chính là người họ mong 4ợi, là”Nhân-Tuyển” cho sứ vụ giải phóng mà họ hằng ước mơ. Nhiều lần trong Phúc Âm, Chúa Kitô phải chạy trốn khỏi đám đông dân chúng, vì họ muốn tôn Ngài lên ngai vua. Chúa biết rằng quần chúng khó mà chấp nhận quan niệm riêng của Ngài về “Nước Chúa”. Vì thế, xuyên qua Phúc „\m, có rất nhiều cơ hội. Chúa dùng các dụ ngôn, các chện kể để trước hết là sửa sai quan niệm cố hữu, có tính cách chủng tộc, chính trị trần thế về ý nghĩa “Nœớc Chúa”, Ngài muồn họ hiểu cách dúng đắn yý nghĩa thật sự của “nưức Trời, và sứ mệnh thần linh cũa Chúa Kitô. Đọc kỷ các dụ ngôn về “Nước Trời, cũngnhư các lời giải thích củaChúa Jeésus về các dụngôn đó, chúng ta thấy Chúa Jésus nói về hoạt động của Thiên Chúa trng thế giới... Một khi đã ban cho con người ý chí tự do,,Thiên- chúa không áp đặt sự tốt lành thiện hảo, tình yeu thương và ân phúc của Ngài trên bất cứ ai...Ngài không ép buộc ai, ơn phước phúc Ngài ban cho ta một cách nhưng không, hoàn tòan tôn trọng ý chí tự docủa Ngài, và sự do con người đáp trả lại món qùa Ngài trao tặng cho con người. Vì thế, Chúa Kitô trình bày “Nưức Trời như...kho tàng chôn dấu trong ruộng, như hạt trai quí gía dấu kín , như hạt cải có sức mạnh vô song,mà người nào được mời gọi phải gắng công ra sức tìm kiếm .“Nước-Trời” lại giống như men rượu dấu lùi trong bột. “Nước Trời” được mô tả như những hoạt động của Thiên Chúa, hoạt động ấy được cảm nghiệm như là sức mạnh đột khởi, như sự khởi đàu, như tiềm năng có sẳn trong mọi vật có sức thúc đảy mọi sự để đI đến chỗ phát huy toàn thể sinh lực ngầm chưa bên trong, Nước Trời là một thứ Tiềm-Nămg ẩn tàng trong vũ trụ tư nhiên, có sức hấp dẫn mọi loại mọi vật tiến lên trong sự sung mản đã được qui định chotất cả vạn vật vạn sự...”Nước Trời được cảm nghiệm nhất là trong ccá nhân con người, hữu thể có tri thức hiểu biết để co thể trở nên hoàn thiện hơn, đày đủ trọn vẹn hoàn thiện hơn trong chân lý,m trong tình yêu thuơng, trong chân thiện mỹ. Tất cảnhững đạc tính tính nầy được bày tỏ cách rõ ràng trong thế giới hữu hình, nhưng sự hiện hữu của Thiên Chúa được bày tỏ một cách hiển nhiên hơn trong Niềm Tin, nhờ đó, con ngườicó thể nhìn thấy đàng những giáng vẽ bêmn ngoài..Và như thế, Nước Trời naẩy nở thật chậm như nhữnghạt cải trên tiến trình thành cây cải...nhỏ nhẹ...trong yên lặng trong âm thầm...chậm rải...tự do...tự nhiên....

Một chân lý mà chúng ta cần ghi nhận khi tìm hiểu ý nghĩa của “Tám Mối Phúc Thật” là nghịch lý của Nước Trời.Và nghịch lý của Nước Trời là ở điểm nầy, là “Nước Trời thực sự đã hiện diện nơi gian trần qua các hành động của Thiên Chúa, nhưng nó chưa hoàn toàn vẹn . Niềm vinh dự lớn lao của con người là họ có thể chọn lựa để cọng tác với hoạt động của Thiên Chúa để đem Nước Trời tới chỡ thjành tựu viên mãn.

Đáng tiếc thay, có một số những hành động của con người có ý kiềmhãn hoạt đông của Thiên Chúa, làm trì hoãn sự triển nở của Nước Trời. Vì thế, cácMôn đệ và những ai tự xưng mình là ngườitheo bước Chúa Kitô, bị thách đố để vượt qua các chưóng ngại vật hầu làm cho Nước Chúa được chóng nở hoa tràn đày viên mãn. Muốn được như thế,chỉ có hai cách, một là hiểu iết sâu xa về quyền lực của nước Trời, hai là vời lòng aí mộ sùng kính vui tươi hoan hyỉ sống trọn vẹn tinh thần “Phúc-Thật"

 

Nền Tảng Giáo Thuyết Của Đấng Kitô

Đến đây, độc gỉa có thể đặt câu hỏi như sau: nếu qủa thực “Phúc-Thật" những miêu tả của những ai sẽ được ân thưởng trong Nước Thiên Chúa, chứ không phải cho những người mong muốn đặt tới đó, vậy tại sao chúng ta học hỏi vê Bát-Phúc-Thật làm gì, tại sao không dành thì giờ để hướng tâm trí vào chính bản chất Nước Chúa, bỏ qua những tiểu tiết không đáng kể.?

Nhưng tại sao Chúa Kitô lại nói đến “Bát-Phúc”? Tại sao Thánh Mathêô lại sưu tập “Bát-Phúc “và đặt vào hàng đầu “Bài Giảng Trên Núi”? Có lẽ cả Thánh Mathêô lẫn Chúa Kitô nhìn thấy mục đích của của “Bát-Phúc”. Chúng ta biết Chúa Jésus không phải là người nói nhiều(nhiều lời). Ngài đã có lần một lần phán dạy các môn đồ của Ngài: trong lời ăn tiếng nói, các con nên “có thì nói có, không thì nói không, bày đều đặt chuyện là việc không nên (Matt 5:37); hoặc nơi khác Ngài khuyên nhủ các môn đệ:””Khi cầu nguyện, các con dừng dài dòng như dân ngoại” (Matt 6:7). đều nầy đưa ta đến kết luận rằng, khi loan báo “Bát-Phúc” trên nuí, Chúa Kitô có mục đích của Ngài.

Thánh sử Mathêô, cũng như phần đông các các sử gia thời xưa, rất cẩn trọng trong các bút tích của các ngài. Nghiên cức các bản thảo của các tác giả tiền phong của kitô giáo, ta thấy các ngài hành văn rất thận trọng, không xóa bỏ hay để khoảng tróng nhiều, không viết trên các khỏang trừ bìa,, cách dùng chữ rất gọn gàng và cẩn trọng. Hiểu như thế, khi xếp đặt thứ tự của Baì-Giảng Trên Núi, Thánh Mathêô có lý do rất nghiêm chỉnh về bài tường thuật của Ngài.Ngài có lý do chính đáng để làm hư vậy.

Đâu là mục đích chung của Chúa Kitô vàcủa Thánh Mathêu ?

Câu trả lời có thể tóm gọn trong bốn chữ: an ủi và xây dựng.

Trước hết là lời cổ võ, khích lệ tất cả những người tin theo Chúa,(đoàn nhỏ), là những người đang sống dưới bánh xe vận-mạng, đang sắp sửa quay sang một giai đoạn khác, và đồng thời cũng soi sáng nhiều kẻ khác con đường của Chúa Kitô, con đường có vô số những kẻ nghèo khó, những người công chính, những tâm hồn hiền hòa, như thế để họ có thể tìm được con đuường hấp dẫn không bị khiển trách về sau. Chân lý của”Bát-Phúc vẫn có thể khuyên dụ vảà khích lệ được những gia đình đang chết vì dói cơm rách áo tại các xứ nam phi như Ethiopia hay Bangladesh, hoặc những người gìa lão bị bỏ rtơi nơi những cư xá công cọng hư nat tả tơi, hoặc khích lệ các thanh niên nam nữ dấn thân làm việc tông đồ truyền giáo tại các nơi vùng đất xa xôi, để bênh vực quyền lợi cho công chúng trước mặt hệ thống luật pháp để họ chú ý đế sự khác biệt giữa hai cảnh giàu nghèo, chúng ta vẩn có 6htể khích lệ được các bậc phụ huynh , tuy đang sống trong cảnh cơ hàn, mong ước cho con cái mình có cơ hội vươn lên, và ngay cả cho chúng ta,những người đang sống tiện nghi hợp với lề luật, gương mẫu trong cọng đồng nhân loại., nhưng tha thiết ước mong xây dựng cho hoà bình của thế giới, vẫn ước mong cho sự lương thiện trong chính trị, sự tốt đẹp và yênu thương trong gia đình và trong cọng đoàn chúng ta đang sống...Tóm lại , dù trong bất cứ cảng ngộ nào,traongh bất cứ môi trường văn hóa chính trị nào, tinh thần “Bát-Phúc vẩn có thể áp dụng được trong chièu hưóng khích lệ lành mạnh và xây dựng hữu hiệu

Một người cầm bút để tranh đấu cho công bình xã hội, cho sự lành mạnh hóa môi sinh sinh sống cho giới thanh niên, mặc dầu người ấy chưa đạt thành ước vọng nmong muốn, nhưng khi viết những giòng chữ có tính cách khích lệ và xây dựng nầy, tâm hồn của nhà văn thấy nhiều hứng thú vì đang hoạt động dưới sự dun dủi của tinh thần của Lề Luật, của Nước Chúa. Trong lúc chúng ta mong ước điều thiẹn hảo cho tha nhân, cho cuộ-c sống, cho xả hội, thì Thien Chúa cũng đang đi vào lịch sử của nhân loại, Ngài đã lên ngôi, Ngài đang hành động trong thế giới để mang lại một thể thể chế mới, một Nước Mới do Ngài đứng ra cai trị ngai toà của Ngài dang trải ra trên trái đất, một ngÀy mới đang ló dạng, một kỷ nguyên mới đang khởi đàu.Một hình ảnh tuyẹt đẹp màtác gỉa Alan Paton dâng hirến chúng ta trng cuốn tiểu thuyết cũa ông mang nhan đề”Cry, the beloved country”( Hãy khóc lên, hởi quê hương yêu dấu) trong đó kể câu chuyện của một vị mục sư già người phi châu tên là Tephanô Cumalô, ông nầy đi lên thành phố Johannesburg để thăm đứa con trai của mình tên là Jonathan, vị mục sư gìa tìm lại được con con mình, nhưng oái oăm thay , chàng trẻ nầy đang bị nhốt trong nhà giam vị tội giết một vị luật sư người da trắng có tên là Arthur Jarvis, vị luật sư nầy bệnh vực quyền lợi cho người da đen bản xứ, ông cũng là người viê6t cuốn sách về nhu cầu thúc bách trả lại công bình cho người da đen đang bị giết hại trong mảnh đát đầy thù hận giết chốc nầy. Vị mục sue gìa tìm đến thân phụ của vị luật sư, xin lỗi vì tội ác con ông đã gây nên. Thân phụ của luật sư cảm kích hành động của vị mục sư da đen già, ông niềm nở vàân cần tiếp đón mục sư, ông nói với mục sư rằng : ông đã đọc xong tác phẩm của con ông , và chính ông đã trao đổi với con ông về những gì cần phải làm cho dân bản xứvề nhu cầu tranh đáu cho dân bản xứ, ông cũng cho mục sư hay là ông biết mực sư có ngơi giáo đườngnhỏ tại làng Ndotsheni cần xây lại dể đáp ứng nhu cầu của dân chúngngày càng đông, ông là người sẽ đến lo việc xây cất nầy cho mục sư và hứa cho chở đến làng các dụng cụ cần thiết để xây caí đê ngăn nước cho dân làng có cơ hội canh tác, như thế là dâ\n làng có nước quanh năm không bị hạn hán như xưa.

Tin đồn về những gì sẽ được thực hiện đến tai dân làng Ndotsheni tạo nên một sự ngỡ ngàng, vui mầng khôn tả:sẽ có nước ôống quanh năm cho dân láàng và đoàn vật, sẽ có nước đẻ dẫn thuỷ nhập điền, sẽ có thực phẩm cho người lớn và sữa cho bé thơ! sẽ có công ăn việc làm cho mọi giới, thanh niên nam nữ khỏicần bỏ trốn về thành thị kiếm sống chui rúc nữa! sẽ có tiếng cười vui và tiếng nhạc reo vang trong thôn xóm với những vũ điệu mầng vui cho mùa gặt hái phì nhiêu! Mặc dầu chưa có chi xảy ra trong thực tế cả! nhưng đã có một cái gì thay đổi tất cả, biến cải tất cả! lời của tác gĩa cuốn chuyện:”Cho dầu chưa có chi cụ thể trông thấy cho dân làng, nhưng có một cái gì đó đã thực sự hiẹndiện nơi đây rồi, người ngưoiìi cảm nghiệm đưực đều đó!

 

Tinh Thần Lời Rao Giảng

Có lẽ tinh thần câu chuyện đang được áp dụng cho trường hợp của “Bát-Phúc”...Đây chính là đường lối xảy ra cho “đoàn nhỏ” (LittleOnes) mà Chúa Kitô miêu tả trong “Tám Mối Phúc Thật”Khi Chúa Giảng Bài Trên Núi về Tám-Mối Phúc-Thật”, chưa có gì xảy ra cho các môn dồ và đám đông dân chúng theo Ngài! Họ vẩn cònlà những người nghèo đói; mệt lã, thiếu thốn, khao khát, mong đợi; nhưng dường như tất cả đã thay đổi, Lề Luật Thiên Chúa đang trên đường đến với họ. Với những ai trong chúng ta, chưa phải ở trong ttình trạngnhững kẻ bần cùng đói rách trong xã hội loài người, thì những đuều nầy sẽ giúp soi sáng tâm trí và giáo dục lòng trí chúng ta được nhìn thấy và hiểu thấu “đoàn con nhỏ”(The Little One) củ chúa dưới một tia áng sáng mới mẻ và thật huyền diệu:chúng ta hiểu biết Chúa khá rõ hơn khi nhìn thấy những kẻ nghèo đói và những tâm hồn đơn sơ hồn nhiên, và bất cứ những ai đang cố gắng thực thi công bình bắc aí cho Nước Chúa được trị đến, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng chính Thiên Chúa yêu thương họ, Chúa gần gũi họ, lắng nghe họ. Như thế, đến lượt chúng ta, chúng ta cũng ước muốn cho Nước Trời chóng hoàn thành trên trái đất, chúng ta biết bắt đầu bắt chước đường đi nước bước của những ai người được Chúa yêu thưong và săn sóc. Chjúng ta bắt đầu khao khát số phận cuộc sống của những người được Thiên Chúa chúc phúc. Nộu tôi thấy rằng mình sẽ bị xét đoán trước tòa Chúa về thái độ sống ung dung của tôi trong tiện nghi đầy đủ, mà không mấy quan tâm đến những kẻ vô gia cư, những kẻ chết lạnh trong mùa đông, và chết chấy trong mùa hè nắng bỏng, tôi có lẽ nhờ đó mà biết nhạy cảm hơn trước nhu cầu của những người nghèo không nhà(homless trong thành phố tôi đang sống, có lẽ tôi chịu khó hơn tham gia tranh đấu cho quyền lợi của họ.

Nếu tôi nhận thức được rằng chính Thiên Chúa sẽân thưởng cho những ai nghèo khổvà khát khao sự công minh chính trực, tôi có thẻ tự klương tâm mình tố cáo mình vì nếp sống qúa dung thứ cho những mơ ước bất chính, cho trí tượng không trong sạch của chính mình, tôi sẽ ra khỏi cái vỏ ốc ích kỷ, cái khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa, khutynh hướng vinh thân phì gia,mà cố gắng hơn cảm xúc được tình đồng bào, đồng hương, biết ưu tư lo lắng cho những người thiếu may mắn trong cọng đồng của tôi đang sống, nghĩa là tôi không còn sống bên lề cuộc sống của tha nhân, biết cảm thương tha nhân như Chúa Kitô yêu thương họ, làm sao tôi có ther28 sống trong tâm tình kitơ hữu trọn vẹn như lời ThánhPhaolô :”tôi trở nên tất cả cho mọingười(Omnia omnibus factus sum) và mạnh mẽ hơn :”tôi vui với những ai đang vui mầng, buồn khổ với những ai đang khổ sầu(gaudatus cum gaudentibus, fleremns cum flerentibus).

Nếu tôi hiểu rằng, Chúa nhìn xuống với niềm xót thương yêu mến trên những ai chịu bách hại, chịu khổ cực vì niềm tin của họ, tôi may ra bắt đầu suy nghĩ tại sao tôi chẳng phải chịu đựng gì để thanh tẩy niềmtin của mình? Phải chaq1ng đức tin của tôi không đủ mạnh để chống lại sức mạnh của Satan, thần dữ trong thế giới? hay là chính tôi lợi dụng niềm tin của mình như chiếc phao trôi đ28 tìm nơi tẩu thoát khỏi bị phiền hà liên lụy?Để rồi tránh đI như không cảm thấy quan tâm đến số phận các linh hồn sa đọa? Hay là tôi tự biện hộ cho sự hèn nhát của mình bằng cách không dám làm gì va chạm truyền thống hay quyền bính của tôn giáo hay của tập thể?

Tinh thần”Bát-Phúc” nếu ta suy gẫm và nguyẹn cầu cách nghiêm chỉnh và thành tâm trước nhan nthánh của Chúa, sẽ có khả năng cảm hóa chúng ta cho chúng ta hiểu thấu thế nào là”Lề-Luật” của Nước Chúa, và thế nào là bước theo đường Chúa Kitô. Mỗt khi được ánh sáng Thánh Linh Thiên Chúa hướng dẫn, chúng ta có thể nhìn thấy thực tại của thế giới như chính Thiên Chúa thấy, để rồi qui hướngcuộc sống của mình trong phục vụ và khiêm tốn...

 

Sự mâu thuẫn giữa Phúc Âm và khuynh hướng thế tục

Để có thể hiểu biết tường tận chân lý của “Bát-Phúc”, và sống trọn vẹn tinh thần đó, chúng ta cần nhắc nhở chính mình sự đối nghịch giữa hai tinh thần: tinh thần “Nước Chúa”, và tinh thần của thế gian:

Thế gian chủ trương: giàu có, chiếm hữu và hưởng thụ thật nhiều là sung sướng

Phúc-Âm dạy ta: nghèo khó trong tinh thần là có phúc.

Thế gian chủ trương: Vui chơi, hưởng thụ cuộc đời, là sung sướng;

Phúc-Âm dạy: biết khóc than là chân hạnh phúc.

Thế gian chủ trương: luôn chiếm ưu thế hơn người, lấn át khuất phục được người, mơí là sung sướng;

Phúc-Âm dạy: biết sống khiêm nhu, biết nhường nhịn mới là có phước.

Thế gian cho rằng: Sống theo thói đời, sống xả láng mới là sung sướng.

Phúc-Âm dạy: biết đói khát, biết tìm kiếm sự công chính trọn lành mới là chân hạnh phúc.

Thế gian chủ trương: trả được thù, rửa xong mối hận, biết ăn miếng trả miếng mới xứng đáng sống trên đời.

Phúc-Âm: có lòng tư tâm, biết tha thứ cho kẻ thù mới là đại dũng, là có phước.

Thế gian chủ trương: biết ăn chơi nếm cho đủ mọi mùi khoái lạc trên đời mới thực là sống sung sướng

Phúc Âm dạy: Có trái tim trong sạch, sống đức hạnh, đoan trang, cao thượng, như bông sen gần bùn mà chẳng hôi thanh mùi bùn, mới là chân hạnh phúc.

Thế gian chủ trương: luôn thủ cho mình mưu cơ, mánh lới để sẩn sàng đối chọi và đánh hạ kẻ thù mới là sống hào hùng sung sướng.

Phúc Âm dạy: Biết làm cho người hòa thuận,làm cho hoà bình đến với con ngườimới thật là kẻ có phúc.

Thế gian chủ trương: mưu toan để luôn được ưu đãi, luôn chiêm ưu thế, luôn được mọi người qui phục, không đứng về phía người thua cuộc, mới gọi là sống khôn, sống sung sướng.

Phúc-Âm dạy: biết chấp nhận thử thách, biết chịu thiệt thòi, nhất là chịu bách hại vì danh Đức Kitô, mới xứng gọi là có phúc thật.

Trên đây là những mô tả “cơ cấu” và phản-cơ-cấu” của thế gian và “Nước Thiên Chúa” hay “Nước Trời”.

Từ lâu, đã có giao tranh, có xung khắc giữa con đường của thế tục và con đường của Thiên Chúa. Nhung thời giờ đã đến, không phải con đường thế tục hoàn thành sứ mẹnh lịch sử, nhưng phải làcon đường của Thiên Chúa hoàn thành mọi sự, như chính Thien Chúa là đấng đã sáng tạo nên mọi sự

Mọi sự sẽ xảy ra như chính ý muốn của Thiên Chúa, không cần đến bàntay của con người, cũng chính thánh ý Thiên Chúa sẽ giúp cho con người biết đi theo đường lối của Thiên Chúa muốn chúng ta phải sống làm sao nhằm đạt tới mức độ tốt đẹp nhất.

Câu chuyện sau đây nói lên một hình ảnh “làm sao đường lối của Thiên Chúa hoạt động trong thế giới”. Cuốn tiểu thuyết của Joseph F. Girzone’s Joshua, câu xhuyện về Chúa Jésus nhà chạm trổ tân thời có cái tên Do-Thái là Joshua.

Chàng Joshua dời đến gần một làng nhỏ, có tên là Auburn. Anh ta sống rất đơn sơ giản dị,,rấ tcởimở, thành thật và rộng rãi dễ tính đối với tất cả mọi người.Ban đầu người ta đều nghi ngờ anh là mkẻ xa lạ có lối sống hơi kỳ lạ đối với họ, nhưng dần dần ,mọi người trong làng đèu quí mến anh. Một ngày kia có người chủ một xưởng máy kia tên là Aaron Fahn, 4ến thăm Joshua, nói cho anh ta biết về cách sống của Joshua, Aaron muốn biết tại sao Joshua lại có kiểu sống như vậy... Nhưng Joshua cũng hỏi Aaron tại sao ông ta lại muốn biết về mình. Aaron trả lời:”Bởi vì tôi không thể hiẻu được tại sao con người như anh lại có cái nhìn về cuộc đời khác lạ đối với hết mọi người ở đây, tôi chưa bao giờ tháy có ai như vậy.

Joshua trả lời: “Mỗi người có nhìn vào cuộc đời với nhãn quan khác nhau. Ba người có thể nhìn một lúc vào cây kia, nhưng mỗi người có một cái nhìn riêng: một ngườithì nhìn cây gỗ có gía trị trên thị trường cẩm lâm, bán được nhiềutiền, người thứ hai nhìn cây dưới khía cạnh cung cấp cỉi đốt trong mùa đông. Cỷn người thứ ba nhìn thấy cây như nmột tác phẩm tuyệt diệu của Thiên Chúa sáng tạo, đưa dđến cho con người một diẽn tả của tình yeu thương của /thiên Chúa, sức mạnh kien trường chiu đựng và gía trịcao vời gấp trăm nghìn lần gía trị của lâm sản hay củi đốt trong mùa đông.Điều chúng ta sống xác định đều chúng ta nhìn thấy đưa đến cho chúng ta cái nhản quan nội tâm

Aaron hỏi:”Ai đã dạy anh những đều đó?

Đó là đều tôi nhìn thấy, Joshua trả lời,”và ông cũng có thể nhìn được như vậy, nếu ông chiu khó đừng lệ thuộc những sự vật chung quanh, người đời cho là có gía trị. Nhữngthứ của cải vật chất, những thứ ông chiếm hữu không mang lại an bình cho ông, và không bo giờ làm ông thỏa mãn, chúng để cho ông một sự tróng trãi chán chường, và thúc b6ch ông đI tìm một cái gì khác nữa,..AAron nhìn nhận chân lý, nhưng băn khoăn làm sao Joshua biết những dêều đó.Jooshua rả lời:”tôi biết con người được yạo dựnglàm sao., tôi biết con ngườithật sựcần đều gì, nếu con ngưòimuồn trưửng thành và muốn tìm sự an bình” (New York, Macmillian Co, 1987, P.67)

Đó là lý do tại sao”Tám-Mối-Phúc-Thật" quan trọng, và tại sai thánh Mathêô lại đem “Bài Giảnh-Trên-Núi" đặt lên hàng đầu các huấn lệnh quan trọng của đời rao giảng công khai của Chúa Cứu-Thế!

Thực vậy, "Tám-Mối-Phúc-Thật" là lời tuyên ngôn về cách thức chúng ta được thực sư tác tạo, trong chương trình huyền nhiệm của Thiên chúa, làm sao chúng ta tìm đưực chân hạnh phúc. Nói theo ngôn từ thần-học Giáng-lâm
đây là cách thức khi "Cơ cấu Nước Trời" đến, sẽ lật đổ mọi cơ cấu hiện tại của thế giới, và như thế con cái “ Nước-Chúa” tìm thấy cuộc sống đầy an bình và hạnhphúc.

 

Đấng Kitô Qua Nhãn Quan Ngôn Sứ Isaia

Các vị tiên tri đặc biệt là tiên tri Isaia đã nhìn thấy ngày vinh quang, toàn thắng, ngày mà Đức Yahvê Thiên Chúa thực thi trọn vẹn những gì Ngài phán hứa, bằng cách xóa tan mọi quân thú, tái chiếm ngai vàng cho cõi Juda, đem công lý và hòa bình đến trong thế giới, dưới đây là đoạn văn được tô điểm rực rỡ dưới ngòi bút của Isaia:

“Dân đi trong tối tăm, đã nhìn thấy ánh sáng rực rỡ,nmhững người ngồi trong chốn thâm u, đã nhìn thấy ánh sáng rạngngời,Người đã tăng bội hân hoan, Người đã ban niềm vui lớn,Trước nhan thánh Người, chúng được mầng vui, niềm vui như mùa gặt lớn, vui như lúc thiên hạ hân hoan chia chién lợi phảm trong cuộc chiến thắng,Vì cái ách đè nén trên đầu dân,cây gậy của bọn đốc cơng Người đã bẻ gãy và đập nát tan tành, như như ngày trong chiến trận ở Mêđiăn, giầy ủng xâm lăng, chiến bào vấy máu đã bị người thiêu rụi trong lửa cháy ngợp trời,tất cả di tích lầm than đọa đày sẽ không còn, tất cả đã bị thiêu rụi biến thành tro bụi”!

“Parvulus enim natus est nobis,
filius datus est nobis;
et factus est principatus super umerum eius;
et vocabitur nomen eius
admirabilis Consiliarius, Deus fortis,
Pater aeternitatis, Princeps pacis.
Magnum erit eius imperium,
et pacis non erit finis
super solium David et super regnum eius,
ut confirmet illud et corroboret in iudicio et iustitia
amodo et usque in sempiternum:
zelus Domini exercituum faciet hoc’

 

Vì Một Trẻ Thơ đã sinh ra cho ta, Một Bé Trai xinh xắn mỹ miều được ban xuiống cho ta! Vai của Ngài sẽ gánh vác Non sông Đất Nước! Quyền bính nằm trọn trong tay Ngài. Và thiên hạ tung hô danh hiệu của Ngài:”Cố Vấn Kỳ Diệu, Thần Anh Dũng Người cha muôn Thủa, Ông Vua Thái Bình”Ngài nắm quyền bính bao la, đem lại an bình vô tận trên ngai tỏa của nnhà Davit, nhờ sức mạnh của Người mà đát nước được vững bền kiên cố, nhờ ân điển của Người, mà công bình chính nghĩa được bề lâu muôn thủa.” (Is 9, 2--7).

Đấng Kitô được tiên tri Isaia tiền kiến lá Người Cha Muôn Thủa, Ông Vua Thái Bình, nhưng Ngài không cầm vương niệm oai phong như các vua trần thế. Ngài sẽ chiến thắng quân thù và lập vương quyền không bằng sức mạnh gươm đao hùng mạnh, nhưng qua con đường khổ nhục. Trong nhản quan ấy, ngôn sứ Isaia giới thiêu Đấng Kitô như Người tôi tớ chịu đau khổ, nhịn nhục, đầy đọa để đền thay tội lỗi của nhân loại. Qua lời văn thật tuyệt vời óng ả, Isaia đã dành trọn cả chương 54 để phác họa Người Đầy Tớ Đau Khổ huyền bí nầy như sau:

“Quis credidit auditui nostro,
et brachium Domini cui revelatum est?
Et ascendit sicut virgultum coram eo
et sicut radix de terra sitienti.
Non erat species ei neque decor, ut aspiceremus eum,
et non erat aspectus, ut desideraremus eum.
Despectus erat et novissimus virorum,
vir dolorum et sciens infirmitatem,
et quasi abscondebamus vultum coram eo;
despectus, unde nec reputabamus eum.
Vere languores nostros ipse tulit
et dolores nostros ipse portavit;
et nos putavimus eum quasi plagatum,
percussum a Deo et humiliatum.
Ipse autem vulneratus est propter iniquitates nostras,
attritus est propter scelera nostra;
disciplina pacis nostrae super eum,
et livore eius sanati sumus.
Omnes nos quasi oves erravimus,
unusquisque in viam suam declinavit;
et posuit Dominus in eo
iniquitatem omnium nostrum ”.
Afflictus est et ipse subiecit se
et non aperuit os suum;
sicut agnus, qui ad occisionem ducitur,
et quasi ovis, quae coram tondentibus se obmutuit
et non aperuit os suum.
Angustia et iudicio sublatus est.
De generatione eius quis curabit?
Quia abscissus est de terra viventium;
propter scelus populi mei percussus est ad mortem.
Et posuerunt sepulcrum eius cum impiis,
cum divitibus tumulum eius,
eo quod iniquitatem non fecerit,
neque dolus fuerit in ore eius.
Et Dominus voluit conterere eum infirmitate.
Si posuerit in piaculum animam suam,
videbit semen longaevum,
et voluntas Domini in manu eius prosperabitur.
Propter laborem animae eius
videbit lucem, saturabitur in scientia sua.
Iustificabit iustus servus meus multos
et iniquitates eorum ipse portabit.
Ideo dispertiam ei multos,
et cum fortibus dividet spolia,
pro eo quod tradidit in mortem animam suam
et cum sceleratis reputatus est;
et ipse peccatum multorum tulit
et pro transgressoribus rogat
. (Is. 54, 1-12)

Kinh Thánh Cựu-Ước không những chiếm một phần quan trọng trong sinh hoạt văn-hóa của chủng tộc Do-Thái, còn là con đường sống, một lý tưởng ước mơ. Sinh hoạt văn hóa thánh kinh đó suốt giòng lịch sử kim cổ cũa Do Thái, Ngôn Sứ Isaia không những mô tả nhân vật huyền nhiệm Đấng Kitô, mà còn dành cho Đấng Kitô Cứu Thế tương lai một thế dứng quan trọng trên giòng sinh mệnh của nhân loại trong một tương lai tràn đầy hy vọng. Đặc biệt với dân tộc Do-Thái, Isaia đã nuôi dưỡng trong tâm trí ho một niềm hy vọng giúp họ vượt qua biết boa sóng gío bao đào. Hình ảnh Đấng Kitô được gắn liền với “Ngày Thiên Chúa Đến” “ Ngày Chúa Thống trị muôn dân” luôn rực sáng trong trái tim Doo-Thái qua mọi thời đạI. Không có người do-Thái nào mà không biết đến những đoạn Kinh Thánh đặc biệt ám chỉ “Ngày Của Những Biến Cố Vĩ Đại”.

Chúng ta không lạ gì khi thấy vua Hêrôđê và quần thần của ông bối rối hoảng hốt khi nghe những nhà chiêm tinh Đông Phuơng hỏi về vị Tân-Vương mới sinh cuả họ. Vì thất vọng không tìm được vết tích của Tân Vương gíang sinh, nên Hêrôđê đã nổi dận không còn dấu diếm được âm mưu ác độc của mình là tàn sát Hài Nhi tân Vương. Ong ra lệnh giết tất cả các trẻ con mới sinh trong khỏng hai năm, không nhửng ở Bethlêem mà thôi, màcòn c8a các vùng phụ cận

Riêng những người Do-Thái đạo đúc,trông chờ “Ngày Của Thiên Chúa Đến” bằng cuộc sống thánh thiện đạo hạnh, họ mong chờ những dấu hỉ của thời gian(signum temporis) của Chúa!

“Ngày Chúa Đến”, hay “Nước Thiên Chúa”, phải là” Một Biến Cố “hết sức quan trọng mà người Do-Thái đạo đức co như “Biến Cố Nước Thiên Chúa” nghĩa là chính Thiên Chúa trược tiếp cai trị trái đất, được mô tả như “Một Vương Quốc Lý-Tưởng”, chống lại cơ cấu (anti-structure) hư đốn của các chế độ cai trị hư đốn bấy nay trong lịch-sử. Cơ cáu cai trị hư đ6n xưa củ phải được thay thế: nghĩa là sự dữ, bất công, nghèo khổ, đói khát, nô lệ, tù đày, giam cầm, bóc lột, và những tham vọng bẫt chính của phường độc tài thối nát phải bị trÛệt hạ tận gốc rễ. Chỉ Một Thiên Chúa mà thôi, sẽ cai trị muôn dân trên địa cầu trong công bình và chíng trực,

Dẫu tin hay không Chúa Kitô có thực sự là người mà Thiên Chúa sai xuống thế để thiét lập “Nước Thiên Chúa trên trần gian”, các kẻ thù của Ngài cũng hết sức cẩn trọng và bất ổn, bối rối, vì sợ rằng có nhiều người dám tin như thế! Kẻ thù Chúa Kitô làm mọi cách để ngăn chặn , họ dùng mọi âm mưu để triệt hạ vì sợ rằng có những âm mưu chính trị sẽ lợi dụng thời cơ để làm nên đại sự là lôi kéo quần chúng đứng về phía của họ.Nếu Jesus kh2ng phải là người gây nên xáo trộn, thì Ngài cũng bị coi như là tâm điểm của đám đông xáo động, lần đàu tiên đã tụ họp thành đoàn lũ để phản kháng đá đảo để tiêu diệt Ngài. Tất cả cuộc đời và sứ mệnh của Ngài, cuối cùng bị dồn vào cuộc chống đối liên tục, cuộc phản áng tàn bạo,và kẽ cố nhiên, cao điểm ở cuộc tử nạn đớn đau trên Thập Tự giá!

Ngài Là Ai? Con Người ngoại thường nầy đứng ở tâm điểm của những gì đã được tiên báo, đã được loan truyền tự nhiều nghìn năm là “Đấng Sẽ Đến, Phải Đến để thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa!

Ngài Qủa Thực Là Ai?

Có đều lạ lùng đến hứng thú là cách thức Thánh Sử Mathêô miêu tả Chúa Jêsus: đó là sự kiện Jêsus được nhìn như là một biến cố quan trọng hơn là một nhân vật. Thánh sử Mathêô rất ít khi cho chúng ta thấy những chi tiết về đời tư của Chúa Jésus mà không liên hệ đến một chi tiết quan trọng, đó là “Nước Chúa”(The Rule of God)! Thực vậy, chúng ta không biết được gì về đời tư của Chúa Jésus, chẳng hạn như Ngài đen hay trắng, cao hay thấp, Ngài ăn mặc như thế nào, Ngài ưa thích những gì? Cỵch thức sống của Ngài ra sao? Ngài học trường nào, với ai, có trình độ văn hóa ra sao? vvv

Cho rằng Mathêô biết được một số chi tiết về đời tư của Chúa Jésus chăng nữa, những đều đó chẳng có gì quan trọng. Chỉ có một đều đáng đáng nói, một điều choán ngự sự chú ý của Mathêô, là sự kiện, ông tin đó là sự kiện, Thiên Chúa thực sự phá vỡ sự yên lặng, bỏ quên từ bao thế kỷ, Thần Linh đã ra tay sai Đấng Được Chọn đến thiết lập Vương Quốc Thánh Thiện vá Chính Trực được đoan hứa từ lâu.Những gì mà chúng ta tìm thấy trong Phúc Âm không phải là chân dung chúa Jésus, với những chi tiết về đời tư của Ngài, theo lối các phóng viên báo chí thời nay quen làm, trái lại, Phúc „m kể lại những gì Chúa Jésus đã làm, những gì xảy ra chung quanh Ngài, như việc quần chúng bắt đầu tiếp xúc với “Nước-Trời”, cuộc giao đấu có tính cách sinh tử giữa hai quyền lực Thiện-Ác.

Sứ mệnh tông đồ của Ngài bắt đầu có sức mạnh bành trướng, như sức sinh trưởng của hạt cải. Nơi Phúc Âm, chúng ta không gặp Ngài bằng bằng xương bằng thịt, bằng hình dạng cao thấp đên trắng, bằng tư cách học thức hay bằng tài ba lỗi lạc của một nhân vật nổi tiếng, trái lại chúng ta gặp nơi Ngài chân dung của một vị Tiên Tri, một Thầy Dạy, và Một Vị Lương Y Chữa Lành. Tóm lại, Phúc Âm mô tả cách thức Ngài ban bố một thời đại mới đang đến.

 

Đấng Kitô Qua Truyền Thống Văn Hóa Do-Thái

Kinh Thánh không những chiếm một phần quan trọng trong sinh hoạt văn-hóa của chủng tộc Do-Thái, còn là con đường sống, một lý tưởng ức mơ. Sinh hoạt văn hóa thánh kinh đó suốt giòng lịch sử kim cổ cũa Do Thá, đã dâng hiến cho họ một thế dứng vững vàng trong giòng sinh mệnh của thế giới, đã nuôi dưỡng trong tâm trí ho mộtniềm hy vọng giúp họ vượt qua biết boa sóng gío bao đào. Hình ảnh “Ngày Thiên Chúa Đến” “ Ngày Chúa Thống trị muôn dân” luôn rực sáng trong trái tim Do-Thái qua mọi thời đạI. Không có người do-Thái nào mà không biết đến những đoạn Kinh Thánh đặc biệt ám chỉ “Ngày Của Những Biến Cố Vĩ Đại”. Chúng ta không lạ gì khi thấy vua hêrôđê và quần thần của ông bối rối hoảng hốt khi nghe những nhà chiêm tinh Đông Phuơng hỏi về vị Tân-Vương mới sinh cuả họ. Vì thất vọng không tìm đôộc vết tích của Tân Vương gíang sinh, nên Hêrôđê đã nổi dận không còn dấu diếm được âm mưu ác độc của mình là tàn sát Hài Nhi tân Vương. Ong ra lệnh giết tất cả các trẻ con mới sinh trong khỏng hai năm, không nhửng ở Bethlêem mà thôi , màcòn c8a các vùng phụ cận

Riêng những người Do-Thái đạo đúc,trông chờ “Ngày Của Thiên Chúa Đến” bằng cuộc sống thánh thiện đạo hạnh, họ mong chờ những dấu hỉ của thời gian(signum temporis) của Chúa!

“Ngày Chúa Đến” , hay “Nước Thiên Chúa”, phải là” Một Biến Cố “ hết sức quan trọng mà người Do-Thái đạo đức co như “Biến Cố Nước Thiên Chúa” nghĩa là chính Thiên Chúa trược tiếp cai trị trái đất, được mô tả như “Một Vương Quốc Lý-Tưởng”, chống lại cơ cấu (anti-structure)hư đốn của các chế độ cai trị hư đốn bấy nay trong lịch-sử. Cơ cáu cai trị hư đ6n xưa củ phải được thay thế: nghĩa là sự dữ, bất công, nghèo khổ, đói khát, nô lệ, tù đày, giam cầm, bóc lột, và những tham vọng bẫt chính của phường độc tài thối nát phải bị trÛệt hạ tận gốc rễ. Chỉ Một Thiên Chúa mà thôi , sẽ cai trị muôn dân trên địa cầu trong công bình và chíng trực,.

Dẫu tin hay không Chúa Kitô có thực sự là người mà Thiên Chúa sai xuống thế để thiét lập “Nước Thiên Chúa trên trần gian”, các kẻ thù của Ngài cũng hết sức cẩn trọng và bất ổn, bối rối ,vì sợ rằng có nhiều người dám tin như thế! Kẻ thù Chúa Kitô làm mọi cách để ngăn chặn , họ dùng mọi âm mưu để triệt hạ vì sợ rằng có những âm mưu chính trị sẽ lợi dụng thời cơ để làm nên đại sự là lôi kéo quần chúng đứng về phía của họ.Nếu Jesus kh2ng phải là người gây nên xáo trộn, thì Ngài cũng bị coi như là tâm điểm của đám đông xáo động, lần đàu tiên đã tụ họp thành đoàn lũ để phản kháng đá đảo để tiêu diệt Ngài. Tất cả cuộc đời và sứ mệnh của Ngài, cuối cùng bị dồn vào cuộc chống đối liên tục, cuộc phản ánh tàn bạo,và kẽ cố nhiên, cao điểm ở cuộc tử nạn đớn đau trên Thập Tự giá!

 

Đấng Kitô, Ngài Là Ai?

Ngài Là Ai ? Ngài qủa thực là ai vậy?

Con Người ngoại thường nầy đứng ở tâm điểm của những gì đã được tiên báo, đã được loan truyền tự nhiều nghìn năm là “Đấng Sẽ Đến, Phải Đến để thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa! Qủa Thực Ngài Là Ai Là Ai?

Có đều lạ lùng đến hứng thú là cách thức Thánh Sử Mathêô miêu tả Chuía Jêsus: đó là sự kiện Jêsus được nhìn như là một biến cố quan trọng hơn là một nhân vật. Thánh sử Mathêô rất ít khi cho chúng ta thấy những chi tiết về đời tư của Chúa Jésus mà không liên hệ đến một chi tiết quan trọng, đó là “Nước Chúa”(The Rule of God)! Thực vậy, chúng ta không biết được gì về đời tư của Chúa Jésus, chẳnghạn như Ngài đen hay trắng, cao hay thấp, Ngài ăn mặc như thế nào, Ngài ưa thích những gì? Cách thức sống của Ngài ra sao? Ngài học trường nào, với ai, có trình độ văn hóa ra sao?vv Cho rằng Mathêô biết được một số chi tiết về đờitư của Chúa Jésus chăng nữa, những đều đó chẳng có gì quan trọng. Chỉ có một đều đáng đáng nói, một đều choán ngự sự chú ý của Mathêô, là sự kiện, ông tin đó là sự kiện, Thiên Chúa thực sự phá vỡ sự yên lặng, bỏ quên từ bao thế kỷ, Thần Linh đã ra tay sai Đấng Được Chọn đến thiết lập Vương Quốc Thánh Thiện vá Chính Trực được đoan hứa từ lâu.

Những gì mà chúng ta tìm thấy trong Phúc Âm, không phải là chân dung chúa Jésus, với những chi tiết về đời tư của Ngài, theo lối các phóng viên báo chí thời nay quen làm, trái lại, Phúc Âm kể lại những gì Chúa Jésus đã làm, những gì xảy ra chung quanh Ngài, như việc quần chúng bắt đầu tiếp xúc với “Nước-Trời”, cuộc giao đấu có tính cách sinh tử giữa hai quyền lực Thiện-Ác.sứ mệnh tông đồ của Ngài bắt đàu có sức mạnh bành trướng, như sức sinh ttrưởng của hạt cải. Nơi Phúc Âm, chúng ta không gặpNgài bằng bằng xương bằng thịt, bằng hình dạng cao thấp đên trắng, bằng tư cách học thức hay bằng tài ba lỗi lạc của một nhân vật nổi tiếng, trái lại chúng ta gặp nơi Ngài chân dung của một vị Tiên Tri, một Thầy Dạy, và Một Đấng Chữa Trị. Tỳm lạo, Phúc Âm mô tả cách thức Ngài ban bố một thời đại mới đang đến.

 

Những Tước Hiệu Dùng Để Mô Tả Đấng Kitô

Là Đấng tiên-Tri, theo cách thức của gioan Tẩy Giả, Ngài loan báo Thời Điểm của Nước Chúa đến.

Là Một Bậc Thầy, Ngài giảng dạy qua các lời tuyên bố, các dụ ngôn, các lời giảng giải, theo đó các môn đệ học để hiểu biết “Lề Luật của Nước Trời” đến như thế nào, làm cách nào họ sống theo và phục vụ Nước Trời.

Là Lương Y, theo nghĩa bóng hay nghĩa đen, Ngài đã cứu chữa vô số mạng sống con người, qua niềm tin, những người nầy đã hưởng nhờ hồng ân cứu chuộc trong lúc giao thời giữa thời gian hiện đạI và Nœớc Chúa Vửnh Hằng. Ngài hoàn toàn và trọn vẹn dấn thân vì Nước-Trời. Lỷng nhiệt thành với Nhà Chúa thôi thúc và làm Ngài hao mòn(Kinh Thánh) dĩ nhiên đem Ngài đến cái chết nhục nhã treo tren thập gía, rồi ngài thứ ba Ngài sống lại. Tỳm lại, cuộc sống và đời roa giảng tin mầng của Ngài hoàn toàn gắn liền với biến cố Nước Trời. Đó là lý do tại sao, trongcác cuộc tranh luận bàn thảo với các tôn giáo khác, chúng ta không thể coi Chúa Jésus ngang hàng với các lãnh tụ các tôn giáo khác, cho dù các vị nầy có những tài năng và soi sáng ngoại thường. Bởi chưng, trong Chúa Kitô và nơi Chúa Kitô, Nưóc Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta.Ngài là Biến cố Nước Thiên Chúa, không phảivìnơi Ngài có ý thức về luân lý đạo đức cao siêu kiểu Khổng Phu Tử, hay có cái nhìn siêu thoát về vấn đề ?đau khổ như kiểu Phật Thích Ca, cũng không phải vì tinh thần kỷ luật và dấn thân cao độ cở Mahomet, Nhưng Ngài chính là Nước Thiên Chúa, là sư Cai-Trị của Thiên Chúa, Ngài là Lề-Luật Thần Linh giữa trần gian

Đọc kỷ Phúc „m Thánh Mathêô, chúng ta thấy tác gỉa đặc biệt chú trọng vào biến cố thời điểm của Nước Chúa, với sự chú tâm quan trọng nầy, Biến-Cố Jésus” được coi như cao điểm của Phúc-„m, đặc biệt là những đoạn Mat.16:18): Ông Simon Phêrô tuyên xưng Đức Jésus là Đáng Kitô Thiên Sai của của Thiên Chúa; chương 22 tới 25, vói dụ ngôn về tiệc cưới. những tranh luận giữa Chúa Jésus và nhóm Pharisieu, và nhiều dụ ngôn khác nói về Vương Quốc Thiên Chúa; Nơi các chương 26, 27 nói về mưu phản và việc xử tội, đóng đanh, chương 28 đề cập đến sự kiện động đất (chúng ta liên tưởng đến thánh vịnh 99, 1, coi việc động đất đồng nghĩa với việc Thiên Chúa lên ngôi cai trị, làm cho trái đất rung chuyển), rồi đến một tin Chúa Phục Sinh sống lại làm chấn động dư luận gần xa, và sau cùng là việc các môn đệ trung thành đI rao giảng tin mầng..Nhưng trên hết, chính lời tuyên xưng của ông Simon Phêrrô mới lả cao điẻm của Phúc „m Mathêô, bỏi vì lời tuyên xưng nầy đánh đúng trọng điểm của tâm lý quần chúng Do-Thái, bằng một hình thức thu tóm gọn gàng,lời tuyên xưng của Phêrô nói lên hết những gì mà Mathêô muốn nói vói toàn dân Do-Thái về biến cố mà họ đã chờ đợi từ bao thế kỷ, đó là Thời điểm của lảnh vực Siêu Việt mà Jésus đóng một vai trò quan trọng trong đó. Một khi sự nhận biết nầy đã hoàn tất, Jésus có thể bị tố cáo và bị dẫn đến án tử, một khi mà tri thức về quyền lực thần linh của Nước Chúa chiếm ngự trong lòng ta, tri thức đó không bao giờ bị mai một, tự nó có sức mạnh trường tồn, có khi không cần đến sự hiên diện thể lý của Đấng tạo nên tri thức đó. Như đã nói trên, với Mathêô, biến có Nước Chúa quan trọng hơn là nhân vật tạo nên biến cố.

Trên đay, chúng ta dài dòng về Biến Cố Nước Chúa, Luật-Lệ Thần Linh (The Rule Divine)lý do của sự bàn thảo dài dòng trên là chuẩn bị tâm trí chúng ta đi vào ý nghĩa và chiều sâu của Sứ-Điệp Tám-Mối Phúc Thật, tạm dịch là Bát-Phúc, được Thánh sử Mathêô kể bặt đầu chương thứ Năm(5) và trải rộng suốt chương thứ Bảy (7), coi như cột trụ của Phúc Âm Mathêô. Nếu đọc Bát-Phúc một cách thoáng qua thôi, chúng ta có cảm giác như là một thứ luân lý đạo đức, một thứ lý tưởng sống. Thực ra, Bát-Phúc không phải là mộ-t loại luân lý , đạo đức hiểu như kiểu luân lý của Khổng Mạnh, hay những triết lý, học thuyết đạo đức của các bậc hiền gỉa trên giòng tư tưởng triết sử, các thư châm ngôn ngạn ngữ thêm chất liệu khôn ngoan cho cuộc sống con người, những bài học chứa đựng trong “Bát-Phúc” qủa thực là cốt-lũy nội tại đồng thời là những huấn lệnh khởi nguyên từ những Giới-Răn căn bản của Thiên Chúa truyền dạy cho con người,.

Tóm lại, đó là bản chất của Lề-Luật Thần-Linh (God’s Rule). Những gì phát nguyên từ Bát-Phúc, những gì có liuên hệ tới sự chính trực, những gì nối kết con người với Nước ‘thiên Chúa, tất cả đều khởi nguyên từ Chúa Jesus.

 

Đấng Kitô Qua Lời Tuyên Xưng Của Tông Đồ Phêrô

‘Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống’

“ Tu es Christus, Filius Dei vivi ”Mt. 16,15

Đọc kỹ Phúc-Âm Thánh Mathêô, chúng ta thấy tác gỉa đặc biệt chú trọng vào biến cố thời điểm của Nước Chúa, với sự chú tâm quan trọng nầy, Biến-Cố Jésus” được coi như cao điểm của Phúc-Âm, đặc biệt là những đoạn Mt.16,13-21): Ông Simon Phêrô tuyên xưng Đức Jésus là Đáng Kitô Thiên Sai của của Thiên Chúa. Lời Chúa Kitô xác nhận về khởi nguyên, thân phận và sứ mạng của Ngài nơi dương thế, đồng thời Ngài cũng vén màn địa vị, vai trò nhân chứng của Phêrô trong tương lai :

‘Venit autem Iesus in partes Caesareae Philippi et interrogabat discipulos suos dicens: “ Quem dicunt homines esse Filium hominis?”.
At illi dixerunt: “ Alii Ioannem Baptistam, alii autem Eliam, alii vero Ieremiam, aut unum ex prophetis ”.
Dicit illis: “ Vos autem quem me esse dicitis? ”.
Respondens Simon Petrus dixit: “ Tu es Christus, Filius Dei vivi ”.
Respondens autem Iesus dixit ei: “ Beatus es, Simon Bariona, quia caro et sanguis non revelavit tibi sed Pater meus, qui in caelis est.
Et ego dico tibi: Tu es Petrus, et super hanc petram aedificabo Ecclesiam meam; et portae inferi non praevalebunt adversum eam.
Tibi dabo claves regni caelorum; et quodcumque ligaveris super terram, erit ligatum in caelis, et quodcumque solveris super terram, erit solutum in caelis ”.
Tunc praecepit discipulis, ut nemini dicerent quia ipse esset Christus.
Exinde coepit Iesus ostendere discipulis suis quia oporteret eum ire Hierosolymam et multa pati a senioribus et principibus sacerdotum et scribis et occidi et tertia die resurgere
. (Mt.16, 13-18)

Chương 22 tới 25, với dụ ngôn về tiệc cưới. những tranh luận giữa Chúa Jésus và nhóm Pharisieu, và nhiều dụ ngôn khác nói về Vương Quốc Thiên Chúa; Nơi các chương 26, 27 nói về mưu phản và việc xử tội, đóng đanh, chương 28 đề cập đến sự kiện động đất (chúng ta liên tưởng đến thánh vịnh 99, 1, coi việc động đất đồng nghĩa với việc Thiên Chúa lên ngôi cai trị, làm cho trái đất rung chuyển), rồi đến một tin Chúa Phục Sinh sống lại làm chấn động dư luận gần xa, và sau cùng là việc các môn đệ trung thành đi rao giảng tin mầng..

Nhưng trên hết, chính lời tuyên xưng của ông Simon Phêrrô mới lả cao điẻm của Phúc Âm Mathêô, bỏi vì lời tuyên xưng nầy đánh đúng trọng điểm của tâm lý quần chúng Do-Thái, bằng một hình thức thu tóm gọn gàng, lời tuyên xưng của Phêrô nói lên hết những gì mà Mathêô muốn nói vói toàn dân Do-Thái về biến cố mà họ đã chờ đợi từ bao thế kỷ, đó là Thời điểm của lảnh vực Siêu Việt mà Jésus đóng một vai trò quan trọng.

Một khi sự nhận biết nầy đã hoàn tất, Jésus có thể bị tố cáo và bị dẫn đến án tử, một khi mà tri thức về quyền lực thần linh của Nước Chúa chiếm ngự trong lòng ta, tri thức đó không bao giờ bị mai một, tự nó có sức mạnh trường tồn, có khi không cần đến sự hiên diện thể lý của Đấng tạo nên tri thức đó. Như đã nói trên, với Mathêô, biến có Nước Chúa quan trọng hơn là nhân vật tạo nên biến cố.

Trên đây, chúng ta dài dòng về Biến Cố Nước Chúa, Luật-Lệ Thần Linh(The Rule Divine)lý do của sự bàn thảo dài dòng trên là chuẩn bị tâm trí chúng ta đi vào ý nghĩa và chiều sâu của Sứ-Điệp Tám-Mối Phúc Thật, tạm dịch là Bát-Phúc, được Thánh sử Mathêô kể bặt đầu chương thứ Năm(5) và trải rộng suốt chương thứ Bảy(7), coi như cột trụ của Phúc „m Mathêô. Nộu đaọc Bát-Phúc một cách thoáng qua thôi, chúng ta có cảm giác như là một thứ luân lý đạo đức , một thứ lý tưởng sống. Thực ra, Bát-Phúc không phải là mộ-t loại luân lý , đạo đức hiểu như kiểu luân lý của Khổng Mạnh, hay những triết lý, học thuyết đạo đức của các bậc hiền gỉa trên giòng tư tưởng triết sử, các thư châm ngôn ngạn ngữ thêm chất liệu khôn ngoan cho cuộc sống con người, những bài học chứa đựng trong “Bát-Phúc” qủa thực là cốt-lũy nội tại đồng thời là những huấn lệnh khởi nguyên từ những Giới-Răn căn bản của Thiên Chúa truyền dạy cho con người,. Tóm lại, đó là bản chất của Lề-Luật Thần-Linh(God’s Rule). Những gì phát nguyên từ Bát-Phúc, những gì có liên hệ tới sự chính trực, những gì nối kết con người với Nước ‘thiên Chúa, tất cả đều khởi nguyên từ

 

Nhân Chứng Chúa Kitô, Hiện Thân của Tình Thương

Trong số những câu chuyện về các bác sỉ nổi tiếng, chúng ta không quên bác sĩ Doley, bạn yêu dấu của Người Lào và NgườiViệt nam, một bác sĩ chọn cuộc sống n3i đềo hiu hút gío với nhữngngườinghèo bệnh tật của miềm dông Dương...Lý do khiến bác sĩ Doley hy sinh cuộc sống giàu sanbg tiện ngh chính là vì �ng đã gặp Chúa Kitô, ông là hier20n thjân của lời Chúa Phán:”Không có tìnhnào cao quí hơn là hy sinh mạng sống vì bạn hữu Bỵc sĩ doley đã chọn nhữngngười nghèo khó bệnhtật của Dông Dương làm bạn ông gọi họ là bạn, bởi vì họ là bạn của ? Chúa Kitô...Cũng như bác sĩ doley, trong lịch sử công tác truyền giáo của các hội thành Kitô giáo đã cò hàng hàng lớp lớp những vị bác sĩ, y tá, giáo sĩ, giáo sư, sau khi gặp Chúa Kitô, bỏ cuộc sống giàu sang an bình tại thành phố văn minh, tình nguyện tham gia việc truyền giáo bên các xứ nghèo đói bên rừng Phi Châu, họ là nhữngnhân chứng sống động cho biến cố Nước Trời, cho sức mạnh của Tình Yêu Chúa Kitô đến trong thế gian với biến cố “Thiên Chúa thực sự lên ngôi trong giòng lịch sử nhân loại.

Ông Thomas Chalmers, một nhà giảng thuyết thời danh của xứ Scôttít, có một bài thuyết giảng trứ danh vễ cái mà ông gọi là” The Expulllsive Power of Great Affection” (quyền lực thúc đẩy của lòng cảm mến” nghĩa là khi người ta gặp đôợc Chua Kitô rồi, những ham mê ước muốn cũ sẽ bị xua đẩy ra xa người ta bị lôi cuốn vào một cuộc sống mới, với một mức độ luân lý đạo đức cao hơn... Không còn là cách thế nhắc bảo chỉ vẽ phải sống như thế nầy hay thế kia, nhưng vì lòng cảm mến thúc đảy,người ta hướng tất cả cuộc sống qui về Thiên Chúa, như bông hoa hướng dương tự xayvề hướng mặt trời, người được Tình-Yêu của Chúa Kitô thúc bách, sẽ qui hướng toàn thể cuộc sống của mình, toàn vẹn sự hiện hữu của mình theo hướng của Thiên Chúa, theo sự thúc đảy của Tình-Yêu Nước Trời”. Một khi tìm gặp được Chúa rồi, đạI bàn nội tâm chúng ta không còn nhầm lẩn về đối tượng của nó nữa, nghĩa là những thứ giá trị, ngững thứ tư hữu mà con người trần tụx ham thích gắn bó, những ai tìm gặp Chúa Kitô rồi, bắt đầu sống thực sự đời sống con cái của Cha Trên Trời, không còn so đo , không ắy náy, không thổn thức lo âu vì những quyến rủ của trần thế. Hiểu như thế, Bát-Phúc, không còn phải là những điều kiện đòi hỏi cho một thứ lý tưởng cao xa, một thứ điều kiện đặt ra cho mọt thứ luân lý siêu quần bạt chúng. Bát-Phúc cũng chẳng phải là những mơ ước hảo huyền hay những phạm trù tư tưởng, những đòi hỏi bắt buộc đặt ra cho công dân trong một “vương quốc ảo-tưởng” theo kiểu “nhà nước ”của Platon, “, trái lại, Bát-Phúc, là những lời tuyên dương về một thực trạng đã sống, lới xác nhận vcề những sự kiện sống thực của công dân “Nước Trời”. Chúa Kitô không nói nếu các ngươi muốn được hạnh phúc, phải có những điều kiện nầy....Nhưng Ngài tuyên dương công trạng, khen ngợi những tâm hồn đã sống được như thế,n nên Ngài đã tuyên bố, đã kêu lớn lên ;” Hạnh phúc biết bao cho chúng con là những kể thực sự...” Bát-Phúc vì thế cần được hiểu trong tinh thần tuyên dương, xác nhận về thực trạng sống thực của người con cái Chúa Kitô, những người được Tình Yêu mãnh liệt của Nước Tròi thúc bách, đã sống như nhửng con cái của Thiên Chúa.

Tóm lại, Chúa Kitô không áp đạt hạnh phúc trên các môn đệ, nhưng Ngài nói lên cho họ biết, họ được chúc phúc biết bao vì muốn theo Ngài, và như thế, là một phần của “Nước Trời” mà Ngài đã đến để thiết lập trên trái đất.Như thế, “Bát-Phúc” không phải là một vật sở hữu mà chúng ta đòi chiếm do sức riêng, hay công nghiệp của chính mình, nhưng là một qùa tặng do Thiên Chúa gửi cho những ai đến mở “gói quà tặng”đó.

 

Gặp Cỡ Đức Kitô Làm Thay Đổi Cuộc Đời

Nói đến hiện trạng”Gặp Cỡ Đức Kitô Làm Thay Đổi Cuộc Đời”, giúp tôi nhớ đến câu chuyện của một chàng thanh niên có tên gọi là Danos, ở Nam Mỹ. Anh dấn thân vào công viện buôn bán ma-túy đã nhiêù năm, nay được coi như một tay khét tiếng về tổ chức các đường giây ma túy gộc trong các thánh phố lớn tại Bắc Mỹ. Mới có 22 tuổi đời, mà anh đã biến thánh triệu phú, anh ta chiếm hữu bất cứ những gì mà con gười trong xã hội loài ngườimơ ước: có nhà sang trọng và đồ sộ nhát trong ngoại ô giầu sang, rồi đến nào xe, nào tàu thuỷ, nào nông trạo nghĩ mát, ngoài ra còn các sòng bài bạc, các hộp đêm ăn chơi và đánh bạc dànhcho các tay anh chị. So với quá khứ, anh ta như người trên may rơi xuống: từ một qúa khứ nghè đói, r6c rưới, ngu dốt, bị khinh miệt, sống không ngày mai, anh chẳng có gì, chẳng là ai, sống trong một điều kiện tuyệt vọng, ngay cả một đôi dép rẽ tiền để lê gót trêen đường tìm miếng ăn cũng chẳng có. Nói tóm lại, qúa khứ của Danos là con số không tuyệt đối. Rồi một cơ may, anh trốn qua Mỹ được, bắt đầu lang thang làm thuê kiếm sống qua ngày, mấy năm sau anh tìm lại được người bạn củ làm nghề bán ma túy, anh đi vào nghề nhanh chóng, sau khi giết bạn, anh trở nên chủ nhân ông.. và từ đó anh trở nên giàu có: nhà, xe, quần áo, gái, các thú vui .tiền bạc, ăn chơi thỏa thích....không ai sánh kịp...

Rồi một đêm bảo tố đến bất ngờ, các băng đảng ma-túy thanh toán lẩn nhau, Danos bị băng người bạn củ tìm đến hỏi tội Danos bị bắn ba phát vào người, nhưng không rúng tim, ....cả mấy tuần Danos nằm bất tỉnh trọng bệnh viện, không bạn bè thân quyến, không ai đến nhìn nhận anh,vì sợ bị liên lụy. nhưng có một chú bé đánh dày nghèo khó trong khu vực, thỉnh thoảng được Danos quảng cho vài chục bạc vì công đánh dày cho anh, chú bé tên Johnny nghe tin Dans bị bắn , nó rình mò xem xét hoàn cảnh... lén lút đến thăm và săn sóc cho Đanos. Khi Danos có thể rời nhà thương, thì chính chú be Johny đem Danos về tiếp tục săn sóc tại căn gác nhỏ bé nghèo nàn của mình! Danos rất đỗi ngạc nhiên về thái độ tốt lành của chú bé John, khi tất cả bạn bè và những người quen biết không ai dám đếnthăm Danos vì sợ liên lụy, thì chú bé nầy lại hết sức tử tế với mình một các không thêể tưởng, còn hơn anh em ruột thịt, Danos muốn tìm cách đền trả công săn sóc của Johny, nhưng chú bé giải thích cho Danos biết vì mình là người theo đạo Chúa,đó là cách thức người con Chúa đối xử với nhau, Johnny từ chối không nhận tiền công mà Danos trả cho chú. Danos rất cảm động không cầm nổi nước mắt. ít lâu sau khi bình phục, trước khi giã từ chú bé Johny, Danos nhờ Johny đem đến gặp vị linh mục giúp cho mình theo đạo Chúa. Ngày mà Danos chịu phép Thánh Tẩy gia nhập đạo Chúa, chú bé Johny trở nên người anh em đỡ đầu cho Danos, hai người trở nên đôi bạn nghĩa thiết, Danos biết đọc kinh thánh mỗi ngày, và anh nhất quyết làm lại cuộc đời...Khi đọc Kinh Thánh , đến đoạn...bỏ hết mọi sự vì Chúa Kitô...anh suy nghĩ cả mấy ngày liền, tự hỏi mình có thể làm được đều đó không: tức là từ bỏ đời sống trong tội lỗi của mảnh đời con buôn ma-túy..mà tử gĩa con đường làm giàu nhanh chóng, anh phải trở về cuôc sống nghèo nào lam lũ, không biết mình có đủ can đảm hay không. Cuối cùng Danos quyết định dứt khoát trở về cuộc đời nghèo mà lương thiện..Anh suy nghĩ theo Kinh Thánh”Nếu Chúa Kitô muốn tôi sống như thế, tôi quyết sống theo sự hướng dẫn của Ngài. Danos đả trở về cuộc sống nghèo như các bạn anh đến từ từ Nam Mỹ.Sau nầy Danos nổi tiếng là một người tốt trong khu vực, anh tham gia rất nhiều công tác xã hội giúp đỡ đồng hương và các người nghèo đói bất hạnh, có lần , trong một cuộc hỏa hoạn lớn, anh liều mình cứu với một thiếu phụ và đứa con thơ bị kẹt lại trên cao ốc, Danos được thành phố tuyên dương là anh hùng...Trong một cuộc phỏng vấn với đài truyền hình,phóng viên hỏi anh nhiều câu có liên hệ đến nhửng ngày sống giàu sang trong qúa khứ gần đây, khgi được hỏi anh có tiếc nhớ những gì anh chiếm hữu khi còn nhiều thứ như nhà cao cửa rộng, xe lộng lẫy và các thứ khác, Danos trả lời rất nhanh mà không cần suy nghĩ đắn đo là anh không tiếc nhớ những thứ đó chút nào cả, vì bây giờ anh đã có một cuộc sống hạnh phúc hơn, an bình hơn và sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn..”Khi Chúa Kiô đã đi vào đời của bạn,thực sự có hiện hữu trong cuộc sống của bạn, Ngài sẽ lấp đầy trái tim bạn với biết bao yêu thương và niềm vui cao cả, bạn không còn luyến tiếc điều gì nữa, bạn không còn tiếc xót bất cứ cái gì nữa, bơi chưng Ngài đã thay đổi nhãn quan ý hướng của đời bạn”.

Những người sau khi gặp được Đức Kitô, đã thay dổi hoàn tòa cuộc đời như câu chuyện của anh Danos trên đây, được lặp đi lặp lại trong kinh nghiệm mục vụ của đời tôi, tuy tình tiết, khung cảnh không gian thời gian có khác nhau, nhưng nội dung tương tự nhau: Khi găp được Ngài rồi, khi được Ngài cảm hóa lòng ta rồi, có một sự thay đổi lạ lùng trong linh hồn và trong đời sống. Hãy trở lại lật trang Phúc-Âm thứ Tư của Thánh Gioan, trưòng hợp “Người phụ nữ bên bờ giếng Gia cóp”.( John Từ câu chuyện Chúa xin người thiếu phụ nước uống,đến việc Ngài mở cử linh hồn để bà ta xin Ngài ban cho nước trường sinh, giòng nước không bao giờ cạn, nguồn ân sủng không bao giờ hao mòn, sau cùngbà ta về kêu dânlàng ra chứng kiến “Một Vị Tiên Tri Lớn, Đấng đã cho biết mọi việc sẽ xảy ra...người thiếu phụ thay đổi cả một nếp sống, tưừ người đàn bà biển lận gian trá trong cuộc sống bưng biết trong bóng tối, nay trở nên người biết nhìn nhận ra ánh sáng cứu rỗi, tư kiếp sống bằng lòng với những thú vui trần lụy tội lổi,nay trở nên tông đồ đi loan báo tin mầng của Đấng Cứu Thế đến giữa trần gian..

Những câu chuyện người ta thay đổi lạ lùng, sau khi gặp được Chúa Kitô, còn tiếp tục xẩy ra trong mọi thời đại, trong nhiều cảnh ngộ khác nhau, thời đại chúng ta, chúng ta rất thân quen với những trưòng hợp các vị bác sĩ , các y tá, các nhà doanh thương, các người có thế lực, đã bỏ cuộc sống tiện nghi an nhàn vật chất, để đi phục vụ người nghèo khổ và chính họ cũng chấp nhận sống nghèo để giúp những người nghèo, những ai thiếu may mắn trong đời.

 

  Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D

 

 Mời đọc

1 2

 


Xem các bài viết khác trong Rev. Nguyễn Quốc Hải, Khoá 7 GHHV Đà Lạt Việt Nam.