MƯỜI
10. MỘT VIỄN TƯỢNG MỊT MỜ
Biến cố đổi đời năm 1975 đă đến bất ngờ, tạo cảnh đất bằng nổi sóng, gây thêm nhiều khổ đau bởi mất mát và chia xa, cũng như ghi sâu hơn nét sầu buồn cho dân tộc tôi vốn đă nhiều năm đau khổ.
Trời không che nghiêng cho ai, đất không chở một ḿnh ai, cũng như hai vừng nhật nguyệt không soi sáng riêng kẻ nào, nên người ta vẫn bảo đất trời vô tư. Nhưng lúc này trời đất cũng trở thành vô t́nh nữa. Người dân nước tôi đă hơn ba mươi năm chiến tranh xâu xé dằn vặt, giờ đây lại một phen náo loạn tơi bời, để rồi kết thúc bằng một cuộc đầu hàng với tất cả cay đắng nhục nhằn. Bạo lực và bất công lại đè nặng trên đầu trên cổ, mà lần này được gói trong lớp giấy mầu lộng lẫy có tên ‘hoà b́nh’ đầy hấp dẫn. Chế độ vô thần và vô sản, từ lâu vẫn được coi như con quái vật của thế kỷ, đă ngang nhiên ngự trị trên toàn lănh thổ thân yêu nước Việt.
Cuối tháng ba, Đà Lạt di tản. Tôi cùng với hầu hết giáo dân theo chân đoàn quân rút lui về thủ đô qua ngả Phan Rang. Cực nhọc vất vả lắm nhưng rồi cũng đặt chân được tới Sài G̣n. Dẫu vô cùng hoang mang chán nản, nhưng trong đầu vẫn nhen nhúm chút hy vọng rằng nếu không thể tái chiếm những phần đất đă bỏ lại sau lưng th́ miền Nam vẫn duy tŕ được một vùng lănh thổ để sống c̣n và phát triển mai sau.
Nhưng rồi chưa đầy một tháng, mọi ước mơ lớn nhỏ đều biến tan. Đoàn quân chiếm đóng đă bất thần rầm rộ kéo vào giữa ḷng phố đô thành để chính thức đổi thay màu cờ đất nước. Một số vội vă t́m đường thoát thân ra nước ngoài. Một số gấp rút lo hồi hương t́m lại mảnh vườn sinh sống. Nhưng tất cả đều không giấu nổi nét buồn đau tuyệt vọng. Cơ hồ không c̣n mất mát nào khác có thể là to lớn, chua cay hơn. Người dân khóc không ra lời và rồi chỉ c̣n biết làm theo thúc đẩy của bản năng sinh tồn, giữa hốt hoảng và âu lo tột độ.
Riêng phần tôi th́ không cả có thời giờ để nhận diện và phân tích nỗi sầu toả giăng và ôm kín trong hồn. Dập dồn biến cố cùng nặng trĩu ưu tư đă quật ngă tôi để phải vội vô bệnh viện St. Paul nằm điều trị. Hai tuần lễ giành giật mạng sống với tử thần khiến thân thể xác xơ và đầu óc như thẫn thờ ngây dại. May mà thần kinh chưa bị…chạm giây để bất hạnh phải t́m về Biên Hoà hay Chợ Quán. Cũng hên v́ nhà thương c̣n có đủ thuốc thang và y sĩ tốt. Rồi may hơn nữa là tôi kiếm được ngay một họ đạo ở vùng ngoại ô để làm việc, sau khi được biết chính quyền mới không cho về lại cao nguyên và bề trên đă biên thư đề nghị tôi cứ ở lại Sài G̣n.
Họ đạo này thuộc miệt Bảy Hiền, Phú Thọ, giáo dân thật đông mà chỉ có vỏn vẹn một cha sở già. Cũng phúc đức mà ban công an địa phương không mấy khó khăn khi tạm chấp nhận tên tôi trong ‘hộ khẩu’ nhà xứ. Thế là sau khi được đức Tổng Giám Mục Sài G̣n gật đầu, tôi đă nghiễm nhiên trở thành Linh Mục tân phó xứ, để lại nối tiếp khúc đường phục vụ bây giờ chắc sẽ lắm gai chông sỏi đá hơn nhiều.
Phải mất cả tháng trời tôi mới phần nào lấy lại được sức khoẻ và b́nh tĩnh. Ở những ngày đầu, không đêm nào tôi chẳng thấy giấc ngủ dệt đầy ác mộng. Cơ hồ tôi như chết sống lại và đang sinh hoạt ở một thế giới khác: cuộc đổi đ̣i cùng cơn bạo bệnh đă hầu như biến thay và tôi luyện để tâm tư ḿnh thành ra khác hoàn toàn. Bảo là già dặn hơn hay khô khan hơn? Có lẽ cả hai đều không sai cho lắm.
Từ sâu thẳm cơi ḷng, tôi sớm chiều nghe vang một điệp khúc buồn vô hạn: cái ǵ kinh hoàng nhất và điều chi ghê sợ nhất bây giờ đang thực sự vây bọc đời ḿnh. Chủ nghĩa Cộng Sản vẫn là đối tượng của đấu tranh đối kháng và được coi là địch thủ tệ hại hàng đầu của tôn giáo giờ đây là chủ nghĩa lănh đạo của dân tộc ḿnh!
Mà đâu phải chỉ cần can đảm để đứng vững cho một ḿnh ḿnh. Linh Mục phải kiên trung mạnh bạo gấp đôi gấp ba b́nh thường để c̣n giữ vững được người khác, để kéo lôi, để thôi thúc giáo dân làm tṛn sứ mạng đức tin. Từ đây mới là khởi đầu của những hạn chế, những khủng bố và những đe doạ. Linh Mục có thể thành khiếp đảm để rồi ù ĺ như những ‘ông b́nh vôi’ được nhà văn Phan Khôi kể trong Giai Phẩm Mùa Thu ngoài Bắc trước đây.
Giáo dân tuốn đến nhà thờ để kể lể nỗi niềm, để nài xin ơn phúc. Nhưng Linh Mục phải hướng dẫn niềm tin của họ lên cao hơn nữa, không chỉ là ‘cấp thời băo Phật cước’, không chỉ khi thấy khổ thấy sợ mới chạy đến ôm chân Chúa Bà. Linh Mục phải biết chỉ vẽ cho họ hiểu đường lối thần thiêng nhiệm mầu và ư nghĩa sâu xa của gian nan thử thách.
Làm sao để khích lệ người khác chớ nản ḷng thối chí? Làm sao để ủi an những phần tử bởi quá thất vọng hoặc tự ái gàn dở mà theo chân Bá Di, Thúc Tề ngày xưa nhịn đói chịu chết? Lời thơ Tản Đà như lởn vởn trong đầu:
Ai khuyên con cuốc nó đừng kêu.
Xuân đă qua rồi cứ gọi theo…
Và rồi:
Đen đủi chẳng nên năn nỉ phận.
Mặc cơn mây sớm, hạt mưa chiều!
Phải rồi, có thể mùa xuân huy hoàng của đất nước đă qua. Hiện tại và tương lai cơ hồ đen đủi khôn lường. Nhưng cuộc vận hội trên vũ trụ trần gian dẫu sao cũng cần phải được nh́n ngó bằng cặp mắt đức tin. Ḿnh phải cho giáo dân nhận ra bàn tay nhiệm lạ của đấng hoá công quan pḥng, để họ biết chấp nhận mà an vui.
Nhà thờ đấy, kinh kệ và lễ lậy đấy, rồi cả những cố gắng khuyên nhủ sớt chia nữa đấy. Tất cả có phần nào xoa dịu được tâm hồn chán chường của người dân khi thấy thiếu thốn tự do, khi gặp cái ư thức hệ vô thần thô bạo, hoặc khi nhận ra nhân phẩm bị khinh miệt, hạn chế. Nhưng nơi cuộc sống hàng ngày, Linh Mục làm sao tạo được niềm vui thật, gây được nụ cười không gượng gạo cho giáo dân giữa lúc họ vất vả chạy lo từng bữa gạo mà vẫn thiếu, vẫn đói! B́nh tĩnh sao được khi thường xuyên chứng kiến cảnh từng gia đ́nh phải rời xứ đạo đi vùng kinh tế mới mưu sinh, hay khuân bàn ghế giường chiếu đem ra chợ trời bán mong có chút tiền sống cầm hơi!
Cái cảm nghĩ vô phương, bất lực trước nỗi sầu đau của giáo dân đă nhiều lần khiến tôi không tṛn giấc ngủ. Nó như một phản ứng tự nhiên không sao chống cưỡng. Ngày cũng như đêm, nó măi ray rứt cào cấu. Tôi chưa có cái đức độ từ ái cao thâm để thấu nổi niềm đau của những vị thánh nhân khi đứng trước điều bất hạnh của tha nhân. Tôi cũng chẳng có khả năng để làm được những ǵ đáng làm mà giúp đỡ họ như họ ao ước. Ngay cả những lời ủi an cho hữu hiệu, tôi như cũng không biết làm sao để nói ra. Nhưng cơ hồ lần đầu tiên trong đời tôi đă chứng nghiệm đến cao độ cái tâm tư nung nấu của chuyện cảm thông và chia sẻ, không phải chỉ bằng t́nh người mông lung, nhưng với cả con tim, cả tấm ḷng như của những người thiết thân gần gũi nhất. Tựa gia đ́nh. Tựa anh chị em.
Giáo dân đói khổ về vật chất. Dĩ nhiên tôi cũng đi vào cái lối sống khắt khe giới hạn, dẫu là muốn hay không. Nhưng lo khổ, lo đói chỉ như ở cái ṿng ngoài của niềm đau nơi trí nơi ḷng. Măi tận đáy sâu tâm tư, tôi mường tượng ra cái cảnh ‘đêm dài một đời’ của những bắt bớ, tra tấn và đày ải. Tôn giáo vẫn là gai trước mắt nhà cầm quyền. Các Linh Mục càng là những chiếc gai to lớn cần phải được nhổ bỏ . Đó đây, người ta t́m cách rỉ tai rằng chúng tôi là những kẻ thù của dân tộc, gieo mê tín dị đoan; bởi tôn giáo, nhất là Công giáo vẫn được mô tả như thuốc phiện mê dân. Linh Mục thường được gắn liền với những thành phần chống đối, cứng đầu; lại nhiều vị được gán ghép là cộng tác với đế quốc, với tư bản, với CIA… Lần lượt tôi được nghe những màn chụp mũ, được chứng kiến những pha dàn cảnh này nọ để công an có lư do đến bắt Linh Mục mang đi.
Người ta đóng cửa các chủng viện và trường đạo một cách tinh vị. Người ta hạn chế và làm khó dễ các sinh hoạt tôn giáo thật tài t́nh. Linh Mục tu sĩ nào hầu như cũng bị đặc biệt theo dơi, canh chừng. Bầu khí đêm ngày căng thẳng giăng mắc. Làm đầu óc nào rồi cũng phải chùng xuống. Làm kiên gan nào rồi cũng giảm sút, nhạt mờ.
Tôi biết ḿnh c̣n trẻ, c̣n chút niềm tin, nhưng chả dám chắc niềm tin sẽ vững được đến ngày nào. Ở đây trẻ có nghĩa là c̣n dài năm tháng đối diện với thử thách chông gai. Trẻ nghĩa là trách nhiệm mỗi ngày mỗi chất nặng trên vai trên cổ. Và trẻ cũng có nghĩa là được nhà nước lưu ư chĩa mũi dùi vào đặc biệt hơn.
Nghĩ tới một số người, nghe nói có nhiều Linh Mục nữa, đă bỏ nước ra đi giữa cái thời điểm hổn độn kinh hoàng của tháng tư ‘đen’ ngày trước, và đôi lúc thấy t́nh h́nh căng thẳng khác thường tại địa phương giáo xứ hoặc có tin đồn tôi sẽ bị trả về vùng cao nguyên để ‘chăn gà’, tôi cũng mơ hồ phảng phất cái tư tưởng t́m đường lánh nạn. Tuy nhiên, lúc này chỉ c̣n biết phó thác cho Chúa quan pḥng để Ngài định liệu. Mọi biến cố đổi thay giờ đây chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Đă đành một bước thành công của tôi tại nhà thờ này là một khó chịu, một gai mắt của ‘người ta’, nhưng đâu c̣n có đó, ai cũng có phần số của ḿnh chứ!
Tin tức thỉnh thoảng được chuyền tai về chuyện những anh em đồng nghiệp đang bị cầm tù, cải tạo, mà phân nửa là những cựu tuyên uư trong quân đội ngày trước. Mà cứ vài tuần một tháng lại có tin cha này cha kia bị mời đi. Ở những lần tĩnh tâm Linh Mục địa hạt (may mắn mà vùng Sài G̣n c̣n dễ dăi được gặp nhau), chúng tôi thường chia sẻ những kinh nghiệm nho nhỏ để biết cách xử sự đối phó, nhất là khích lệ nhau can đảm và sẵn sàng vác thánh giá v́ sứ mệnh siêu nhiên.
Vụ án Vinh Sơn như một phát súng bắn vào hàng ngũ Công giáo. Vừa như một dằn mặt, mà cũng vừa như một thăm ḍ. Biết rơ nội vụ chỉ là được dàn cảnh và nguỵ tạo, nhưng chẳng ai có thể lên tiếng phản kháng. Dựa vào đâu, cậy vào ai mà phản với kháng đây! Toà án là của chính quyền. Luật sư là con số không ở một nước xă hội chủ nghĩa. Thế là từ trên xuống dưới đành ngậm quả bồ ḥn lặng thinh. Để rồi, như thừa thắng xông lên, nhà nước liên tục tiến hành những đợt thanh trừng bắt bớ khác, hầu như không gặp một trở ngại công khai nào.
Tại Việt Nam, người ta không thấy có cuộc tắm máu tập thể như ở Cao Miên sau khi Cộng sản cướp chính quyền, nhưng thà là giết chết cho xong một lần, có lẽ c̣n thấy thoải mái hơn chuyện tháng năm chịu hành hạ đoạ đày, cả vật chất lẫn tinh thần, cả cá nhân lẫn tập thể.
Tương lai đen tối như thế. Đường trước mặt chông gai như thế. Dễ mấy ai giữ được niềm lạc quan phấn khởi ban đầu! MỘT VIỄN TƯỢNG MỊT MỜ phủ che mỗi sinh hoạt của từng ngày sống. Mẫu gương hào hùng về cuộc hiến thân thụ nạn của Chúa Ky Tô hai ngàn năm trước như khơi động lại trong tôi cái can đảm ôm ấp cho đời. Môn đệ là phải nối gót thày. Hạt giống cần phải chết đi, mục nát đi, để có thể mọc thành cây lúa xanh tươi.
Những lần học hỏi tu đức với các hội đoàn hay những bài giảng trong thánh lễ vừa là để chia sẻ với giáo dân, nhưng cũng là để nhắc nhở cho chính ḿnh về hướng đường phải đi, về tâm tư phải sống.
May mắn là tôi có một vài Linh Mục bạn, thân thiết đủ để có thể nói cho nhau nghe hết tâm sự ḷng ḿnh. T́nh bạn chân thành đă vô h́nh giúp tôi vững tâm hơn ở những phút giây hoang mang chán nản nhất. Đặc biệt là một Linh Mục cùng lớp làm việc bên Vĩnh Hội, tôi coi như và có lẽ thực sự hơn cả anh em ruột thịt. Đă có đôi lúc tôi thấy cả hai đă hiểu nhau chẳng khác chi Bá Nha với Tử Kỳ thời xưa, nếu không dám ví như Thúc Nha với Quản Trọng. Đôi khi trộm nghĩ nếu có ngày rủi ro bị bắt, chúng tôi cũng ước mong được vào tù một lượt với nhau!
Tôi viết những gịng này giữa một giai đoạn gay go nặng nề và cũng có thể tăm tối nhất đời tôi. Tôi ước mong rồi sẽ không phải tối tăm hơn, v́ biết ḿnh luôn là yếu đuối, không dám khấn nguyện được thêm nhiều thánh giá mà cũng chẳng dám t́nh nguyện chịu thêm đau khổ. Tiên hậu, tôi chỉ biết vui nhận những hy sinh Thiên Chúa muốn gửi đến qua những biến cố và thăng trầm của cuộc đời. Mơ ước sẽ chẳng nản ḷng bỏ cuộc. Ước mơ sẽ không một lần than thân trách phận để rồi hối tiếc những chọn lựa đă qua. Chẳng dám làm gương sáng cho ai. Không nghĩ ḿnh sẽ là anh hùng thời thế. Nhưng với ơn thiêng từ trên, tôi hy vọng ḿnh sẽ đứng vững và chu toàn được sứ mệnh.
Ơn gọi Linh Mục như một tặng phẩm cao quư. Thật khó khăn và gịn mỏng, nhưng cũng thật giá trị và ư nghĩa. Biết ḿnh hiến dâng cuộc đời không phải là cho ḿnh, cho phần rỗi cá nhân hay cho một hạnh phúc đơn lẻ, tôi tin tưởng rồi mai sẽ không bao giờ phải ân hận.
Mỗi sớm mai khi thức dậy cũng như mỗi canh khuya trở giấc, tôi luôn mường tượng có bàn tay vô h́nh đang ủ ấp vỗ về. Đêm ngày nghe như vang trong hồn lời hát dặt d́u của nhạc sĩ Kim Long trong ngày thụ phong mấy năm về trước:
Và từ đây chúng con bền nghĩa ân t́nh,
măc sóng gió phù sinh vẫn trung kiên niềm tin.
Sài G̣n, cuối thu 75
Tác giả Đường Phượng Bay